Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
3 Sep.2014

NĂM 1986 – CUỘC ĐỐI ĐẦU HAI

LỰC LƯỢNG ĐỔI MỚI VÀ

BẢO THỦ TRONG VĂN HỌC

 (trích Hồi ký Nguyễn đăng Mạnh)

 Chương V: Những bước thăng trầm của công cuộc đổi mới và những vụ “đánh đấm”, “qui kết, chụp mũ” của cánh bảo thủ, cơ hội chủ nghĩa.

 Năm 1986, nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI chính thức phát động công cuộc đổi mới đất nước. Đời sống văn nghệ chưa bao giờ vui đến thế. Lúc nào cũng như sống trong hội hè. Đúng là không có gì sướng bằng dân chủ thật sự, được tự do nghĩ và nói thực sự.

 Trần Độ lên thay Hà Xuân Trường phụ trách Ban văn hóa văn nghệ trung ương. Hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh gặp gỡ các văn nghệ sĩ (số 4 Nguyễn Cảnh Chân). Lần đầu tiên giới văn nghệ sĩ được nghe những lời phát biểu đầy tính kích động tự do dân chủ ở một ông tổng bí thư Đảng Cộng Sản. Nào là “cởi trói”, “hãy tự cứu lấy mình”, “không bẻ cong ngòi bút”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật”, “giờ không phải là lúc bón phân cho lúa, phải nhổ cỏ cho lúa có sức mọc lên”, “hồi phụ trách bí thư ở Sài Gòn, tôi đã làm chui nhiều việc đấy. Những anh em dưới quyền tôi sợ quá mỗi khi có Trung ương về thăm. Tôi nói với họ: Các anh cứ làm, nếu phải đi tù, tôi vào tù với các anh”, “hãy giải phóng cho con chim văn nghệ bay cao”.vv…

 Những lời lẽ và khẩu khí ấy khiến mọi người không còn nghi ngờ gì ở chủ trương đổi mới thật sự của Đảng. Ông Nguyễn Văn Linh đích thị là Goócbachốp của Việt Nam rồi – chúng tôi lúc đó đều đinh ninh như thế.

 Buổi trưa, tổng bí thư ngồi cùng bàn ăn với anh em, mỗi người một bát phở. Buổi tối lại cùng ngồi xem phim Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp) và Chuyện tử tế (Nguyễn Khải). Hai ngày liền, ông Linh chỉ nói mấy câu mở đầu, còn để cho anh chị em tha hồ phát biểu tự do. Toàn phê phán lãnh đạo làm nhiều chuyện thậm vô lý. Chẳng hạn Ái Vân thuật chuyện anh chị em sân khấu khổ cực như thế nào. Cấp phát thì cấp áo, không cấp quần, tất rách không có để thay, khi biểu diễn phải đứng thế nào để che được phía chân đi tất rách. Trong khi người này biểu diễn trên sân khấu thì người khác bán trà chén ở cửa rạp. Ca sĩ Xuân Thanh xưng hô bác cháu với ông Linh, vừa nói vừa khóc: “Đi thi quốc tế, lãnh đạo không cho đi sớm để chuẩn bị, không cho tiền để bồi dưỡng bà giáo Liên Xô tập luyện cho. Nhưng khi được giải thì thu hết tiền”. Hoạ sĩ Nguyễn Thụ tố cáo: “Sang Liên Xô triển lãm tranh, tranh bán được, tiền bị thu hết”. Trường hợp Nguyên Ngọc cũng tương tự. Anh được nhận giải thưởng quốc tế Á Phi (Đất nước đứng lên), tiền thưởng cũng bị thu hết, không bớt cho lấy một xu để chiêu đãi những người đến chúc mừng. Anh lại nói, hồi lãnh đạo Văn nghệ ở quân khu 5, cứ vài tháng anh lại phải lên Cục chính trị lĩnh tư tưởng về cho anh em viết…Hết tư tưởng lại đi lĩnh chuyến khác, y như lĩnh tiền hay lĩnh gạo vậy.

 Phạm Thị Thành thì nói về chuyện duyệt kịch. Mỗi lần duyệt, chị không quan tâm gì đến hội đồng chuyên môn, mà chỉ chăm chú theo dõi một ông to đầu nào đấy vui chân tạt vào xem. Ông ta gật gù là yên trí lớn, ông ta lắc đầu là hỏng bét. Tào Mạt, sau Cách mạng tháng Tám đã là huyện uỷ viên. Nhưng anh không đi tiếp con đường chính trị mà chuyển sang làm văn nghệ. Anh nói, nếu cứ làm chính trị, anh là người tiến bộ, nhưng chuyển sang làm Văn nghệ thì bị coi là phức tạp. Nguyễn Khắc Viện thì nói về những cái án văn nghệ gọi là “xét lại” “phản động” “gây rối”, phạm nhân văn nghệ sĩ phải chịu hình phạt suốt đời. Hồ Ngọc thì lên án lãnh đạo biến văn nghệ thành thứ văn tuyên truyền phục vụ chính trị… Vui nhất là cuộc xung đột giữa Dương Thu Hương và Nguyễn Đình Thi. Hương bảo Thi là đồ hèn, trí thức hèn hạ, đã tự nhận là “hạt bụi”. Thi thì cho Hương là lưu manh, nhà văn đã đến lúc bị lưu manh hoá. Anh nói: “Đúng, tôi hay nói hạt bụi, giọt nắng, giọt lửa. Nhưng có hiểu gì không – anh gào to – tôi nói nhà văn là hạt bụi có tư tưởng.” Thực ra anh Thi đã không nhắc lại đầy đủ lời anh phát biểu ở Đại hội nhà văn lần thứ ba: “hạt bụi lấp lánh tư tưởng của các anh” (vừa nói vừa chỉ tay lên chủ tịch đoàn). Ý kiến này chẳng qua cũng là học theo câu nói của một nhà văn Pháp: “con người là cây sậy có tư tưởng.”.

 Tôi cũng phát biểu rất thẳng thắn và thoải mái, đại ý rằng, “tôi đã từng được gặp một ông to, không to bằng anh Linh đâu (ý nói Tố Hữu), tôi thấy ông ấy cứ nói liên miên, chỉ lo ban phát chân lý chứ không nghe quần chúng nói. Nay anh Linh nói ít, để anh em nói nhiều, nội điều đó thôi cũng là rất mới rồi. Về lãnh đạo văn nghệ, tôi cho “lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ”, và dùng lối chăn vịt, “lãnh đạo văn nghệ theo lối chăn vịt đàn.”, “con người mà bị khinh bỉ mãi thì tự nhiên cũng thấy mình nhỏ bé lại, cũng hèn kém. Biết tôn trọng con người thì con người tự thấy mình cao lớn hơn”. Tôi lại ví văn nghệ như con chim. “Nhốt lại nó không hót, hay hót không ra gì. Thả nó ra nó hót hay hơn, nhưng lại sợ nó bay mất…”

 Còn nhiều người phát biểu nữa, như mấy anh đạo diễn điện ảnh, Nguyễn Quang Sáng, Lưu Quang Vũ, Anh Đức…, nhưng tôi không còn nhớ. Hồi đó giá có băng ghi âm ghi lại, giờ mở ra nghe thì thật thú vị. Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu không thấy nói gì. Về lý luận phê bình văn học, tôi là người duy nhất được dự cuộc gặp mặt này.

Trần Độ gọi cuộc gặp gỡ này là “Hội nghị Diên Hồng của văn nghệ.” Sau cuộc gặp Nguyễn Văn Linh, đời sống văn học nghệ thuật còn sôi nổi và vui hơn nữa với những cuộc tranh luận rất dân chủ trên báo Văn nghệ của Nguyên Ngọc và những cuộc hội thảo rất thẳng thắn chuẩn bị cho nghị quyết 05 của Bộ chính trị về văn nghệ tổ chức thường xuyên ở Ban văn hóa Văn nghệ của anh Trần Độ. Tôi nhớ anh Nguyễn Minh Châu nói, nhà văn Việt Nam cả ba thế hệ đều hèn. Trước Cách mạng là nhà văn nô lệ; từ 1945 đến 1975 là nhà văn- lính, rất sợ cấp trên; sau 1975 là nhà văn đói nên cũng hèn. Anh lại nói Thánh Gióng ngày xưa đánh xong giặc thì bay lên trời. Bây giờ các ông đánh xong giặc lẽ ra cũng phải biến đi để người khác quản lý đất nước. Như anh Độ, anh cũng nên thôi đi thì phải. Đấy, hồi ấy cứ ăn nói thoải mái như thế nên rất vui.

            Cánh đổi mới thường tụ họp với nhau, vừa nhậu vừa trao đổi những suy nghĩ của mình. Ngoài Bắc có Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Xuân Cang, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Ngô Thảo, Văn Tâm, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Quang Thân, Trần Quốc Vượng, Hồ Ngọc Đại..vv… Trong Nam thì có Thu Bồn, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Quang Sáng, Trần Hữu Tá, Lê Ngọc Trà, Phan Đắc Lập.v.v… Hoàng Phủ Ngọc Tường mỗi lần vào Sài Gòn cũng nhập vào nhóm này. Trần Mạnh Hảo một thời gian đóng vai đổi mới, thỉnh thoảng cũng đưa vợ đến tụ tập ở chỗ Thu Bồn.

            Ở Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi cũng hăng hái đứng ra tổ chức nhiều cuộc hội thảo rất vui về thời sự văn học, về đổi mới giảng dạy văn học, về cải cách chương trình và sách giáo khoa, thu hút được khá nhiều cây bút cấp tiến trong trường, ngoài trường như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Nguyễn Trọng Oánh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn… Nguyễn Khải hồi này được ông Trần Độ triệu ra Hà Nội để chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ IV. Anh cùng Nguyên Ngọc hoạt động rất hăng hái, hô hào văn nghệ sĩ nói thẳng nói thật.

 Nhưng chẳng bao lâu, thế cờ bị lật ngược.

Nguyên Ngọc mất chức Tổng biên tập báo Văn nghệ. Nguyễn Khải thấy động, lặn biến vào Nam. Tố Hữu nắm lại lá cờ Văn nghệ. Trần Độ mất chức (1989). Tố Hữu phê phán bản Đề cương văn hoá văn nghệ của Nguyên Ngọc ở hội nghị nhà văn đảng viên. Nguyễn Đình Thi trở lại cùng với cánh bảo thủ chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ IV. Cánh đổi mới bị đánh dồn dập: Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Văn Tâm, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh bị tước giải thưởng. Hội đồng chung khảo phải viết bài sám hối (riêng Nguyên Ngọc và Lê Ngọc Trà không chịu viết).

 Bọn bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa nổi lên, ngày càng làm mưa làm gió:

Trong Nam có Chế Lan Viên, Bảo Định Giang, Anh Đức, Vũ Hạnh, Diệp Minh Tuyền, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm, Hoàng Nhân, Phạm Tường Hạnh, Trần Trọng Đăng Đàn…

 Ngoài Bắc có Hà Xuân Trường, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Đông Hoài, Hồ Phương, Bùi Bình Thi, đám Văn nghệ quân đội, Thành Duy, Lưu Trọng Lư, Nông Quốc Chấn, Hoàng Xuân Nhị, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Lưu, Vũ Quần Phương, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hữu Thỉnh, Hồng Diệu… Cánh này rất có thế lực vì đằng sau có Lê Đức Thọ, Nguyễn Đức Bình, Trần Trọng Tân, Nguyễn Văn Linh … giờ lại xoay ra chửi Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện.

  Vào cuối những năm 80, hai lực lượng cấp tiến và bảo thủ, cơ hội, từ chỗ tương đương về thế và lực, chuyển dần đến chỗ cánh bảo thủ hầu như làm chủ trận địa. Lãnh đạo về sau dùng cả đến bọn lưu manh, đầu gấu trong văn nghệ như Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo…

           Vì những lẽ đó, từ cuối những năm 80, đặc biệt là từ đầu những năm 90, tình hình văn học xuống cấp ngày càng nghiêm trọng, nhất là về lý luận, phê bình.

             Kết thúc thập kỷ 80, có một sự kiện văn học rất vui không thể không nói đến: Đại hội nhà văn lần thứ IV. Tôi nhớ, trên giường bệnh, Nguyễn Minh Châu có nói thế này, giá như Đại hội làm luôn từ 1986, 1987, thì bọn bảo thủ chỉ có quỳ lậy. Chuẩn bị đại hội kéo dài quá, giờ thì bọn bảo thủ lại nổi lên rồi… Tuy vậy Đại hội nhà văn lần thứ IV tổ chức vào năm 1989 cũng vẫn rất vui, rất sôi nổi. Đây là đại hội đầu tiên và duy nhất tính cho đến ngày hôm nay, được triệu tập toàn thể hội viên. Đại hội thể hiện một sự phân hoá rất quyết liệt. Từ chuyện to đến chuyện nhỏ, rất nhỏ, thậm chí lặt vặt nữa, đều nổ ra xung đột, không thể hoà giải với nhau được. Chuyện to như vụ bãi chức Tổng biên tập báo Văn nghệ của Nguyên Ngọc, chuyện đánh giá tình hình văn học những năm 1987,1988 là khởi sắc hay tiêu cực do buông lỏng lãnh đạo, vụ Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu mắc nạn ở Đà lạt, vụ Nguyễn Văn Hạnh đọc thư Trần Độ, việc bầu Tổng thư ký Hội nhà văn trực tiếp hay gián tiếp…, chuyện nhỏ thì như việc bầu chủ tịch, thư ký đoàn và ban kiểm phiếu, chuyện kiểm phiếu, đếm phiếu sao cho tránh được gian lận…

            Sự phân hoá diễn ra cả trong giờ nghỉ. Ngồi uống cà phê hay bia bọt với nhau ở căng tin cũng phe nào ngồi riêng với phe ấy. Ai ngồi nhầm chỗ lập tức bỏ đi ngay.

            Hội nghị kéo dài tới 11 ngày, thỉnh thoảng lại dừng lại để họp riêng đảng viên. Nhưng họp đảng viên cũng thế thôi. Những đại biểu thuộc phái cơ hội chủ nghĩa lên diễn đàn thường bị la hét hay vỗ tay đuổi xuống như Mai Ngữ, Anh Đức, Hoàng Xuân Nhị… Trần Bạch Đằng trong chủ tịch đoàn bị Dương Thu Hương đuổi xuống vì không phải phiên mình điều khiển cũng khệnh khạng ra giải thích cho phái bảo thủ (theo Nguyễn Trọng Tín đây là trường hợp không thể có đối với ông “vua không ngai” này ở Miền Nam).

            Cuộc xung đột có khi còn diễn ra ở hậu trường Đại hội bằng những lời đe doạ dùng đến cả bạo lực (Có đại biểu đề nghị chủ tịch đoàn bảo vệ mình vì có kẻ đe doạ hành hung). Một số đại biểu thuộc cánh bảo thủ quá hoảng hốt, buổi tối chạy đến kể lể khóc lóc, cầu cứu Lê Đức Thọ trưởng ban tổ chức trung ương (Bác Sáu à, bác Sáu ơi, Nhà ta nó phá tan rồi còn đâu” -Nguyễn Duy).

            Sự phân hoá hai phe nói trên trong Đại hội đã được Nguyễn Duy mô tả rất vui trong một bài vè gọi là “Đại hội nhìn từ gần” (tự nhại lại tên bài thơ Tổ quốc nhìn từ xa của anh). Dưới đây, trích vài đoạn:

 Thủa trời đất nổi cơn Đại hội,

Khách làng văn lắm nỗi truân chuyên;

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Vì ai xuyên tạc cho nên nỗi này.

 Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt,

Sương Ba Đình mù mịt thức mây;

Mấy lần nghị quyết trao tay,

Đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương…

(…)

Ngôn luận chiến ào ào sấm nổ

Tưởng cơ đồ sụp đổ đến nơi

Bác Sáu à, bác Sáu ơi

Nhà ta nó phá tan rồi còn đâu.

 Trang giấy trắng một màu quan ải,

Oan khiên này biết giãi cùng ai;

Giận hờn mấy kẻ đơn sai

Văn đàn bỗng hoá võ đài phải chăng ?

(…)

Nguyễn Khải lặn mất tăm đâu đó

Chính Hữu chờ sóng gió qua mau

Bùi Bình Thi rút ván cầu

Phạm Tiến Duật ẩn mình đâu mất rồi

Chàng Hữu Thỉnh dở cười dở khóc

Ngọc Tú nàng rứt tóc vò tai

Đỗ Chu tế ngựa vòng ngoài

Gặp ai cũng hỏi rằng ai nhớ mình

(…)

Nguyễn Văn Hạnh một mình một ngựa

Phá vòng vây ở giữa sa trường

Không lùi bước chẳng tạt ngang

Đã vì đồng đội gian nan xá gì

Biết cứu nạn lắm khi mắc nạn

Tâm huyết nhiều mất mạng như chơi

(…)

 Đại hội bỗng chia làm hai phái,

 Phái vui tươi và phái hầm hầm;

Chúng ta cùng bạn làng văn,

Cớ sao mặt cứ gằm gằm khó coi…

(…)

Mai Ngữ sử dao găm súng lục,

Mắt Liên Nam đục đục điên điên,

Thu Bồn nộ khí xung thiên,

 Bỗng đâu một trận Mai Liên ào ào.

 Thu Hương nổ pháo tầm cao,

 Tường Hạnh hụt một đường đao bất ngờ,

 Trần Độ vắng mặt bao giờ,

phất phơ để lại một tờ tâm thư.

Nguyễn Văn Hạnh dịch ngôn từ,

Đoàn chủ tịch cũng ậm ừ cho qua…

(…)

Anh Đức mặt vênh vênh véo véo

Mắt đăm đăm liếc xéo hội trường…

(…)

Thuỳ Mai nước mắt lưng tròng

cõng Bùi Minh Quốc khỏi vòng hiểm nguy…

(…)

Buổi bế mạc, chấp hành ra mắt,

Chín người đà đứng sắp hàng ra,

Tổng thư ký của hội ta:

Tướng công họ Vũ tên là Văn Ngan *…

 Hết

 (* nhà văn Vũ Tú Nam, từng viết một truyện thiếu nhi tựa đề là “Văn Ngan tướng công” nhạt nhẽo vô duyên  (con ngan tức con vịt xiêm Nam bộ – Lãng tử chú thích).

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui