Chân dung của thi sĩ Tố Hữu (Toàn văn) - Nhà Văn Lê Xuân Quang - Le Xuan Quang Blog
Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
29 Sep.2014

Chân dung của thi sĩ Tố Hữu

(lxq.org - Toàn văn CHƯA BIÊN TẬP)

Published on September 29, 2014                

TTXVA.NET BIÊN TẬP

ToHuu

(Chân dung Tố Hữu)

LÝ HỒNG XUÂN

Tiểu luận

Chân dung nhà văn số 72 trong tác phẩm CHÂN DUNG NHÀ VĂN của nhà thơ XUÂN SÁCH (NXB Văn Học 1992) viết – vẽ bằng 8 câu thơ:

Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng,

Mắt trông về tám hướng phía trời xa

Chân dép lốp bay vào vũ trụ

Lúc trở về ta lại là ta!

*

Từ Ấy trong tôi bừng tiếng hát

Trông về Việt Bắc tít mù mây

Nhà càng Lộng gió, thơ càng nhạt

Máu ở chiến trường, Hoa ở đây !

Người đọc nhặt ra trong nhưng câu thơ có những cụm từ, liên tưởng với các tư liệu đã tưng đọc, nhân ra : Ta Đi Tới (bài thơ), Từ Ấy (tập thơ), Việt Bắc (tập thơ), Gió Lộng (tập thơ), Việt Nam Máu và Hoa (tập thơ). ”Đỉnh cao muôn trượng” là một câu trong Bài ca mùa xuân năm 1961… đó là các thi phẩm của nhà thơ – quan lớn văn nghệ của chính thể CHXHCN Việt Nam – thi sĩ TỐ HỮU (TH)!

Ông là người lãnh đạo tư tưởng giới Văn học – Nghệ thuật miền Bắc nhiều năm (sau năm 1975 là cả nước). TH Cũng đã từng thành công trên thi đàn Việt Nam. Nhưng tài năng đó chỉ nằm ở lĩnh vực cổ vũ, minh hoạ cho các chủ trương chính sách của đảng ông, ca ngợi lãnh tụ mà ông thờ phụng, ít có giá trị nghệ thuật. Xuân Sách mượn tên tập thơ ”Gió Lộng” của ông – chê thẳng thừng :

”Nhà càng Lộng Gió, thơ càng nhạt”.

Chúng ta nhớ lại năm 1954, từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, ít lâu sau, Tố Hữu cho tái bản bản tập thơ Việt Bắc. Một số người lên tiếng phê bình, Tố Hữu cay cú, ghi nhớ… Khi sự kiện Nhân văn – Giai phẩm nổ ra, ông dùng quyền lực của mình mượn danh nghĩa bảo vệ đường lối văn nghệ vô sản, chế độ CS, nhưng còn lồng ý đồ cá nhân để thanh toán người dám chê thơ ông, ghán cho họ những tội danh vô căn cứ rồi dùng bộ máy Chuyên chính vô sản trừng trị họ (…), tiến hành chiến dịch , đưa ”Bọn Nhân Văn – Giai Phẩm trước tòa án dư luận” (tên một cuốn sách tập hợp những bài viết của những cây viết xu thời đánh nhóm NVGP…) và tiếp tục đánh những VNS có biểu hiện tự do trong sáng tác ở những năm sau này.Vụ ”trừng phạt” kéo dài, cốt chỉ để ra oai về sức mạnh của ”Chuyên chính vô sản”, tạo ra cái gương để răn đe những người không đồng tình với đường lối, chính sách của nền chính trị đương thời. Trong đó,Tố Hữu đã thực hiện được ý đồ của mình: Trả thù, dằn mặt những người không phục !

Đối với những VNS chưa bắt đầu có phản ứng trực tiếp, rỏ rệt, muốn đi tìm một hướng sáng tác mới (…) không đi theo vết mòn khô cứng của lý thuyết ”Hiện thực XHCN” – đã bị ông cho bộ máy lãnh đạo tư tưởng – của mình đàn áp !Tố Hữu là người Việt Nam duy nhất trên lĩnh vực văn nghệ, coi J. Stalin hơn cả cha mẹ mình rồi thể hiện tấm lòng đó trong thơ rất ”mùi mẫn”. Người ta còn nhớ mãi vài câu, trong bài thơ viết khi J.Stalin chết, in trong tập Việt Bắc, xuất bản năm 1955 :

” …

Vui biết mây khi con tập nói

Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin…

Thương cha, thượng mẹ, thương chồng

Thương mình thương một,

thương ông thương mười……”

Cũng có thể coi ông như một điển hình sống về sự sùng bái học thuyết Mác – Lê nin ở Việt Nam. Ngay từ cuối những năm ba mươi của thế kỷ 20, ông đã bày tỏ quan điểm này một cách thái quá, bằng những bài thơ (sau tập hợp in ở tập Từ Ấy), trong đó, nhan nhản những bài, những câu :

”…Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”

( ý nói từ khi tiếp nhận học thuyết Mác – Lênin).

”Liên Xô nở trước đới tôi ba tuổi…”

(Cách mạng tháng 10 Nga nổ ra vào năm 1917. Tố Hữu sinh năm 1920).

”…Nước Nga, Ồ nước ấy

Lão ngồi mơ nước Nga !”

(Lão Trương – Từ Ấy)

vân vân… và vân vân…

Khi cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, trong kháng chiến tám năm (1946 – 1954), ông lại tiếp tục suy nghĩ và viết những vần thơ thuộc loại đã dẫn ở trên. Lần này, thơ ông đã nâng việc ca ngợi lên tới độ ”nghê thuật ”. Ca ngợi đảng, ca ngợi lãnh tụ – kể cả những lãnh tụ nước ngoài như V. Lénin, J. Stalin, Mao Trạch Đông… Với cụ Hồ, ông dành tâm huyết để ca ngợi bằng những lời thơ thật nồng nhiệt :

”… Bác kêu con đến bên bàn

Bác ngồi Bác viết, nhà sàn đơn sơ

Con bồ câu trắng ngây thơ

Nó đang tìm thóc bên bồ công văn.

Lát rồi chim nhé chim ăn,

Bác Hồ đang bận khách văn tới nhà.

Bàn tay con nắm tay Cha…

Bác ngồi đó lớn mênh mông

Trời xanh biển rộng, ruộng đồng, núi non

Bác Hồ cha của chúng con,

Hồn của muôn hồn

Cho con được ôm hôn má Bác…”

(Sáng Tháng Năm)

”…Nhớ ông cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường…

Nhớ chân người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng người

Lòng ta ơn Bác đời đời…”

(Việt Bắc)

”… Bác ơi tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông, mọi kiếp người…

Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch chẳng vàng son

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn…

..

Bác đã lên đường theo tổ tiên,

Mác – Lê nin thế giới người hiền

Ánh hào quang đỏ thêm sông núi

Dắt chúng con cùng nhau tiến lên…”

(Bác Ơi)

Cụm từ ”theo tổ tiên” là nguyên văn, câu thơ lần đầu tiên được công bố, ông Tố Hữu đích thân đọc trên đài tiếng nói Việt Nam, đăng trên trang nhất báo Nhân Dân hôm 3 tháng 9 năm 1969 (hôm công bố ngày cụ Hồ mất). Sau đó, dường như Tố Hữu thấy câu thơ quá ”chối tai”, hoặc bị chiến hữu xì xèo… Anh Thận (bí danh của ông Trường Chinh) ”nhăn mặt” vì tự nhiên cụ Hồ được nhà thơ ghán ghép có ”tổ tiên là… Mác – Lênin” (nếu đọc liền hơi hai câu : Bác đã lên đường…) – nên các bản in sau, ba từ đó được sửa thành: ”nhẹ bước tiên”. Đây chỉ là một số rất ít nhặt ra, trong những bài thơ ca ngợi lãnh tụ của Tố Hữu. Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông thì không thể nào thống kê xuể.

Ông viết rất nhiều thơ ca ngợi đảng của mình. Đặc biệt ở Bài ca mùa xuân năm 1961, có những giai thoại thú vị. Xin nhặt mấy đoạn để độc giả thưởng thức :

Tôi viết bài thơ xuân

Nghìn chín trăm sáu mốt

Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt…

Chào sáu một đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây trông về bốn hướng

Trông lại nghìn xưa, trông đến mai sau

Trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu…

Anh nắm tay em sôi nổi vụng về

Mà nói vậy, trái tim anh đó

Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ

Anh giành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho Thơ và phần để Em yêu…

Em xấu hổ: – Thế cũng nhiều anh nhỉ!

Rồi hai đứa hôn nhau

như hai người đồng chí (!)…

Dắt nhau đi cho tới sớm mai nay

Anh đón em về, xuân cũng đến trong tay…

…”

Ở câu: ”Chào Sáu mốt đỉnh cao muôn trượng” thể hiện một ý tưởng chính trị :

Tháng 10 năm 1960 tiến hành đại hội đảng CSĐD (sau ĐH đổi thành ĐLĐVN (tên cũ của ĐCSVN ngày nay) lần thứ 3, đưa Lê Duẩn lên thay Trường Chinh (vì sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất), thay thế bộ máy lãnh đạo cũ, cấu trúc bộ máy lãnh đạo mới, thực hiện nhất quán, triệt để chủ trương: ”Bằng bất cứ giá nào cũng phải giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước – (bằng vũ lực)”.

Tháng 12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc trên quy mô lớn chính thức bắt đầu. Năm 1961 là năm kinh tế của miền Bắc tương đối ổn định. Cái vòi viện trợ của Liên Xộ – Trung Quốc rót vào (tuy không nhiều bằn Mỹ cho miền Nam), nhưng miền Bắc chi cho cuộc chiến tranh ở miền Nam chưa nhiều nên đời sống của dân còn khá. Khi cuộc chiến phát triển, lan rộng, tiền bạc vứt hết vào đây, kéo mức sống của nhân dân ngày càng đi xuống, đến độ cùng cực. Từ hiện tượng đó (và những năm sau, mức sống của dân tiếp tục đi xuống…), bà con ta lấy ngay câu thơ kia làm đề mục phê phán, diễu cợt, rồi ”tán” rộng ra : ”… đồng chí Tố Hữu, người đại diện phát ngôn của đảng ta đã khẳng định : Năm 1961 là ”đỉnh cao muôn trượng”, chẳng trách nào, đời sống của nhân dân cứ hôm nay xấu hơn hôm qua; quá khứ tốt hơn hiện tại và tương lai… phú quý giật lùi !…”.

Các câu :

”Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ

Anh gìành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu…

Lại được dân ta thêm thắt, thêu dệt thành những giai thoại hài hước. Có người bặm trợn bảo :”Nhà thơ sinh lý không bình thường… khi đang ”yêu” vẫn giành cho đảng phần nhiều, phần hơn” , rồi đưa câu chuyện tiếu lâm ”Bố vợ thả vịt” (có câu chàng rể nói với vợ : Bố giữ để bố…ăn à) gắn vào diễu cợt tác giả…

Giữa những năm chín mươi của thế kỷ 20, trong một kỳ họp quốc hội ở hội trường Ba Đình, Tố Hữu được mời đến họp dự thính. Một nhà báo có tên tuổi ở Việt Nam, tìm gặp ”Trò chuyện với nhà Thơ Tố Hữu” (tên bài phỏng vấn), gợi lại chuyện làm thơ trong qúa khứ và hiện tại của thi sĩ. Anh ”đá giò lái” Tố Hữu, về chuyện ông viết câu thơ kia – chia mức độ yêu ra từng phần, từng cấp độ cho người yêu và đảng, rồi hỏi thẳng cảm tưởng của thi sĩ về thơ và đời.

”Thi sĩ máy”(7) – người cộng sản gạo cội Tố Hữu – lúc này đã hoàn toàn mất hết phong độ của ”kẻ sang”, miệng không còn ”có gang có thép” nữa, chỉ còn lại là một ông gìa gần tám mươi, mệt mỏi, chán chường… đành thực thà thừa nhận: ”Đó chỉ là (cách nói) đại ngôn mà thôi!” (nguyên văn) !

xxx

Một giai thoaị khác cũng đáng được chú ý : Trong bài viết ”Tố Hữu và bài Thơ Hoan hô chiến sỹ Điện Biên”, của Trần Đăng Khoa in ở tập ”Chân dung và đối thoại”, anh thuật lại cuộc trò truyện của Tố Hữu với nhà phê bình Hồng Diệu :

”… Thế từ lúc mở màn đến khi kết thúc chiến dịch, anh có lên Điện Biên bao giờ không ?

– Không ! Nào mình có biết Điện Biên ở đâu mà đi. Đi sao được. Mà ai cho đi cơ chứ.

– Tưởng anh là trưởng ban tuyên truyền, anh có thể đi khắp nơi chứ ?

– Đâu có !… Mình cứ ngồi im chờ lệnh cụ Trường Chinh !

– Tưởng anh viết: Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam…

-Á, cái ấy mình hỏi. Mình hỏi mấy chú đã đến Điện Biên Phủ rồi. hỏi xem ở đấy có những cái gì, mới biết mấy cái địa danh như thế đấy chứ. Biết cả ở đấy có cam, có mơ và rất nhiều hoa mơ. Chỉ mang máng thế thôi. Và rồi cái mang máng ấy cũng chẳng biết sẽ để làm gì. Sau này khi viết mình mới lôi nó ra, đưa vào thơ, cứ nhét bừa vào, nó mới thành :

Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng…

Đấy, đơn giản thế đấy!…..”

(CD và ĐT trang 17).

xxx

Một giai thoại nữa mà dân Hải Phòng đều biết, truyền tụng : Vào thời (1980 -1985), Hải Phòng xây dựng xong ba chiếc cầu lớn đi vào thành phố là : cầu Thượng Lý, cầu Niệm và cầu Rào, hoàn thành con đường nối từ đất liền ra đảo Đình Vũ dài hơn chục cây số, cùng một số ”thành tựu” kinh tế của địa phương khác. Tố Hữu lúc đó đang cực thịnh, là cánh tay đắc lực của Tổng bí thư Lê Duẩn – giữ trọng trách phó thủ tướng thứ nhất. Ông rất khoái cách làm ăn của Bí thư thành ủy Đoàn Duy Thành, quyết định đi kinh lý Hải Phòng, gặp các ”đệ tử ruột” của mình ”thực mục sở thị”. Bộ máy lãnh đạo Hải Phòng tổ chức tiếp đón thi sỹ – Phó Thủ Tướng – trọng thể. Sau khi nghe Bí thư thành ủy báo cáo, Tố Hữu yêu cầu được đi thị sát những công trình có ”tầm cỡ thế kỷ” của địa phương. Hai ông cùng đoàn tùy tùng đứng trên cầu Niệm ngắm nhìn ”thành quả”. Hài lòng về cấp dưới, nhà thơ – Sếp lớn hứng chí tức cảnh đọc :

Bốn cống, ba cầu, năm cửa ô

Đào kênh, lấn biển, dựng cơ đồ

Làm ăn, hai chữ : À ra thế ?!

(…)

… Chợt thi sĩ quay lại, tươi cười nói với bộ sâu đang xun xoe ở phía sau :

– Thôi, còn câu cuối, tôi xin nhường lại cho ”đồng bào và chiến sĩ” Hải Phòng ! (Chữ Đồng bào và chiến sĩ cụ Hồ thường hay dùng….).

Đoàn Duy Thành nhìn Tố Hữu lúng túng (vì bất ngờ). Một thành viên trong đoàn, thuộc hạng ”có cổ cánh” ở địa phương, cũng võ vẽ làm thơ, dè dặt – Thưa đồng chí, câu đó có thể nối như thế này không: Thật xứng danh con cháu Bác Hồ !

Ông Tố Hữu chưa kịp có phản ứng thì một người khác, áng chừng là Sếp của tác giả kia, cướp lời – Không ! Phải như thế này mới hay: Thực hiện đúng di chúc Bác Hồ !

Mấy tùy tùng đi sau vội đế vào : Hay ! Tuyệt vời !

Ông Tố Hữu thấy ”Đồng bào và chiến sĩ Hải Phòng” đang biến thơ của mình thành ”khẩu hiệu” ra chiều không vui vội lảng ngay. Một ”Bút Tre” đi sau ghé tai bạn nói nhỏ: Hết vần rồi, không tiếp được nữa đâu – đoạn mỉm cười ý nhị.

Ông ta nói đúng !

Nếu mổ xẻ khổ thơ ta thấy ngay : Trong tiếng Việt có 24 chữ cái (bây giờ tăng hơn), 5 nguyên âm chính, 6 nguyên âm phụ, 19 phụ âm chính, cộng với các nguyên âm phụ, phụ âm phụ và các dấu, làm cơ sở tạo ra từ ngữ. Ba câu thơ trên đã được lấy đi hai vần ô, đồ. Ta cùng làm một phép thử, đem ghép tất cả những phụ âm còn lại với nguyên âm ô, ồ, để tạo ra một từ phù hợp niêm luật của loại thơ thất ngôn tứ tuyệt, làm câu kết cho khổ thơ kia xem sao….

Kết qủa của việc làm này chỉ thu được duy nhất hai từ đạt yêu cầu là XÔ và HỒ. Xô ghép thành Liên Xô, nhưng trong trường hợp, thời điểm, bối cảnh đó (…) không thích hợp. Như vậy chỉ còn dùng được chữ Hồ, và câu thơ của ”Bút Tre” nối vào khổ thơ của Tố thi sĩ, tuy chỉ là một câu khẩu hiệu nhưng lại hợp ý, hợp vần, hợp cảnh. Thật may. Nhà thơ ”Bút Tre Hải Phòng” – (Khác với Bút Tre – bút danh của Trưởng ty Văn hóa tỉnh Vĩnh Phú) – tạo thành câu kết của bài thơ lại thích hợp khẩu vị của Sếp và bộ máy lãnh đạo chóp bu. Điều quan trọng giúp ông Tố Hữu thoát… bí !

Do bận bịu với chính trị và thường ”bí” khi làm thơ khiến các thi phẩm của ông bị giới VNS ”xì xèo”. Tố Hữu thanh minh và giãi bầy lòng mình ở một bài thơ in trong tập Gió Lông, xuất bản hồi giữa thập niên sáu mươi của thế kỷ 20 :

Làm bí thư hoài có bí thơ

Rằng, Thơ với Đảng nặng duyên tơ

Thuyền bơi có lái, thuyền vươn tới

Không lái thuyền trôi, lạc bến bờ.

Làm bí thư đâu chuyện giấy tờ

Lắng nghe cuộc sống gọi từng giờ

Phải đâu tim cứng thành khuôn dấu

Càng thấu nhân tình nên vẫn Thơ !

(Thời điểm này – Đại hội III – Tố Hữu là Bí thư trung uơng đảng Lao Động Việt Nam, Lê Duẩn là bí thư thứ nhất, đứng đầu ban bí thư)

Mặc dù thi sĩ – quan lớn của đảng và nhà nước – bắt chước các vua chúa thời phong kiến xa xưa, khi đi chơi ra đề cho các quan tùy tùng xướng hoạ, cũng vẫn không xóa được sự kệch cỡm của nhà thơ – chính khách – tài năng có hạn nhưng tham vọng vô biên ! Giai thoại này còn được một số tờ báo đăng tải, xem như câu chuyện độc đáo về tài thơ của Tố Hữu… Nghe đồn thành ủy Hải Phòng đã treo giải, nếu ai làm được câu thơ hay hơn sẽ được trọng thưởng ! Tại thời điểm Đoàn Duy Thành ”hùng cứ” Hải Phòng, không có câu thơ nào thay thế được câu thơ của nhà thơ ”Bút Tre Hải Phòng” kia. Và cái ”giải” vẫn còn treo lơ lững ỡ Hải Phòng nhiều năm, cho tới khi Ông Đoàn Duy Thành ”bật bãi” chủ trương đó mới chấm dứt.

Thế nhưng các thành tựu của Hải Phòng, được thi sĩ Tố Hữu ”à ra thế”, ngợi ca trong 3 câu thơ kia, có đáng không ? Có đúng không ? Thực chất thế này : Sau chuyến đi kinh lý của phó thủ tướng Tố Hữu ít lâu, một đêm kia, cầu Rào (trên đừơng đi Đồ Sơn) tự dưng đổ sập (do thiết kế ẩu, thi công rút ruột…). Thật phúc cho đồng bào và chiến sĩ Hải phòng, vì cầu tự sập vào ban đêm nên không chết người (chỉ bị thương một người). Nhưng phá cầu cũ đi, làm cầu mới đã mất hàng tỷ bạc !

Chuyện lấn biển mới làm cho bà con Hải Phòng ”điên đầu”:

Từ đất liền ra tới đảo Đình Vũ phải vượt biển, quãng đường dài hơn chục cây số. Theo lệnh của ”trên”, đồng bào và chiến sĩ Hải Phòng kề vai sát cánh gánh đất, xe đá đắp đường nối đảo với đất liền. Công việc này được giao cho Bộ tư lệnh quân khu III chủ quản, Thiếu tướng Trường Xuân, tư lệnh trưởng trực tiếp đôn đốc lính tráng thực thi…

Sau mấy năm gian nan vất vả, con đường làm xong, quẳng vào đây hàng chục tỷ đồng nhưng chẳng để làm gì, chẳng phục vụ gì cho sự phát triển kinh tế của địa phương, hàng chục năm’’đắp chiếu’’. Ngược lại, các nhà khoa học sau khi thăm dò, nghiên cứu, tính toán… đi đến kết luận : Con đường đắp chắn một đoạn biển dài khiến giòng chảy tự nhiên phải đổi hướng, chậm lại. Phù sa không thoát nhanh được mà lại quẩn quanh, rồi lắng đọng ở cửa sông, bồi đắp lòng sông ngày một cao lên, khiến tầu bè lớn không vào được bến cảng. Hàng năm phải mất bao nhiêu công sức tiền bạc nạo vét luồng lạch nhưng cũng không cứu vãn tình thế. Cảng Hải Phòng tồn tại và phát triển hơn 100 năm qua, có giai đoạn thật sầm uất, bây giờ do luồng lạch, cộng với cách làm ăn cửa quyền, trì trệ của bộ máy điều hành… các con tầu mang hàng đến Việt Nam đều dần ’’gút bai’’ Hải Phòng, xin cập mạn ở nhửng bến cảng khác… Thế là từ Cảng biển biến thành Cảng sông. Hàng chục nghìn công nhân làm việc trực tiếp trên bến, hàng trăm nghìn người khác gián tiếp, ăn theo, giờ thu nhập thụt xuống, ảnh hưởng lớn đến đời sống của cả thành phố Hoa Phượng Đỏ (…).

Những sự kiện ”Đào sông, lấn biền dựng cơ đồ…” làm cho thi sĩ Tố Hữu sửng sốt ”À ra thế”, còn đồng bào và chiến sỹ Hải Phòng ”ra thế đấy” !

Các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn thường trích dẫn câu nói có tính chất kinh điển của V. Lénin : Chủ nghĩa Cộng Sản bằng = Chính Quyền Xô Viết cộng + Điện khí hóa. Họ mô phỏng câu nói này thành một công thức toán học để răn dậy thuộc cấp :

Lòng nhiệt tình cách mạng + (cộng)

Sự ngu dốt = (bằng) kẻ phá hoại !

Đối chiếu với Việt Nam trong quá khứ và hiện tại… công thức đó xem ra đúng !

***

Chỉ từ mấy đoạn trích dẫn trên đây, chúng ta thấy được bản chất và cả ”tài năng” của Tố Hữu. Không thể trách người nghệ sĩ – thi sĩ cảm nhận thế giới bên ngoài, thẩm thấu vào thế giới nội tâm của mình rồi đưa vào tác phẩm để kích thích trí tưởng tượng của người đọc. Người nghệ sĩ làm điều đó hoàn toàn đúng ! Thế nhưng thật đáng buồn. Nếu người khác – dù ít ”tài” hơn Tố Hữu, cũng làm như ông… lại sẽ ”mang họa”. Về ”sáng tạo – mang hoạ” này đã xẩy ra câu chuyện bi – hài, một nhà văn trẻ ”lãnh đủ”, nhiều văn nghệ sỹ đương thời khác phải ”rén”. Nội dung câu chuyện như sau : Câu thơ thứ 3 trong Bài Ca Mùa Xuân Năm 1961 Tố Hữu viết :

”Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt.”.

Người ta kể rằng, trong vườn nhà thi sĩ ở có một cây táo. Ông rất qúy nó. Trong thơ thường nhắc đến cây táo. (mà không nói đến cây khác)! ”Xuân về táo rụng nhớ đàn em”… cũng là một câu thơ điển hình về sự yêu qúy cây táo và câu thơ.. nhưng ”cây táo, quả táo của Tố thi sĩ ”, đã mang đến cho người nghệ sĩ miền Bắc tai hoạ ! Đầu đuôi câu chuyên thế này :

Vào khoảng đầu những năm bẩy mươi, trên báo Văn Nghệ, trang dành cho thiếu nhi, đăng tải một truyện ngắn tựa đề ”Cây táo ông Lành”, nhân dịp các em sắp đón tết Trung Thu. Ý tứ của tác phẩm giản dị, lời văn trong sáng, kể về một câu chuyện, có thể tóm tắt :

”Ở một làng kia có một ông lão tên là Lành. Ông sống cô độc trong một căn nhà nhỏ, với một mảnh vườn có nhiều cây ăn quả cổ thụ. Sát hàng rào của khu vườn – mà bên ngoài là con đường dẫn tới trường học của trẻ em – có một cây táo rất to. Mùa hè đến, táo chín rụng xuống vườn, vương trên mặt đường. Hàng ngày lũ trẻ đi học qua thấy táo rụng, chúng rủ nhau lượm. Trước còn ít, sau đứa nọ kháo đứa kia kéo đến ngày một đông… táo rụng hết, lũ trẻ quay ra tìm cách hái trên cây…

Ông Lành thấy lũ trẻ phá quá mới nghĩ ra một cách: buộc lên chạc cây một bọc vải đen, trông như chiếc tổ kiến, ngầm ý bảo chúng chớ trèo lên hái táo, kiến cắn ngã xuống nguy hiểm.

Từ khi nhìn thấy bọc vải – tổ kiến – một đứa nào đó với trí tưởng tượng phong phú thốt lên: Eo ơi ! trông giống hình chiếc đầu lâu ! Đứa khác phụ họa: ”Ma” !… rồi thông tin lan truyền: ”Cây táo có ma” !… Bọn trẻ sợ… không lai vãng ”phá” – nhặt táo nữa !

Ông Lành thấy mấy hôm vắng vẻ, hỏi một đứa cháu học cùng lớp với bọn trẻ kia. Đứa cháu cho biết, vì sợ ”Ma”… chúng bảo nhau không đi đến trường qua ngả đường này, mà chọn đi con đường khác ! Ông Lành vội tháo cuộn giẻ xuống, nhưng lũ trẻ vẫn sợ…

Con đường qua nhà ông giờ trở nên vắng vẻ” !

Tác giả ”Cây táo ông Lành” là anh thương binh Hoàng Cát. Câu chuyện của anh đăng trên báo chưa ráo mực, có tin lan truyền: ”Đây là giọng điệu của bọn Nhân Văn – Giai Phẩm ‘’mớm’’ cho Hoàng Cát đả kích lãnh tụ…”, giống hệt chuyện về nữ thi sĩ Lý Phương Liên trước đó ít lâu (hồi giữa năm 1970), khi chị cho đăng trên báo Nhân Dân chùm thơ tình và bài thơ viết về thân phận nàng Kiều (…) – cũng bị gán ghép như vậy…).

Sau đó, không còn ai biết đến Hoàng Cát. Nghe đồn, anh thương binh Hoàng Cát bị loại khỏi cuộc sông tinh thần sau khi chiến tranh đã loại anh khỏi cuộc đời binh nghiệp. Án văn chương vẫn còn vương vất trên đầu anh, bởi các ngôn tư dùng trong tác phẩm trùng với tên ông Lành – Tố Hữu, rồi ‘’con đường đi qua nhà ông Lành có… ma khiến tụi trẻ tránh xa’’ ! bởi lúc đó ông Tố Hữu vẩn đang tại vị (1960 – 1986)… khốn khổ thay cho Hoàng Cát.’’bọn lính gác lâu đài nghệ thuật’’ (Phê bình văn học) đã thở vào tai Sếp nhưng thông tin méo mó, leeich lạc nhằm tâng công nên anh đã mắc tôi ”phạm húy”… và lãnh đủ !

Đây là chuyện xảy ra ở thập niên bẩy mươi của thế kỷ 20 mà rất giống những cái vạ văn chương thuở xa xưa dưới thời phong kiến, các vua chúa ở những thế kỷ trước đã dành cho những sĩ phu dám ”Khi quân phạm thượng” trong khi viết, nói. Câu chuyện có nội dung phảng phất giai thoại Cao Bá Quát chê thơ vua Tự Đức… nhà vua nổi trận lôi đình…

Cùng thời gian, trong giới VNS miền Bắc nổi lên câu ca dao mới: ”Tên Lành (Tố Hữu) nhưng dạ chẳng lành ! ” – nhại theo 1 câu trong bài ca dao dân gian cổ :

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá ca lặn, trông sao sao mờ

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ !

Bạn đọc ngày nay, nhất là các bạn đọc trẻ (ở cả trong nước lẫn hải ngoại), đọc những giòng này hẳn rất ngạc nhiên về chuyện nghe ra ccó vẻ như đùa. Xin thưa đó là chuyện thực. Dưới thời ông Tố Hữu thống lĩnh đội quân văn hóa – văn nghệ, chuyện o bế, ngăn cấm, trả thù những nghệ sĩ dám nói lên sự thật thông qua các tác phẩm nghiêm túc, thường xuyên xẩy ra . Họ không được phép dùng tác phẩm nghệ thuật của mình xía vô, bàn, nói động đến những chủ trương chính sách do tập đoàn lãnh đạo tối cao đưa ra dù trong đó có những khiếm khuyết, sai lầm. Đây là quan điểm nhất quán toàn diện của một ”Đảng cầm quyền toàn trị”. Bất kể là ai, dù dân thường, Văn Nghệ Sĩ, hay cán bộ cấp nào… vượt qua giới hạn này – bất đồng ý kiến – Nhất định phải bị ”phạt” !

Hoàng Cát lúc đó còn trẻ (sinh năm 1942) , tin ở bút pháp của mình (vì nội dung của câu chuyện anh kể rất nhân hậu, ngôn ngữ giản dị, ôn hoà…), không nhìn lại quá khứ dù mới chỉ hơn chục năm trước, khi TH đối xử với nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Và gần nhất cùng thời anh, họ ”xử”: Hà Minh Tuân (vì tiểu thuyết Vào Đời – 1962), Nguyễn Dậu (vì tiểu thuyết Mở Hầm – 1963), nhất là Phù Thăng (tiểu thuyết Phá Vây – 1962), Việt Phương (tập thơ Cửa Mở – 1970)… Những người này đã nói lời tâm huyết, nhân bản, trí tuệ… đều bị trừng trị : Treo bút, về vườn, sống trong đau buồn, đói khổ, chua chát !

Cái vạ văn chương của Hoàng Cát kéo dài gần hai mươi năm. Mãi gần đây, trên mấy tờ báo lớn, anh xuất hiện trở lại với những bài thơ mà đọc lên người đọc cũng thấy đồng cảm với nỗi buồn của anh. ”Cây táo ông Lành” là một trong nhiều bi kịch của đời sống Văn Nghệ Sĩ miền Bắc, trong giai đoạn ông Tố Hữu đứng đầu đội quân tư tưởng – văn hóa, nơi tồn tại ”Nền văn chương phải đạo, Văn chương minh hoạ”(…).

Tình yêu đôi lứa của ”Thi sĩ máy” – người cộng sản ”gộc”, được phân chia theo tỷ lệ, cấp độ… trở thành ”Yêu giả”, ”Đại ngôn”- như ông đã thừa nhận – Có thể xem là cá tính điển hình đặc trưng của Tố Hữu, do sùng bái học thuyết Mác – Lênin, được nhiệt tình cách mạng ”hun đúc” – tạo ra !

xxx

Câu : Mắu ở chiến trường, Hoa ở đây – làm chúng ta chú ý, liên tưởng tới vấn đề khác !

Nếu mới đọc lướt, chỉ tưởng Xuân Sách chơi chữ, cốt lấy hai chữ MẮU và HOA, tên một bài thơ, được lấy làm tựa đề cho tập thơ xuất bản hồi cuối những năm bẩy mươi của Tố Hữu. Hoặc chỉ cốt cho vần, hợp với ý nghĩa cũa ”Chân dung nhà văn”.

Nhưng không !

Đằng sau những câu thơ kia, Xuân Sách đã gửi tới người đọc bức thông điệp quan trọng. Muốn rõ điều này, chúng ta hãy quay trở lại qúa khứ của những năm 1968 – 1975.

Dạo đó… Đêm 31 rạng ngày mùng một Tết dương lịch 1968, phương tiện thông tin đại chúng của miền Bắc, đăng tải, đọc liên tục mấy câu thơ chúc tết của cụ Hồ :

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta!

(Từ đây trở xuống chưa biên tập)

Tiếp theo, đêm giao thừa Tết nguyên đán Mậu Thân năm 1968, cuộc tổng tiến công của quân giải phóng diễn ra trên địa bàn toàn miền Nam, gây cho cả 3 bên Mỹ, Sài Gòn và Hà Nội nhiều thiệt hại về người và của cải... Trên thực tế, tại thời điểm năm 1968 - 1972, Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà chưa đến với những người cầm đầu cuộc chiến tranh: Tổng thống R. Nichxon vẫn còn uy tín, phe cánh vẫn chiếm ưu thế trong quốc hội và chính quyền Hoa Kỳ. Có khả năng tái đắc cử tổng thống khóa tới.

Quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc đã và đang được cải thiện bằng việc hai bên đã tiến hành ''đi đêm với nhau qua ngoại giao bóng bàn'' (...) để phân chia quyền lợi của họ trên bàn cờ chính trị thế giới và vùng châu Á Thái Bình Dương...

Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc - hai trụ cột chính, chỗ dựa chủ yếu của miền Bắc trong cuộc chiến đang gay gắt. Thể hiện rõ nhất là vụ hai bên dàn trận đánh nhau trên sông Amua - biên giới Xô - Trung...

Tiềm lực của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà lúc này rất yếu. Viện trợ quân sự, kinh tế của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam không thỏa đáng vì sự bất đồng kia. Mặt khác, cũng do muốn khống chế Việt Nam trong vòng cương tỏa để dễ bề thao túng, thực hiện mục đích lợi ích của riêng mình... những người lãnh đạo của hai ''đại gia'' này có ý kiềm chế Việt Nam nên chỉ cung cấp cho ''thằng em dại'' vừa đủ sống, không cho vũ khí nặng, vũ khí chiến lược, chỉ cho loại vừa và nhẹ, số lượng hạn chế... (Đặc biệt -  sau này được tiết lộ -  Họ hoàn toàn không muốn Hà Nội dứt điểm cuộc chiến tranh...).

Miền Bắc mùa màng thất bát, thực hiện chính sách Hợp tác xã nông nghiệp lạc hâu, kìm hãm sản xuất, dân đói khổ, lòng dân ly tán, kinh tế kiệt quệ. Tất cả những yếu tố đó đã ảnh hưởng trực tiếp, toàn diện đến hoạt động quân sự. So sánh cục diện của hai bên... còn đầy dẫy bất lợi. Thế mà người ta vẫn cứ phát động cuộc tổng tiến công. Kết quả của việc làm này chúng ta đã thấy, đúng như câu chuyện huyền thoại ''Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non'' : Tất cả đều chết yểu ! Phương tiện tuyên truyền gọi cuộc tổng tiến công Mậu thân 1968 là  ''cuộc tập dượt vĩ đại '' (...)!

Máu xương của hàng trăm vạn người đổ xuống, chỉ làm những việc ''tập dượt vĩ đại'' ư ? Không, ngoài ra còn để thỏa mãn căn bệnh ngông cuồng, hiếu danh, ích kỷ của một nhúm người mang trong mình chứng bệnh tự kỷ ám thị, tự vỗ ngực có cái đầu sáng suốt, trí tuệ ''thiên hạ vô địch'', ''bách chiến bách thắng'' !...

Trước những chứng nhân của lịch sử, lý luận sắc bén, khoa học, bộ máy tuyên truyền được lệnh bào chữa một cách dè dặt : ''...Dù sao, đó cũng là một chiến thắng (!). Có cuộc tổng tiến công Mậu thân 1968, Mỹ mới chịu từ bỏ ý định xâm lược Việt Nam, rút quân (...), mới có chiến thắng mùa xuân năm 1975, thực hiện được lòng mong muốn của Bác kính yêu : ''Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho được độc lập dân tộc !''

(Câu này cụ Hồ nói vào năm 1944, lúc đang bị bệnh nặng).

Lời khẳng định này chỉ là ý kiến mà chúng ta nghe được từ bộ máy tuyên truyền của phía Việt Nam, còn thực chất, bên trong và ý đồ chiến lược toàn cầu của Mỹ trong việc rút bỏ Việt Nam, nhất là từ sau khi Henri Kit xinh giơ lén lút đến Bắc Kinh, Tổng thống R. Nichxon đi thăm Trung Quốc được Mao Trạch Đông tiếp đón nồng nhiệt... họ đã thống nhất với nhau những gì... phân chia quyền lợi, ảnh hưởng của Mỹ - Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương ra sao - chúng ta không hề biết. Nếu suy nghĩ kỹ sẽ nhận ra ngay : Mỹ rút bỏ Việt Nam không hoàn toàn do Mỹ thua trong cuộc chiến - theo ý nghĩa hẹp mà phía lãnh đạo Việt Nam hiểu. Mỹ ra đi còn vì đã thực hiện được ý đồ, sau khi đã bắt tay với Trung Quôc, phân chia quyền lợi ở khu vực này... (Bây giờ thì Chú Sam đã thấm đòn rồi...).

xxx

Giành được ''chiến thắng'' mà đất nước đổ nát, tan hoang, non sông bị hủy hoại, máu chảy thành sông, xương chất thành núi, dân tộc đói nghèo rồi lại đi cầu cạnh để làm ''đầy tớ'' cho kẻ khác, thậm chí laị phải muốn nhờ chính kẻ thù cũ của mình, để làm lại từ đàu...  liệu cuộc chiến đó, chiến thắng đó có đáng không ? Có nên không ?

Điều cần suy nghĩ: Khi người Mỹ đang ở Việt Nam, đang ''giúp'' Việt Nam dù là giúp người anh em của mình khác quan điểm với mình về xây dựng đất nước trong hướng đi, đường lối. Nhưng nếu thông minh, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết thì phải hành động khác đi. Trái lại, những người lãnh đạo miền Bắc – chủ yếu là hai ông Lê Duẩn – Lê Đức Thọ, với bản chất hẹp hòi với dân tộc nhưng lại hào phóng lòng trung thành với hệ thống cộng sản thế giới, chỉ biết cúi đầu vâng theo cái gậy chỉ huy của ngoại bang, phát động cả dân tộc hùng hục lao vào cuộc chiến tranh không cân sức phục vụ cho lợi ich của TQ, LX để họ thể nghiệm chiến lược, thử sức với Mỹ hoặc TQ muốn cho ‘‘thiên hạ đại loạn‘‘ để ‘‘đục nước béo cò‘‘ - Giải tỏa những mậu thuẫn nội bộ đang sắp bùng nổ! (Sau này mục đich đó của họ bộc lộ rõ nhất...). Thế nhưng các vị ‘‘con cưng‘‘ của dân tộc Việt Nam vẫn không hề nhận ra thâm ý này mà cứ tiếp tục kiên trì thực hiện phục vụ TQ, LX : Đánh Mỹ đến người VN cuối cùng!

Giá như làm xong việc đó, người ta xây dựng lại đất nước ''hơn mười ngày nay'' thì đi một nhẽ. Đằng này, những người ''chiến thắng'' bị o ép, tiếp tục làm tay sai cho ý thức hệ CS... điều tệ hại nhất : Bị ngay chính thằng ‘’anh Hai phản phúc'' nện cho những đòn chí tử, ''trừng phạt'', ''dậy cho bài học''... lúc này ''cha con'' mới thấm đòn, nhận ra, được Mỹ đến đứng đằng sau để có chỗ dựa lưng là một vinh hạnh... có lợi cho đất nước, dân tộc. Thử đặt lại câu hỏi : Nếu vẫn còn chính quyền của ông Nguyễn Văn Thiệu, vẫn còn người Mỹ chống lưng thì liệu Trung quốc có dám ngang nhiên đánh chiếm quần đảo Hòang Sa, Trường Sa của ta không ? Tất nhiên có thể kết luận dứt khoát - không ! Lợi dụng lúc hai anh em nhà kia bận đấm đá nhau, Chú Sam chán nản rũ áo ra đi, anh hàng xóm xấu bụng mới thừa nước đục thả câu và họ đã vớ bẫm : Cướp không cả một quần đảo, sau này tiếp tục cướp những đảo khác, và điều tệ hại nhất : Đang thực hiện chiếm cả vùng biển đông. Còn dân tộc ta chẳng những mất biển đảo mà còn mất nhiều đất đai trên biên giới phía bắc và tạo ra rất nhiều tai họa , hệ lụy khác....

Bây giờ mới mở to mắt nhìn ra ngoài thấy những tấm gương các nước cùng hoàn cảnh như Việt Nam, đã trở thành hùng cường như thế nào khi có sự hiện diện của người Mỹ :

Hai vùng Đông - Tây nước Đức (Tây - Đông Đức) và nước Đức thống nhất.

Hai miền Nam - Bắc Triều Tiên (Nam Hàn phát triể).

Hai khu Lục địa (Trung Hoa) - Hải đảo (Đài Loan), Hồng Kông! Mà sự chênh lệch hơn hẳn về mọi mặt. Và ngay cả các nước đại bại trong chiến tranh thế giới thứ 2, được nước Mĩ giúp đỡ - đã chuyển mình, trở thành hùng cường về kinh tê như : Nhật Bản, Đức, Pháp, Ý...Còn Việt Nam thì đã quá muộn và lỡ trớn chỉ vì một số người lãnh đạo tình nguyện làm nô lệ cho một lý thuyết không tưởng, cùng với căn bệnh cố hữu truyền thống : Kiêu căng, tự mãn, thiển cận, sĩ diện hão... và vì vậy Việt Nam đâu còn cơ hội chuyển mình, chỉ còn biết luyến tiếc một thời đã qua.  Ngày hôm nay, trước sự kiện thống nhất đất nước trong hoà bình, trong phát triển phồn vinh thịnh vượng của nước Đức - là một thí dụ sống động để chúng ta cùng suy nghĩ. Té ra - liệu có thể coi - ''Cuộc kháng chiến  chống Mỹ cứu Nước '' trở nên vô ích không ? Nói ’’cuộc chiến tranh Chống Mĩ cứu nước vô ích’’ có thể xúc phạm đến vong linh của hàng triệu người. Nhưng phải hiểu sâu hơn : Vì đâu mà hàng triệu người dân Việt chết, Cần truy tìm tận gôc rễ của thảm họa này !

Máu của gần chục triệu người Việt đổ ra thành biển, xương thịt của ngừời Việt chất cao thành núi nhưng chẳng để làm gì, hoàn toàn không cần thiết cho nhân dân Việt Nam, ngoài việc làm mát lòng, hả da một nhúm người dốt nát - nối tiếp dốt nát - mù quáng, điên rồ, tự rước thư lý thuyết phản nhân loại vào để thờ cúng và làm nô lệ rồi hấng lấy tai họa diệt chủng ! Xin con dân đất Việt -  gìa cũng như trẻ - hãy thẳng thắn, khách quan, nghiêm khắc mà nhìn nhận vấn đề này để không bao giờ đi lại con đường này nữa ! Trước hết - các vị đệ tử trung thành của học thuyết Mác – Lênin có chút trí tuệ, còn chút lương tri hãy ăn năn, xám hối về lỗi lầm. Tiếp theo - những người ăn theo ''hưởng bổng lộc của vua thì phải hết lòng với vua'' - như lời những quan lại xưa vẫn tự an ủi khi phải thực hiện nghĩa vụ, lúc bị rơi vào hoàn cảnh ''Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung...'' - (vua bắt chết, bầy tôi không dám chết là bất trung) - Nên dù biết mình đang làm một việc vô nghĩa, trái lương tâm, hại cho dân tộc, nhưng vì sĩ diện quân tử Tàu, phong kiến, vì quyền lợi nhỏ nhoi được ''thưởng thi'' - vẫn phải nói, làm ngược lại ý mình, thậm chí chết cho... ''Vua'' !

Sau nữa: Những Trí thưc, Văn Nghệ Sĩ và đến lượt chúng ta - Cả dân tộc Việt Nam - Có dám đối diện với sự thật khách quan, tàn nhẫn này không !? Nếu nhận ra - dù qúa muộn nhưng hãy lên tiếng phán quyết đi! Phán quyết để con chắu các vị nhớ, muôn đời sau mà tránh, không tiếp theo bươc chân sai lầm của cha ông, tổ tiên họ


xxx

Nhân dân ta bị cuốn hút vào cuộc chiến mấy chục năm. Mảnh đất Việt Nam biến thành nơi tụ vạ của những thế lực đối đầu nhau, nơi thử nghiệm các quan điểm chính trị, các chiến thuật, chiến lược quân sự, thậm chí để cho những lái súng thí nghiệm các phương tiện chiến tranh, các loại vũ khí giết người tàn độc nhất - kể cả vũ khí hóa học - để lại cho dân tộc ta di hại, cho đến bây giờ vẫn còn phát tác, nhiều năm sau vẫn chưa dứt . Một triệu trẻ em bị tàn tật. 150 nghìn em bị di hại của chất độc mầu da cam - là những con số chúng ta không được quên (Số liệu của VTV 4). Điều quan trọng đáng nói : Dân tộc chúng ta đã làm kẻ lót xác cho đòan quân bành trướng thực hiện giấc mộng điên cuồng’’giấc mơ Trung Hoa’’.

Nước Việt Nam hôm nay mang trên mình những vết sẹo. Ngoài danh nghiã tự phong ’’thắng Mỹ’’ ra, chỉ còn lại hậu quả chiến tranh : Sự tàn phá toàn diện với hơn 2,5 triệu người chết (theo số liệu rút từ Phim Việt Nam Thiên Lịch Sử Truyền Hình của Hoa Kỳ, được đài Truyền Hình Việt Nam trình chiếu), hàng triệu người khác tàn phế, bệnh tật, rồi chết dần. Đất nước điêu tàn, dân tộc nghèo đói, ly tán, bất đồng, thù hận... do bị một nhóm người ép thực hiện''nghĩa vụ làm người lính trên tuyến đầu bảo vệ phe XHCN'', để chứng minh : Ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin là vô địch, bách chiến bách thắng - như bộ máy tuyên truyền ngày đêm khoa trương !

Bây giờ phe XHCN đâu ?

Học thuyết Mác - Lênin đâu ?

Tất cả đã tan vào mây khói ! Chỉ còn lại nước Việt Nam nghèo đói với những hậu quả do chiến tranh liên miên để lại : Sự phát triển thụt lùi, thua xa các nước trong vùng hàng mấy chục năm.

xxx

Tai họa của cuộc chiến tranh chống Mỹ vừa ngưng được 4 năm, dân tộc ta lại gánh chịu tai họa mới : Thằng ''anh Hai phản phúc - TQ'' do bị  đàn em ngăn chặn bước chân bành trướng, nên cho rằng chúng chọc giận, đã nổi cắu nên xua quân sang ''dậy cho thằng em dại, tên tiểu bá, kẻ vong ân bội nghĩa... một bài học'' (2/1979). Bài học quá đắt : Sáu tỉnh dọc theo biên giới phía Bắc bị tàn phá, hủy diệt theo kiểu ''Trung cổ'' - nghĩa là đúng với từ hủy diệt : Nơi nào quân đội của chúng đi qua, nơi đó trở thành bình địa, một mảnh tường nhà cũng không còn sót ! Mọi sinh vật từ chó mèo, chuột bọ đến côn trùng rắn rết... đều bị tiêu diệt. Hơn sáu mươi vạn người điêu đứng, nhà tan cửa nát, chết chóc, bị thương. Các thành phố, thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Giang, Lai Châu được xây dựng hàng trăm năm, bị ''Hồng quân Trung Quốc'', bộ đội của ''Bác Mao'', làm cho không còn dấu vết của những Thành phố, Thị xã có hàng chục ngàn dân sinh sống, trở thành bãi trống, đồng không!

Sự kiện này làm chúng ta nhớ lại quá khứ gần:

Vào thời điểm cuộc chiến tranh Nam - Bắc đang trên đà phát triển... mỗi đêm khuya nhân dân sống ở thị xã Móng Cái (Quảng Ninh) nghe thấy tiếng súng nổ, tiếng gào thét từ bên kia biên giới vọng sang... rồi sáng sớm hôm sau, dân chúng đứng trên bờ sông, trên cầu Kalong, trên đầu cầu Bắc Luân nhìn những xác người lơ lửng trôi ra biển mà rùng mình. Cuộc đại cách mạng văn hóa của Trung Quốc đã tác động đến Việt Nam... Ngay trong thời gian đó, vụ án ''xét lại chống đảng'' bắt đầu. Trong hàng ngũ lãnh đạo chóp bu cuả Việt Nam cũng diễn ra những xáo động nghiêm trọng. Nhóm này thân Liên Xô, bị nhóm kia thân Trung Quốc chèn ép, tiêu diệt. Nhóm thân ''Tàu'' mạnh hơn, đè bẹp nhóm thân ''Nga''. Hàng loạt người của nhóm thân Nga bị loại khỏi chính trường, vào tù, thậm chí bị đầy đọa thê thảm.

Nhóm thân Tàu triển khai sự ''thân tín'' của mình với Trung Quốc trên mọi mặt đời sống của xã hội miền Bắc. Từ chính trị, kinh tế, quân sự, đến khoa học, văn hóa... nhất nhất đều theo mô hình của Trung Quốc. Văn Nghệ lại càng thể hiện rõ hơn hết chủ trương này. Qua hệ thống thông tin đại chúng, người dân miền Bắc được thuyết phục : Trung Quốc, đứng đầu là Mao Chủ Tịch, người ''chiến sĩ kiên cường'' chống đế quốc Mỹ - kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Trung! Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Liên Xô cùng ''bè lũ tay sai'' ở trong đảng hai nước là những tên ''xét lại hiện đại'', đang phản bội phong trào cộng sản quốc tế và nhân dân hai nước Việt Nam, Trung Hoa...

Ông Tố Hữu chỉ huy đội quân Văn hóa - Tư tưởng huy động tối đa khả năng mình nhằm phục vụ cho chủ trương quan hệ mật thiết với Trung Quốc này. Nghệ thuật, Văn chương, Báo chí... tung ra những sản phẩm của mình ca ngợi Trung Quốc. Trong vô vàn những sáng tác đó, người ta chú ý một câu khẩu hiệu hình ảnh độc đáo :

‘‘Việt Nam Trung Hoa như Môi với Răng - Môi hở Răng lạnh !‘‘

Giới cần lao miền Bắc bịt mũi mà cười !

Bà con ta quá rõ bụng dạ của ''người anh em hàng xóm'' nên dùng ngôn ngữ dân gian ví mối tình này cụ thể, tuy ''hơi'' thô thiển, nhưng chính xác một cách dân dã: ''Khăng khít như... cứt với... đít''. Qủa thật lời ví này đầy hình tượng, lại cảm nhận được bằng ngũ gíac. Môi với Răng... hừm... hàng nghìn năm nay Răng chỉ tìm cách cắn, ăn, ngoạm – Môi. Lần này, chúng ta sẽ xem cái Môi và Hàm Răng kia ra sao ? Sự khăng khít của ’’Cứt’’ và ’’Đit’’ kia... thế nào ?

Trước hết, ồn ào hơn phải kể đến bài hát của Nhạc Sỹ Đỗ Nhuận, chánh Tổng thư ký hội âm nhạc (tác giả bài Du Kích Sông Thao nổi tiếng -  sáng tác hồi kháng chiến chống Pháp). Theo lời dậy của ''trên'', ông ''chánh tổng'' cắm cúi vội vàng viết bài hát, tung ra cho các đoàn văn công, đài phát thanh trung ương và các tỉnh hát để hưởng ứng nhằm làm cho quần chúng quán triệt tinh thần của trung ương, chứng tỏ thực bụng của lãnh đạo nước nhà đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh, hòng tranh thủ sự ủng hộ ''toàn diện'' của họ. Tác phẩm - ca khúc âm nhạc Việt Nam - Trung Hoa của Đô Nhuận (sau này TQ chứng minh đó là bài hát của TQ bị ông cháng tổng ‘’thuổng...nhạc’’, đặt lời Việt), được nhạc điệu, tiết tấu và nhất là lời của bài hát nói rõ mục đích ''thân Tầu'' này:

''Việt Nam Trung Hoa,

núi liền núi, sông liền sông,

chung một biển đông,

mối tình hửu nghị sáng như vầng đông.

Bên sông uống cùng một dòng,

Anh ở bên ấy, Tôi ở bên đây,

sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy rộn.

a…a !

Chung một ý, chung một lòng,

đường cách mạng thắm màu cờ hồng

A! a... Nhân dân ta ca muôn năm.

Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông''!

(Hiện nay đã xac định: Bài hát này nhạc của Trung Quốc, Đỗ Nhuận chỉ đặt lời Việt. Nhưng thời đó ông Đỗ ghi là sáng tác của Đỗ Nhuận. Chưa hết: Khi cụ Hố mất, ông Đỗ  lại công bố  một bài hát rất hay ca ngợi công đức của cụ,  tên bài hát Trông cây lại nhớ đến người... mươi năm sau, té  ra bài hát đó là do Đỗ nhạc sĩ lấy giai điệu dân ca Nghệ  Tĩnh và đặt lời...

Còn nữa: Ngay cả bài Kết Đoàn do chính cụ Hồ luôn động viên cán bộ , nhân dân hát…bây giờ té ra - đó cũng lại là bài hát của TQ. Chuyện Đạo Nhạc đang lan tràn hiện nay là căn bệnh di truyền do những ‘‘Cha, ông‘‘ - truyền lại cho con chắu!)

Tuy cúc cung tận tụy như vậy nhưng ông nhạc sĩ ‘‘đầu bảng‘‘ cũng đâu có xuôi chèo mát mái trên đường quan lộ. Anh em bên Văn Nghệ Quân Đội kể lại câu chuyện mà đau lòng cho kiếp Trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của những võ biền được đặt ngồi trên ghế mà quát thao ‘‘Văn Nghệ phục vụ chính trị‘‘ như chỉ huy quát lính tráng. Đó là chuyện về bài ca Việt Nam Quê Hương Tôi. Bài hát khá hay của Đỗ Nhuận. Ông sáng tác bài này vào năm 1961 - sau khi đảng Lao Động Việt Nam đại hội lần thứ 3, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam vừa ra đời.

Trong lời 2 của VNQHT có đoạn:

Miền Nam yêu dấu, quê hương chúng tôi

Có rặng đừa xanh, xa tít chân trời

Người thiếu nữ dạt dào tình trẻ

Dáng xinh tươi sao chẳng muốn cười

...

Một lần - Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Nguyễn Chí Thanh dự buổi trình diễn ca nhạc của đoàn Văn Công TCCT. Dàn đồng ca gần trăm người hát bài Việt Nam Quê Hương Tôi. Một nam ca sĩ (có tiếng đương thời) lĩnh xướng... Giọng ông khoẻ, vang xa khiến cả hội trường lặng đi, đắm chìm trong ca từ và âm hưởng được phối âm, phối khi bằng kỹ thuật điêu luyện. Sáng hôm sau, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đang cùng đồng nghiệp ở văn phòng Hội Nhạc sĩ bàn luận về buổi biểu diễn tối qua thì chuông điện thoại reo. Ông nhấc máy nghe... bật ra những tiếng vâng... dạ... rời rạc rồi lẳng lặng đứng lên đội mũ ra xe - đi! Ông được gọi tới văn phòng của Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh. Vừa bước qua ngưỡng cửa, Đỗ Nhuận đã nhận được câu hỏi gịong gaỳ gắt: Tại sao anh viết ‘‘Người thiếu nữ dạt dào tình trẻ. Dáng xinh tười sao chẳng muốn cười?‘‘. Cuộc nổi dậy của đồng bào và chiến sĩ miền Nam long trời lở đất... nhân dân hồ hởi phá thế kìm kẹp của Mỹ -  Ngụy mà anh lại bảo ‚‘‘... chẳng muốn cười‘‘ - Tại sao?

Nhạc sĩ tài ba không còn có thể diễn đạt, thanh minh về lời bài hát cho viên tướng, mà chỉ đứng nguyên nghe Nguyễn Chí thanh ‘‘xài xể‘‘... Mãi sau ông ta ra lệnh - như từng ra lệnh cho mọi thuộc cấp !

Thật tội nghiệp cho Đỗ Nhuận.

Ông viết như vậy chỉ là nhằm nói lên rằng: Miền nam yêu dấu của ông tươi đẹp, rằng những cô gái xinh tươi... chẳng muốn cười vì quê hương họ còn đang đầy mắu lửa. Chỉ thế thôi! Mà trong một bài hát, lời ca như vậy là đủ chứ đâu có như ông Đại Tứơng suy diễn. Theo nhiều người được chứng kiến sự kiện này - kể lại : Mấy hôm sau đích thân nhạc sĩ phải lên gặp, đứng trước mặt Nguyễn Chí Thanh hát lại đoạn ca từ này - được sửa thành:

Miền nam đất nước, quê hương chúng tôi

Có rừng dừa xanh xa tít chân trời

Người thiếu nữ dạt dào tình trẻ

Dáng xinh tươi đang tuổi yêu đời...

( ca từ này tồn tại cho đến ngày nay)

Dưới cái nhìn của một Nông dân, học hành thầp kém nhưng là Đảng viên cao cấp của đảng CSVN đã được phép vặn vẹo, mạt sát người nghệ sĩ. Thực chất hành động này chỉ nhằm ra oai quỳền lực tối thượng của đảng cộng sản. Phù hợp với quan điểm mà đảng CSVN tiếp thu nhiệt thành tư tưởng Mao Trạch Đông. Theo dư luận của gìời tướng lĩnh thời đó, nhiều người có vai vế chức quyền có dịp sống, làm việc cùng thời với ông tướng Nông Dân này đều nhận xét rằng: Nguyễn Chí Thanh là người thấm nhuần sâu sắc nhất tư tưởng của Mao Trạch Đông trên mọi bình diện, đặc biệt là coi ‘‘Trí thức không đáng gía bằng cục phân‘! Việc nhạc sĩ Đỗ Nhuận bị’’xài xể’’ là một minh chứng cho nhận xét đó!

Còn nhạc sỹ Huy Du - ông phó  Chánh Tổng thư ký hội Nhạc sĩ - thì ca ngợi mối tình Việt Nam -  Trung Hoa trường cửu như cây Gạo, thắm đỏ như hoa của nó. (hoa gạo, tiếng Hoa gọi là hoa Mộc Miên). Huy Du thường viết những ca khúc ca ngợi người chiến sĩ. Thính giả nghe Radio miền Bắc còn nhớ những bài hát tiết tấu hừng hực kích động, lời ca hùng tráng của ông:

''Anh vẫn hành quân,

trên đường ra chiến dịch,

mé đồi quê anh bước,

trăng non ló đỉnh rừng !

Anh vẫn hành quân.

Lưng đèo qua bãi suối

Súng ngang đầu anh gối

Anh đi khắp chiến trường...

....

(bài Anh Vẫn hành quân, thơ Tràn Hữu Thung)

hoặc đầy tình cảm:

''...Nguyễn Viết Xuân,

lời anh nói thiết tha

theo làn gió bay xa

như khúc ca giục dã

thôi thúc trong lòng tôi

tiến quân trên đường dài...

Đường hành quân,

qua núi cao vực sâu

Tôi đi hờn căm lăn trong máu...

Kể từ nay sông núi hay biển khơi,

còn ghi dấu chân anh đời đời...''

(bài Cùng Anh tiến quân trên đường dài, thơ Xuân Sách) .

Thế mà chẳng hiểu sao lần này ông ''phó chánh Tổng'' lại cho ra ca khúc Hoa Mộc Miên, Điệu Thức Thứ - ca ngợi mối tình Việt, Hoa, mà điệu thức này người ta thường để diễn tả tình trạng mất mát, đau buồn - trong khi lẽ ra tinh thần của cấp trên lại muốn nhân dân miền Bắc phải hồ hởi, vui mừng khi hát bài ca ngợi mối tình hữu nghị Việt - Trung.

Đến khi các ca sĩ hát Hoa Mộc Miên, cố tạo ra sự rung động cho khán thính giả, vì vậy ngừơi nghe càng thấy buồn não ruột ! Người ta có cảm tưởng nhạc sĩ Huy Du ''linh cảm'' trước thấy mối tình ''hũu nghị vừa là đồng chí, vừa là anh em'' chẳng được bao lâu ! Tuy ông quán triệt tinh thần của ''trên'' cố sức ca ngợi... nhưng ngòi bút, nốt nhạc không nghe chủ, cứ tự phát theo xu thế tự nhiên của nó !

Lại nữa, ông đã ví mối tình Việt- Trung là ''anh em'',''mối tình của đôi ta''. Lại một câu vi làm người dân Việt Nam xóc óc. Làm gì có chuyện đó! Thực ra có thể có cái mối tình kia, nhưng đó là mối tình của ông chủ và người tì thiêp, mỗi khi hứng lên hay tức giân vì bà cả ’’Phạt’’, ông chủ vớ lấỳ cô nô tì... đổ, xả cho đở bí, tắc để ’’đả thông kinh mạch’’ keỏ nếu chậm là ’’Tẩu hỏa nhập ma’’!

Cây Mộc Miên - Cây Gạo là một loại cây thường được tổ tiên ông cha chúng ta trồng ở cổng đền chùa. Cây to, cao sống rất lậu nhưng gỗ nó thì xốp, không thể dùng để đóng đồ mộc quý hiếm như những cây gỗ khác, ngoài việc xẻ ra làm ván hòm chôn người chết - nghèo. Hoa Gạo trông bên ngoài, mới nở thì đỏ rực, chỉ sau ít lâu, hoa tàn, rụng đầy gốc xả ra nhửng nhúm bông tơ mảnh trắng, bay tơi tả, vung vãi khắp nơi. Còn xác hoa biến thành màu đen kịt, thối rữa, ruồi nhặng ong bọ kéo tới bâu đầy. Ông Huy Du chỉ nhìn thấy sắc hoa đỏ rực lúc mới nở mà quên đi tình trạng hoa tàn nên vội lấy nó lập ý cho nhạc phẩm của mình. Mời bạn nghe toàn văn lời một (có hai lời) bài Hoa Mộc Miên của Huy Du :

Mộc Miên hoa ơi !

mỗi khi qua cầu biên giới,

thấy hoa Mộc Miên nở lòng thấy bồi hồi.

Mộc Miên hoa ơi,

ngày xưa cũng ở nơi đây

Máu hai dân tộc anh hùng,

hoà trong núi rừng xanh thắm

chống kẻ thù chung,

mỗi khi hoa Mộc Miên,

bông trắng bay theo gío triền miên.

Này Việt Nam, này Trung Hoa

đôi ta như sông Hồng đỏ thắm

Mang theo phù sa tưới bốn phương trời

Có phải nơi đây, khi xưa mọc lên,

bông hoa Mộc Miên,

đời đời ghi nhớ mối tình của đôi ta.

Mang theo giòng mắu anh hùng ca

Mộc Miên cao vút trên trời xa

Như bài thơ ngân mãi tromg lòng ta !...

(Thật qúai lạ: Không hiểu hai dân tộc anh hùng ‘‘chống kẻ thù chung‘‘ ở  biên giới Việt Trung - là kẻ thù nào vậy nhỉ? Pháp đâu có xâm chiếm Trung Hoa? Còn Việt – Hoa đâu có môi tnh của ’’đôi ta’’. Nếu có – như HD đã nói ở trên - chỉ là mối tình của ông Chủ với người Tì thiếp...)

Sự ''linh cảm'' của Huy Du qủa thật linh nghiệm: Chỉ mới hơn 10 năm sau - Đêm, rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, nhân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đang ngon giấc thì... hàng chục vạn ''bộ đội Bác Mao'' lặng lẽ vượt đường biên, dùng chiến thuật ''Biển Người'' đồng loạt tấn công ''người anh em, người tình của đôi ta''. Dân chúng sinh sống trên dọc đưòng biên giới bàng hoàng, chỉ còn kịp... hai bàn tay trắng... chân đất, thất thểu, bồng bế, bìu ríu nhau chạy bộ xuyên núi rừng về xuôi lánh nạn. ''Mối tình của đôi ta'' biến thành mối hận thiên thu của nhân dân Việt Nam và ''lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc nhằm giữ nước'' - tiếp tục lặp lại !

Bây giờ thì chúng ta càng rõ cái Môi và hàm Răng kia  là của hai người - ông chủ và tì thiếp. Khi người tì thiếp hôn ông chủ thắm thiết thì... ông chủ dùng hàm răng cắn... mắu me của cô nô tì chảy ra lênh láng... Còn nói theo dân gian ta: Sự khăng khít của Cứt và Đít tất mùi bôc ra phải thối hoắc ô nhiễm cả không gian nhiều ngày trên giải biên giới gần nghìn cậy số!

Đúng như Huy Du miêu tả. Trước tháng 2/1979 ở hai đầu cầu phía bên thị trấn Hán Khẩu (tỉnh Vân Nam Trung Quốc) và phố Tèo, thị xã Lao Cai (Việt Nam),  có rất nhiều cây Gạo cổ thụ. Mùa hoa gạo, hai bên cầu đỏ rực. Sau tháng 2/1979 phố Tèo không còn dấu vết... Những cây gạo đã bị bom mìn của quân đội Trung Quốc gài tận gốc hủy diệt, còn những cây gạo ở bên thị trấn Hán Khẩu thì vẫn y nguyên cổ thụ !

Khác với những người lãnh đạo, bà con ta vốn biết ''người anh em'' này từ lâu nên không lấy làm lạ trước hành động của họ. Khi bị chạm tự ái... động đến quyền lợi... không nghe lời họ... bất chấp lời dậy của tỗ sư Karl Marx : ''Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại'', bất chấp ''Mối tình hữu nghị của đôi ta (...)'' do ''hai Đảng, hai Bác dầy công vun đắp'', họ đã thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với nhau. Cuối cùng thì nhân dân Trung Hoa và Nhân dân Việt Nam là người gánh chịu tất cả !

Cũng giống như hơn mười năm trước :

Trên biên giới Xô - Trung và cuộc đánh nhau trên sông Amua (phía Bắc) của hai đại quốc gia như cuộc tranh giành của hai Thảo khấu...

Trên biên giới Ấn - Trung và cuộc đánh nhau chiếm đất ven đường biên giới Mắc Ma Hông (phía Tây) của hai láng giềng cân sưc ra oai cảnh báo nhau...

Lần này là biên giới Việt - Trung (phía Nam), và cuộc ''dậy cho Việt Nam bài học'' – là cuộc đánh nhau chỉ vì kẻ ’’hỗn xược’’, ’’vong ân bội nghĩa’’ và Người cay cú tự ái. Đối với Việt Nam : Tấn thảm kịch chống ngoại xâm lại tái diễn!

Một bên thì hả hê vì trút được giận, còn bên kia thì đau đớn ê chề. Tệ hại nhất là những người đã một thời ''lên voi'' được coi là ''cách mạng triệt để'', sau sự kiện chiến tranh biên giới phía Bắc - trở thành tay sai của bọn Bành trướng bá quyền nước lớn - lại ''xuống chó''! Số phận của họ thật hẩm hiu, thậm chí còn bi thảm hơn những người theo phái ''thân Nga'' trước đó mấy năm, bị ngay chính một số người trong số họ tham gia ''xử lý nội bộ những tên xét lại hiện đại''. Giờ đến lượt bị trả báo : Hoàng Văn Hoan (ủy viên Bộ Chính Trị - Khoá III) bị o ép, chạy trốn... bị ghép tội danh phản quốc, bị tuyên án tử hình vắng mặt... Chu Văn Tấn (Thượng tướng, UVTƯ (khóa III), người cùng Võ Nguyên Giáp sáng lập, lãnh đạo Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân - Tiền thân của quân đội Việt Nam ngày nay - chạy trốn... nhưng bị bắt giữ, vào tù rồi chết trong đau buồn...Nguyễn Thành Long, giám đốc kiêm bí thư đảng ủy Công ty điện lực miền Bắc. Huỳnh Ngự - cục phó cục chấp pháp, cùng rất nhiều người khác lãnh đòn... (...).

Đúng là thiên lý tuần hoàn !

Báo chí, văn thơ, nhạc, họa, truyền hình... và nhất là những ''thằng Mõ'' lại ra rả giọng hát, câu thơ, bài bình luận và những cuốn sách dầy cộp tâng bốc, gọi những nạn nhân của cuộc tranh chấp là ''người đứng trên tuyến đầu'' (lại tuyến đầu) chống ''bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh'' - kiên cường, dũng cảm nhất !

Với tư cách là người lãnh đạo bộ máy tuyên truyền thời đó, Tố Hữu đã làm tròn, thậm chí vượt cả ''sứ mạng quang vinh'' của mình. Khi tình hình thế giới biến đổi : Hệ thống XHCN xụp đổ, giới lãnh đạo bất đồng, phân hóa... Tố Hữu bị thất thế, về vườn, phần nào nhận ra... đã viết bài thơ giọng chán chường bộc lộ tâm trạng mình - bài Một Tiếng Đờn. Qủa thật đọc bài thơ người ta phải mủi lòng trước một người đã từng ‘‘khạc ra lửa‘‘, hủy hoại bao sinh mệnh chính trị - tư tưởng của đồng nghiệp nghệ sĩ mà tựu trung có  2 lý do: Đòi tự  do sáng tác và ... không phục nhau trong sinh hoạt, thơ phú


MỘT TIẾNG ĐỜN

Mới bình minh đó, đã hoàng hôn

Đang nụ cười tươi lệ bỗng tuôn

Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy

Khuấy động lòng ta biết mấy buồn.

Ôi kiếp trăm năm được mấy ngà

Trời xanh không gợn áng mây ba

Thuỷ chung son sắt nên tình bạn

Êm ấm lòng ta mỗi phút giây.

Còn khổ đau nào đau khổ hơn

Trái tim luôn xát muối oán hờn

Còn đây một chút trong đêm lạnh

Đầm ấm bên em một tiếng đờn.


‘‘Bài thơ trên được giải thưởng văn học ASEAN. Họ trao giải cũng không phải là vô cớ‘‘... Nhưng nền Văn học dân gian của ta thật tuyệt vời. Ngay sau khi bài Một Tiếng Đớn công bố, có rất nhiều bài của các tác gỉa vô danh hoạ lại. Chỉ xin trích một bài trong số đó để bạn đọc được ‘‘nghe nhiều tiếng chuông‘‘:

Nắng hè sao đã vội hoàng hôn?

Sao nụ cười tươi lệ bỗng tuôn?

Mới hay nhân quả là như vậy,

Vui lắm thì ra cũng lắm buồn.

*

Danh lợi đua chen được mấy ngày?

Phù vân một thoáng gió xua bay.

Thuỷ chung không có, đâu bè bạn?

Êm ấm làm sao được phút giây?

*

Đúng vậy còn gì đau khổ hơn!

Đời luôn khơi dậy những oán hờn,

Còn đây một chút trong cô lạnh,

Mới thấm Nhân Văn một tiếng đờn.


            (Hoàng Tiến - Tiểu luận: Sự Thật Ở Đâu - Nhân đọc Nhà Thơ Tố Hữu tâm sự - Nhật Hòa Khanh ghi...).

Cường độ của sự chán chường, bất mãn ngày một cao... cao hơn nữa cho tới điểm đỉnh: Ông Tố Hữu đã kể lại suy nghĩ của mình cho nhà văn Nhật Hòa Khanh ghi, in thành sách có tựa đề ‘‘Nhà Thơ Tố Hữu Tâm sự‘‘, ông Hoàng Tiến đọc và đã dẫn ra rất nhiều chuyện khiến người đọc nhận ra có hai Tố Hữu: Một Tô Hữu trước đây có chức có quyền với những  hành động và lới nói nghe ‘‘loảng xoảng tiếng xích sắt, lưỡi lê ‘‘.

Một Tố Hữu bây giờ khác hẳn: Nhân ái, khoan dung, độ lượng... khen - thậm chí ‘‘thổi‘‘ những bạn văn lên tận mây xanh, trong khi trước đây, thời Nhân Văn - Giai phẩm (1956 – 1958) ông thẳng tay ‘‘hủy diệt‘‘.

Không - thực ra mới gần đây: Khi đã mất chưc rồi (1987) ông vẫn nói thẳng vào mặt cụ Trần Độ nhân một lần cụ Trần được Tng Bí Thư Đảng CSVN (khóa 7) - Nguyền Văn Linh mời lên gặp - thông báo sự ủng  hô, đồng tình của Bộ  Chính trị thông qua bản nghị quyết do cụ khởi thảo để cho ra đời Nghị quyết số 05 của BCT về ‘‘cởi trói‘‘ cho Văn Nghệ sĩ. Cụ Trần Độ ghé thăm nhằm cho Tố Hữu biết, hy vọng ông có lời xin lỗi các nạn nhân do ông gây ra trước đây. Tố Hữu bằng ‘‘giọng trọ trẹ xứ Huế ‘‘ gay gắt (Nguyên văn từ bài viết):

- ‘‘Rất tiếc! Rất tiếc! Hồi ây tôi đã không tiêu diệt hết chúng nó (Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm)  đi!‘‘. (Hoàng Tiến – bài đã dẫn...). Phải chăng, chính cụ Trần Độ cũng mất cảnh gíac, qúa vội tin, đặt hi vọng vào ông Nguyễn Văn Linh và... cũng đã phải trả gía quá đắt cho sự vội vàng của mình. Cụ cũng quên bài học mà người cấp trên của mình - Ủy viên Bộ Chính Trị Trần Xuân Bách cùng thời bị đuổi ra khỏi đảng CSVN. Chỉ mây năm sau cụ cũng theo gương Sếp mà lãnh đủ!

Trong một bài viết của Lê Thọ Bình (LTB) đi trên tờ báo điện tử VNN - tường thuật lại cuộc gặp gỡ cuối cùng với Tố Hữu, có đoạn đáng chú ý:

‘‘...

thực tình thì ông có sợ cảm giác cô đơn không

TH: Trên đời này ngoài cái chết và cái đói ra, thì đau khổ nhất của con người là cô đơn. Cô đơn nghĩa là mình không có bạn. Cái đó đừng trách đời mà hãy tự trách mình. Đời đáng yêu lắm lắm. Đời luôn rộng mở cho tất cả mọi người đến với nhau. Chỉ vì anh quay lưng lại với đời nên anh mới cảm thấy cô đơn mà thôi. Nhưng mà:

“Sợ chi khúc khuỷu đường muôn dặm

Ta vẫn là ta ta với ta”.

Cái quan trọng nhất anh có luôn là anh hay không mà thôi. Tố Hữu luôn là Tố Hữu, với mọi người và với nhân dân.

...

LTB: Trong những điều “đáng ra phải quên đi” ấy, thì có điều gì mà cho ông làm lại từ đầu ông sẽ làm khác đi không

TH: Nhiều, nhiều chứ! Ví dụ, trước đây tôi không tài nào chịu nổi 2 câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Gió lùa gian gác xép

Đời tàn trong ngõ hẹp”,

mặc dù 2 câu thơ này rất hay. Hay lắm! Đáng ra lúc ấy mình phải hiểu, phải thông cảm. Đấy là nỗi đau của một tâm hồn bế tắc. Đáng ra mình phải thương họ, phải hướng dẫn họ cùng tham gia cách mạng với mình để khỏi “Đời tàn trong ngõ hẹp”...

Đây là một khía cạnh của Một Tố Hữu thứ hai!

Khi hai vợ chồng người chắu - Nhà văn Phùng Qúan - tới thăm, Lúc này Tô Hữu đã trắng tay, nhà không còn các đệ tử rầm rập ra vào. Ông cô độc đúng như nhân vật lão Lành trong truyện ngắn Cây Táo Ông Lành của Hoàng Cát. Thấy hai chắu đến, ông không dấu được kinh ngạc... Phùng Quán thản nhiên an ủi :

- Cậu đừng ngại. Khi xưa Cậu có chưc có quyền, bọn chắu không thể bước vào cửa này làm tròn nghĩa vụ của các chắu. Bây giờ cậu về hưu, chúng chắu phải đến.

Ông nhìn hai chắu mắt rưng rưng. Không khí cuộc viếng thăm dần trở nên thân tình. Lát său, Tố Hữu noi với chắu dâu (bà Phùng Quán) :

- ''... dạo đó thằng Quán nó dại - ngừng lại một chút rồi ông cúi xuống, hạ giọng - mà Cậu thì cũng dại thật !''. Có  lẽ đó là lời ‘‘vụt ra‘‘  từ tận đáy lòng của một người  gìa đang từ trên đỉnh cao, giờ bị cuộc đời hất xuống đáy vực.

Phải chăng, cái ''Dại'' mà ông Tố Hữu tự nhận là : Ông đã giành cả cuộc đời đi theo, làm nô lệ cho lý thuyết Mác - Lênin, đã say mê điên cuồng nó... giờ bỗng chốc cả lý thuyết lẫn thực tế - hệ thống XHCN  xụp đổ, lý luận Mác - Lê bị nhân loại tiến bộ vứt vào sọt rác lịch sử - điều đó làm ông buồn. Hay, thời đại mà ông đang ở trên đỉnh cao quyền lực, có tất cả, song không có kiến thức làm giầu như một số chiến hữu, hoặc cấp trên của mình ? Bây giờ nhìn lại thấy thua thiệt mà nẩy ý so sánh, cùng với sự ân hận, dằn vặt lương tâm, rồi ‘‘Thở ra‘‘ ra ngôn từ ''nổi tiếng'' kia ?

‘‘... Còn khổ đau nào, đau khổ hơn

Trái tim luôn sát muối oán hờn...‘‘

Dù sao chúng ta cũng ghi nhận lời nói thật tự đáy lòng của ông gìa gần đất xa trời - thi sỹ tài danh trong ‘‘giòng văn chương Hiện thực XHCN‘‘ - đã suốt cuộc đời đi theo lý tưởng Cộng Sàn, hăng mắu một cách mù quáng... đề ra những chủ trương chính sách quản lý nền Văn hóa - Văn  nghê cực đoan, tàn bạo, làm ảnh hưởng to lơn tới sự phát triển của nền Văn Học - Nghệ Thuật nước nhà  (...). Chung quy lại vẫn là do thiếu hiểu biết... khi gặp cơ may, có quyền thế... căn bệnh ‘‘Nhiệt tình cách mạng, cộng (+) dốt nát bằng (=) kẻ  phá hoại!‘‘ - được dịp phát tác. Cả dân tộc gồng mình gánh chịu hậu qủa của căn bệnh cố hữu này!Bây giờ học thuyết đó tan biến thành mây khói, ông gìa Tố Hữu mơi tỉnh ngộ - ‘‘Mới bình minh đó đã hoàng hôn‘‘ - thành thực thừa nhận, ăn năn...

Dù quá muộn nhưng muộn vẫn còn hơn không !

Còn Họ, những chiến hữu - kể cả Sếp của ông - ''Khôn'' chứ không dại như ông ! Chẳng những Họ đã quàng lên cổ vòng Nguyệt Quế Chiến Thắng, mà còn ''Thủ'' trong túi vòng Vàng, vòng Kim cương cùng những vòng hoa kết bằng những tờ USD xanh rờn...

Máu - quân, dân đổ ra ở chiến trường !

Hoa - quyền lợi - họ ở hậu phương hưởng !

(Rút trong tập CHÂN DUNG và TIỂU LUẬN)

VIẾT XONG  10.1999 – Sửa lại, bổ sung - 6.2014

  LHX

 

***

 

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui