Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
12 Jan.2015

:Du Tử Lê và

những viên đạn bắn sau lưng

dcv.o 6.1.15

LXQ.ORG : Tôi cùng tuổi (Nhâm Ngọ – 1942), cùng họ tộc với Du Tử Lê – Lê Cự Phách, dòng họ của tổ phụ - tộc trưởng Lê Lợi ỏ Thanh Hóa. Sau khi bi nhà Nguyễng lật đổ nhà Lê, dòng tộc LÊ phải thay họ đổi tên, hoặc bỏ quê quán chạy trốn đến các nơi xa trú ngụ để tránh họa’’chu di cửu tộc’’. Chi của tổ tiên tôi di cư đến Nam Định, còn chi của tổ tiên Lê Cụ Phách di cư đến Hà Nam ngày nay. Đã 72 tuổi, muốn trở về thăm lại quê cha đất tổ, đó là nguyện vọng, là tâm huyết của người già – vốn gốc là chàng trai Lãng tử họ Lê (Du Tử Lê) đã 60 năm lưu lạc (1954 – 2014). Ông Thạch Đạt Lang căn cứ vào vài chuyên làm bậy của vài ba người ‘’biên tập, sửa bài viết của Trần Nhương, sửa bài thơ của DTL”, rồi  ghán cho DTL’’hám danh’’… (như ở cuối bài viết  của ông) nhận xét như vậy, không công bằng với DTL.Thơ  DTL chẳng những cư dân tị nạn Hải Ngoại biết mà nhân dân trong nước cũng đã biết qua Internet, DTL không cần phải về thăm quê nhân tiện giới thiệu thơ của mình để lấy thêm danh – lợi.  Việc đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền cho toàn dân tộc là việc khác . tiến hành cách khác... Không nên áp đạt’’ấn biểu tượng chống đối’’ phe này vào tay người này… ‘’sửa văn- thơ của người kia’’ để phục vụ kẻ kia, hòng đạt được mục đích. Cả hai cách áp đặt đều không lương thiện !

  ***

 

gio hoaCách đây vài tháng, đâu vào khoảng tháng 7-2014 tôi có  nghe chuyện thi sĩ Du Tử Lê về Việt Nam ra mắt tập thơ Giỏ Hoa Thời Mới Lớn tại  Hà Nội. Nghe thôi, không chú ý, bởi tôi là một người không mặn mà với thơ thẩn  cho lắm, nhưng giờ thì không thể không lên tiếng, dù mình chỉ là một kẻ vô  danh.

Nguyên nhân vì mấy ngày qua, vào dịp đầu năm tôi nhận liên tiếp mấy emails  nhắc lại chuyện ra mắt tập thơ với những lời phê bình nặng nề, kèm theo bài thơ  Ai Nhớ Ngàn Năm Một Ngón Tay của ông Du Tử Lê được cho là viết về ngày 30/4/75  đã bị sửa lời.

Một email do ông Trần Việt Hải, nhóm Ngôn Ngữ Việt gửi tới với subject: Du Tử  Lê dưới mắt VC phản tặc. Một email khác do bạn bè chuyển với đề mục Du Tử  Lê (kèm theo chú thích “Miễn bình luận” của người bạn) do một người viết lấy tên  là Delta, cũng có bài thơ sửa lời.

Vào Google tìm kiếm tên Du Tử Lê, tôi thấy một bài viết với tựa “Bài viết  chém gió về Du Tử Lê – tại Hà Nội” đăng trên tunhan – Worldpress. Bài viết đươc  “tái biên tập” tức đã được sửa chữa, viết lại buổi ra mắt tập thơ của ông  Lê.

Để bạn đọc dễ theo dõi, tôi xin dẫn lại bài viết của ông Trần Nhương “Nhà thơ  Du Tử Lê gặp gỡ bạn thơ ở Hà Nội”:

TNc: Tối 3-6-2014, tai Gallery 39 Lý Quốc Sư, Hà Nội, nhà thơ Du Tử Lê có  buổi gặp gỡ các bạn thơ và bạn đọc. Rất đông các bạn trẻ và các nhà thơ đến dự.  Nhà thơ Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thụy Kha,  Trần Nhương, Trần Quang Quý, Trung Trung Đỉnh… đã có mặt. Du Tử Lê giới thiệu  tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn”, một tập thơ dày dặn với trình bày bắt mắt của  họa sĩ Lê Thiết Cương. Nhà thơ Bằng Việt, Thụy Kha, Nguyễn Quang Thiều phát biểu  chào mừng Du Tử Lê đã trở về Hà Nội. Con đường dù rất dài rồi cũng đưa người về  quê Mẹ.

ĐÔI NÉT VỀ DU TỬ LÊ

Thi sĩ Du Tử Lê. Ảnh: Trần Triết

Thi sĩ Du Tử Lê. Ảnh: Trần Triết

Sau Hiệp định Genève, 1954, Lê Cự Phách di cư vào Nam cùng với gia đình.  Đầu tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông  vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, trường Chu Văn An, sau cùng là Đại học  Văn Khoa.

Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại  Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới  nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên  vào năm 1958 cho bài “Bến tâm hồn”, đăng trên tạp chí Mai.Du Tử Lê từng là sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu phóng viên  chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một tạp chí  của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung  học Sài Gòn.

MỘT BÀI THƠ CỦA DU TỬ LÊ

ai nhớ ngàn năm một ngón tay

Tháng tư tôi đến rừng chưa thức
Mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
Có  môi chưa nói lời chia biệt
Và mắt chưa buồn như mộ bia

Tháng tư nao nức chiều quên tắt
Chim bảo cây cành hãy lắng nghe
Bước  chân ai dưới tàng phong ốm
Mà tiếng giày rơi như suối reo

Tháng tư khao khát, đêm, vô tận
Tôi với người riêng một góc trời
Làm  sao anh biết trăng không lạnh
Và cánh chim nào sẽ bỏ tôi

Tháng tư hư ảo người đâu biết
Cảnh tượng hồn tôi : một khán đài
Với  bao chiêng, trống, bao cờ xí
Tôi đón anh về tự biển khơi

Tháng tư xe ngựa về ngang phố
Đôi mắt nào treo mỗi góc đường
Đêm ai  tóc phủ mềm da lụa
Tôi với người chung một bến song

Tháng tư nắng ngọt hoa công chúa
Riêng đoá hoàng lan trong mắt  tôi
Làm sao anh biết khi xa bạn
Tôi cũng như chiều : tôi mồ côi

Tháng tư chăn gối nồng son, phấn
Đêm với ngày trong một tấm  gương
Thịt, xương đã trộn, như sông, núi
Tôi với người, ai mang vết thương  ?

Tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
Rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
Mắt ai rồi  sẽ như bia mộ
Ngựa có về qua cũng thiếu đôi

Tháng tư người nhắc làm chi nữa
Cảnh tượng hồn tôi đã miếu  thờ
Trống, chiêng, cờ, xí như cơn mộng
Mưa đã chờ tôị Mưa…đã …mưa

Mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây
Góc  phố còn treo đôi mắt bão
Ai nhớ ngàn năm một ngón tay ?

(Nguồn:http://trannhuong.com/tin-tuc-18088/nha-tho-du-tu-le-gap-go-ban-tho-ha-noi.vhtm)

Bài viết của ông Trần Nhương đã bị “tái biên tập”, đăng trên website tunhan –  A fine Word Press.com site như sau (chữ in đậm là chữ tái biên tập, không thấy  ghi tên người tái biên tập):

ĐÔI NÉT VỀ DU TỬ LÊ

Sau Hiệp định Genève, 1954, vì nghe lời dụ dỗ của Mỹ  Ngụy, Lê Cự Phách di cư vào Nam cùng với gia đình. Đầu  tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào  Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, trường Chu Văn An, sau cùng  là Cao học (?) Đại học Văn  Khoa.

Là môt thiên tài, ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học  tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt  đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê  được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài “Bến tâm hồn”, đăng trên  tạp chí Mai.

Du Tử Lê từng mang quân hàm  Trung Tá (?), thuộc Quân ngụy Saigon, cựu phóng  viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền  phong (một tạp chí của Quân  Ngụy), và là giáo sư Văn học của nhiều trường trung học Sài Gòn  (?)

MỘT BÀI THƠ CỦA DU TỬ LÊ, (đã bị sửa)

(viết về 30 tháng Tư/ 1975)

ai nhớ ngàn năm một nỗi mừng

Tháng tư đã đến rừng chưa thức
Mưa vẫn chờ tôi ở  cuối
đường

Có  môi, không
nói lời ly biệt
Và mắt chưa buồn  như mộ bia

Tháng tư nao nức chiều quên tắt
Chim bảo cây cành hãy lắng nghe
Bước  chân giải phóng từng khu phố

Và  tiếng chân người
như suối reo .

Tháng tư khao khát, ngày vô  tận
Tôi với người riêng một góc trời
Làm sao ngưòi  biết trời đang sáng

Và cánh chim nào sẽ bỏ  tôi
.

Tháng tư sum họp người đâu biết
Cảnh  tượng hồn tôi: một bóng cờ

Với bao chiêng,  trống, bao cờ xí
Tôi đón anh về tự mỗi nơi.

Tháng tư binh mã về ngang  phố
Đôi mắt nhìn theo một nỗi mừng

Đêm ai  tóc phủ mềm da lụa
Tôi với người chung một bóng  cờ

Tháng tư nắng ngọt hoa công chúa
Riêng đoá hoàng lan trong mắt  tôi
Làm sao anh biết khi xa bạn
Tôi cũng như người: Một nỗi  vui

Tháng tư chăn gối nồng son, phấn
Đêm với ngày trong một tấm  gương
Thịt, xương đã
trả hờn
sông, núi
Tôi  với người, ai mang vết thương?

Tháng tư rồi sẽ ngàn năm nhớ
Rừng sẽ vì  tôi nức nở hoài
Mắt ai ngu
sẽ như bia  mộ
Ngựa có về qua cũng thiếu đôi

Tháng tư nhắc nhở ngàn năm nữa!
Cảnh  tượng hồn  tôi những
miếu đền

Trống,  chiêng, cờ, xí như cơn mộng
Mưa đã chờ tôị Mưa…đã …mưa

Mai kia sống với vầng sao ấy
người có  còn thương một bóng
ai

Góc phố còn  treo ngời lãnh tụ

Ai nhớ ngàn năm  một
bóng ai?

(Nguồn:http://tunhan.wordpress.com/2014/12/31/bai-viet-chem-gio-ve-du-tu-le-tai-ha-noi/)

Người tái biên tập bài viết ông Trần Nhương cố ý tô đỏ những chữ đã đước sửa  đổi để cho người đọc thấy rõ ông ta không có ý đạo văn mà chỉ nhằm mục đích châm  biếm, chế nhạo Du Tử Lê.

Sau khi biết bài viết của ông Trần Nhương có bản quyền, tác giả bài “tái biên  tập“ đã phải đăng lại bài nguyên tác của ông Trần Nhương trên website  tunhan-Word Press.com. Đăng lại nhưng không xin lỗi tác giả Trân Nhương cũng như  Du Tử Lê vì đã vi phạm luật bản quyền.

Chuyện sẽ chẳng có gì đáng nói nếu mọi việc ngừng lại ở đó. Không ngờ có một  bàn tay bí mật nào đó xóa hết những dấu vết tái biên tập của tunhan trên  WordPress rồi chuyển đi, gây nên một sự hiểu lầm rộng lớn rằng Du Tử Lê làm thơ  ca ngợi Hồ Chí Minh và chiến thắng của cộng sản VN ngày 30.04.1975.

Trở lại với Du Tử Lê, ông tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942, người tỉnh  Hà Nam. Ông di cư vào Nam năm 1954, là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc cuối  cùng là đại úy (có người nói ông đã lên thiếu tá), là phóng viên chiến trường  cho tờ báo Tiền Phong của quân đội VNCH.

Du Tử Lê là người có nhiều bài thơ nổi tiếng được phổ nhạc như Khúc Thụy Du,  Đêm Trăng Nhớ Sài Gòn, Khi tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra biển…, ông cũng là người Viêt  Nam duy nhất có thơ đăng trên 2 nhật báo lớn ở Mỹ là New York Times , Los  Angeles Times và được 2 tờ báo này phỏng vấn.

Năm 1998, nhà xuất bản W. W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào một trong năm tác giả Việt Nam  để in vào phần “Thế kỉ 20: thi ca Việt Nam” khi tái bản tuyển tậpWorld Poetry  An Anthology of Verse From Antiquity to Our Present Time (Tuyển tập Thi ca  thế giới từ xưa đến nay).

(Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Du_T%E1%BB%AD_L%C3%AA)

Điểm quan trọng cần nói ở đây, Du Tử Lê là một trong ba người bị Mặt Trận  Giải Phóng Miền Nam kết án tử hình khiếm diện trên đài phát thanh của họ vào  ngày 17.04.1975, cùng với Mai Thảo, Phạm Duy vì có thái độ chống cộng quyết  liệt.

Ngày 30.04.1975 Du Tử Lê theo làn sóng người chạy trốn chế độ cộng sản qua Mỹ  và định cư ở đó.

Thời thế thay đổi, chế độ cộng sản dùng kế sách lấy mỡ nó mà rán nó, áp dụng  cho Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, Khánh Ly…,Hà Nội cho phép ông Du Tử Lê về nước ra  mắt tập thơ Giỏ Hoa Thời Mới Lớn cũng như gặp gỡ các văn nhân, thi sĩ trong  nước.

Buổi ra mắt thơ nói trên của ông bình lặng, không ồn ào, gây nhiều tiếng  vang, không có gì đáng nói, kể cả từ phía chế độ CS. Lý do nào báo chí Hà Nội  hoàn toàn im lặng trước việc một nhà thơ “ngụy” một kẻ đã từng bị kết án tử hình  khiếm diện lại có thể về Hà Nội, bình yên ra mắt một tập thơ? Một viêc lạ chưa  hề xẩy ra dưới một chế độ độc tài, gian ác, phi nhân như chế độ Hà Nội.

Truy tìm các bài viết khác của báo chí, truyền thông cộng sản tức báo lề phải  trong nước, không thấy có bài nào lên án Du Tử Lê, ngoại trừ một bài của báo  Công An Thành Phố Hồ Chí Minh đăng ngày 18.08.2005 với tựa Bộ Mặt Ngạo Mạn Của  Du Tử Lê của hai tác giả Trọng Đức và Lê Nguyễn, phản hồi cho việc Nhà xuất bản  Văn nghệ xuất bản tập thơ Du Tử Lê, với nhiều ý kiến công kích cả về thi ca lẫn  con người của ông.

Điều đó có thể hiểu là, rút kinh nghiệm từ vụ Khánh Ly, lần này Hà Nội khôn  ngoan, không vội vã cho truyền thông, báo chí trong nước đánh phá Du Tử Lê ngay  lúc đó. Họ để yên, sáu tháng sau vào dịp đầu năm 2015 mới đem ra tập bắn, nhưng  lần này nham hiểm hơn, dùng ngay bài thơ của ông, cho sửa lời rồi phát tán trên  mạng, đi kèm một bài tái biên tập đăng trên website tunhan -worldpress.com

Sau bài “tái biên tập”, một số bài khác ở hải ngoại tiếp tục lên tiếng mạt  sát, chửi bới Du Tử Lê là kẻ phản bội, làm nhục quốc thể VNCH như bài Dê Chết  Trong Lu của Hồ Công Tâm hay bài thơ Ai Thấu Thành Xưa Một Vết Buồn của Cuồng  Sinh…

Điều không ai có thể chối cãi được Du Tử Lê là người hám danh. Ở vào tuổi 72,  với những thành công, danh vọng trong thơ văn đã có, lẽ ra ông không nên về nước  ra mắt tập thơ trong lúc này, khi văn hóa, đạo đức đã suy đồi môt cách trầm  trọng khó lòng cứu chữa.

Dù Du Tử Lê chưa hề có những lời nói, tuyên bố có ý nghĩa phản bội hoặc nhục  mạ, xúc phạm đến cộng đồng NVHN nhưng ông đã đánh mất lòng tự trọng. Sự trở về  Hà Nội, ra mắt tập thơ của ông cũng đã mang ý nghĩa đầu hàng cộng sản VN khi  những người như Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày cũng như rất nhiều  người trẻ tuổi khác vẫn bị chế độ bắt giữ, kết án, hoặc trục xuất khỏi đất nước  chỉ vì họ tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân.

Cho phép Du Tử Lê, tên “phản quốc” bị kết án tử hình khiếm diện về nước, ra  mắt tập thơ rồi ra đi một cách bình an, không cần phê bình, chỉ trích, chửi bới  như Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ ngày nào, Hà Nội không tốn một viên đạn mà Du Tử Lê  vẫn bị bắn xối xả.

Không biết giờ đây, ngồi tìm lại trong Giỏ Hoa Ngày Mới Lớn của mình, ông Du  Tử Lê có thấy hoa nào là hoa Dân Chủ và Tự Do không?

© Thạch Đạt Lang

© Đàn Chim Việt

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui