Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
18 Aug.2015

Mặt trái vốn vay ODA Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Tin tức nóng   
  Lớn | Vừa | Nhỏ
Mặt trái vốn vay ODA

TRANG THANH THÙY

Sự việc Đà Nẵng vừa qua dám thẳng thắn từ chối vốn vay ODA của Nhật Bản với dự án mở rộng cảng Tiên Sa mà không sợ đối mặt với những khó khăn trong việc tự huy động vốn đầu tư đã cho thấy rõ hơn những sự thật đáng cân nhắc về nguồn vốn vay ODA đối với dự án xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam. Không nghi ngờ gì, nền kinh tế của Việt Nam vẫn còn nghèo, và vì vậy nguồn vốn ODA là rất cần thiết, nhất là đối với cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Năm 2014, Ngân hàng thế giới khẳng định Việt Nam vẫn phải cần tới 150 tỉ USD để phát triển hạ tầng cơ sở. Do đó, nếu không có nguồn vốn ODA, Việt Nam sẽ thiếu vốn để giải quyết những nhu cầu cấp bách của nền kinh tế. Song sự thật đằng sau các nguồn vốn vay ODA này có thật sự là một món vay hời với lãi suất rẻ như chúng ta thường nghĩ?

ODA theo quy định của liên hợp quốc hiện bao gồm viện trợ không hoàn lại là 25%, còn 75% là cho vay. Lợi thế khi vay nguồn viện trợ ODA là nguồn vốn khá lớn, điều kiện vay thuận lợi, lãi xuất thấp. ODA là nguồn vốn rất quan trọng đối với các nước đang phát triển.

Tuy nhiên, có một nguyên tắc mà ai cũng cần biết, vốn ODA, luôn là một khoản vay mà chúng ta sẽ phải trả lại trong tương lai, và kèm theo điều kiện cho vay là rất nhiều những ràng buộc và điều khoản có lợi cho các nhà thầu đến từ nước cung cấp ODA. Vì thế, cái giá phải trả cho nguồn vốn ODA không phải lúc nào cũng rẻ, và phải chăng, đã tới lúc các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp Việt Nam làm ăn đứng đắn cần có một cái nhìn thẳng thắn hơn về một tương lai lâu dài của vốn vay ODA?

Thứ nhất, phần lớn giá trị các công trình ODA, mà thực chất là đồng tiền của chính mình đi vay để trả thực hiện dự án sẽ rơi vào tay các nhà thầu của quốc gia cho vay. Đặc biệt đối với các khoản vay của Nhật Bản, sẽ luôn là doanh nghiệp Nhật Bản chịu trách nhiệm dự án. Nhà thầu phụ trong nước chỉ được thuê thực hiện các hạng mục nhỏ với giá rẻ.  Người đi vay bị ràng buộc phải sử dụng công nghệ, máy móc, thiết bị của chủ nợ, cộng thêm những điều kiện khác như phải miễn thuế nhập khẩu hàng hóa, hoặc phải nhận một phần vốn vay ở dạng hiện vật.

Thứ hai, phía đi vay là chúng ta phải chịu rủi ro của biến động tỷ giá, mà hiện nay hai ngoại tệ chính chúng ta đang mắc nợ là đồng USD và đồng Yen nhật, hai loại ngoại tệ mạnh mà khả năng dao động khá cao so với đồng Việt Nam. Nếu đồng USD hoặc đồng Yen lên giá với với vietnamdong, chúng ta sẽ chịu chênh lệch lãi suất rất lớn.     

Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn ODA của Việt Nam chưa cao. Ví dụ, giá thành một km đường cao tốc của Việt Nam xây bằng vốn ODA hiện đang cao gấp 2,5 lần của Mỹ.  Thêm vào đó, Chính Phủ Việt Nam giao cho các bộ, Doanh nghiệp nhà nước quản vốn và thực hiện dự án ODA, nhưng nếu các đơn vị này không trả được các khoản vay, Chính Phủ lại phải đứng ra trả và những quy định liên quan tới vấn đề này hiện nay rất tù mù. Trách nhiêm với vốn vay không được quy định rõ ràng khiến cho các bên sinh ỷ lại, lợi dụng vốn vay để tham nhũng, cắt xén, rồi đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Ai có thể trả lời được những trách nhiệm này sẽ đi về đâu.

Một số vụ tham nhũng vốn ODA lớn điển hình những năm qua là vụ tại Ban Quản lý các dự án (PMU18) thuộc Bộ Giao thông Vận tải năm 2005; vụ án nhận hối lộ tại Đại lộ Đông - Tây (PCI) năm 2008 và gần đây nhất là nghi án hối lộ tại dự án đường sắt đô thị Hà Nội (JTC) đang trong quá trình điều tra làm rõ. Điều đáng nói ở đây là trong cả 3 vụ điển hình trên, những nghi vấn tham nhũng, sai phạm đều không phải do chủ đầu tư hay các cơ quan Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm quản lý nguồn vốn ODA phát hiện, mà lại do báo chí nước ngoài phát hiện và đưa tin, hoặc vụ PMU 18 được cơ quan điều tra phát hiện ra từ một vụ án hình sự khác. Vậy liệu chúng ta có nên đặt dấu hỏi cho Chính phủ trong việc quản lý và kiểm soát việc sử dụng vốn ODA?

Tất nhiên, hiện nước ta không có đủ vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển, vì vậy, huy động nguồn vốn từ bên ngoài, trong đó có nguồn vốn ODA là một tất yếu. Hơn 20 năm qua, Việt Nam đã thu hút khoảng 80 tỷ USD vốn ODA, bình quân vay ba tỷ USD/năm. Không thể phủ nhận nguồn vốn này đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, nhiều chương trình, dự án đạt kết quả tích cực, đặc biệt đối với các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng, tín dụng ưu đãi cho các vùng nông thôn.

Chính vì thế, vấn đề là sử dụng ODA như thế nào cho hiệu quả chứ không phải ở chuyện hạn chế vay ODA.  Nếu cứ ngồi bàn giấy vẽ ra các dự án để xin viện trợ vốn ODA nhằm kiếm cơ hội cắt xén, tham nhũng, thì nguồn vay lãi suất thấp ODA sẽ chỉ là một gánh nặng khiến đất nước nghèo hơn, bởi có vay thì phải có trả, và sẽ chẳng từ đâu khác ngoài mồ hôi nước mắt của dân.

Có chăng đã tới lúc nên yêu cầu Nhà nước minh bạch hóa mọi quy trình đấu thầu dự án ODA và quy trình quản lý dự án ODA ở Việt Nam? Phải chăng đã tới lúc các Doanh nghiệp ngoài khối Quốc doanh nên có cơ hội tiến tới giành một phần vốn dự án ODA để họ có thể tận dụng những ưu đãi của vốn vay ODA thông qua việc trả lãi cho Chính phủ. Rõ ràng, chỉ có tư nhân hóa việc sử dụng nguồn vốn ODA mới có thể tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng và có trách nhiệm. 

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui