Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
28 Aug.2014

Hồ Chí Minh trong Hồi kí của

Nguyễn Đăng Mạnh

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ Năm, ngày 28 tháng 8 năm 2014

Pro&contra - Tháng 5 20, 2012

Trong số các tài liệu về Hồ Chí Minh,  vị lãnh tụ được cả giới giáo điều lẫn giới cấp tiến tại Việt Nam đem ra  làm bảo bối và triệt để khai thác, nhất là vào dịp kỉ niệm sinh nhật hư  cấu của ông như những ngày này, tôi chú ý đến một chương trong cuốn hồi  kí chưa xuất bản của nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học GS Nguyễn Đăng  Mạnh. Trong các chi tiết dựng nên chân dung Hồ Chí Minh ở hồi kí này,  tôi chú ý đến quan sát trực tiếp của tác giả về việc ông Hồ đang vung  tay hô khẩu hiệu cùng đám đông vội rụt tay xuống khi khẩu hiệu chuyển  sang tung hô ông. Một chi tiết khác, miêu tả ấn tượng từ cuộc gặp của  tác giả với người thư kí nổi tiếng của Hồ Chí Minh, ông Vũ Kỳ, cũng gợi  cho tôi nhiều suy nghĩ hơn phần lớn những nghiên cứu tuyên truyền hay  phanh phui về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật lịch sử huyền thoại  này. Thế hệ các nhà lãnh đạo để râu dài, mặc áo cánh lụa, đi guốc, cầm  quạt phe phẩy đã hoàn toàn thuộc về dĩ vãng.
Cuốn hồi kí của GS Nguyễn Đăng Mạnh lưu  truyền trên mạng từ năm 2008 được coi là bản thảo chưa có sự phê duyệt  của tác giả. Trong đoạn trích sau đây, tôi đã đặt thêm một số liên kết  để tiện cho sự tra cứu.


Phạm Thị Hoài
_________________________

Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh
Phần II, Chương VII: Hồ Chí Minh
Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần.
Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng  Tám. Sau cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái  Bình về Thị xã Bắc Ninh. Tôi tiếp tục học cấp II ở trường Hàn Thuyên.
Một hôm được tin Hồ Chủ tịch về Bắc  Ninh. Tôi và mấy bạn học được nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát  một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu  chào mừng.
Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới.
Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con  đỗ ngay mép đường, trước cửa phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh  vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ  của bức tường hoa thấp trước phòng thông tin. Hai anh lia mũi súng sang  trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng. Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo  kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng  lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý gì đến bọn trẻ con này cả, tuy  chúng tôi ra sức phất cờ và hô “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Đứng lại một  lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất  nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp, cử chỉ  lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế. Hồi đó, ở Bắc  Ninh, Việt Nam Quốc dân Đảng hoạt động khá mạnh. Đã có những cuộc đụng  độ vũ trang giữa lính Quốc dân Đảng và Vệ quốc Đoàn ở Thị Cầu. Chắc vì  thế nên ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.
Lần thứ hai tôi được thấy Hồ Chủ tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó, hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư phạm  Vinh. Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho ông gặp đồng bào ở một cái  sân vận động của thị xã.
Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre – có vẻ  thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên đó với một số cán bộ tỉnh. Lúc hô khẩu  hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi người: “Đảng Lao động Việt Nam muôn  năm!”, “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muôn năm!”
Ông Hồ vung tay rất cao. Nhưng đến khẩu  hiệu thứ ba: “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội rụt tay xuống. Tôi theo dõi  không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy. Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.
Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn, không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng  sang ý khác. Tôi nhớ ông đang nói dở một câu tục ngữ: “Thanh cậy thế,  Nghệ cậy…” thì vội ngừng lại và lảng sang ý khác. Có lẽ ông không muốn  làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả lại “cậy thần” là thần nào, thần  Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên không nói tiếp câu ấy nữa.
Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại  trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng Tổ Văn học Việt Nam Hiện đại. Các anh đều rất  quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho  chúng tôi gặp những người hiểu biết về Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan,  Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Vũ Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được  biết nhiều chuyện cụ thể về ông Hồ, trước hết là chung quanh sự kiện ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật kí trong tù.
Ông Hồ về Pắc Bó ngày 28-01 đầu năm  1941, tháng 8-1942 ông trở lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách  mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và mua vũ khí về cho Việt Minh.
Ông Lê Quảng Ba cùng đi với ông Hồ. Đến  một địa điểm nào đó thuộc Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau, cố đi một cách khó khăn. Để động viên  người đồng hành với mình, ông Hồ vừa đi vừa kể Chinh phụ ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba muơi năm, Hồ Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh phụ ngâm.
Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến  Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông có một thanh niên Trung Quốc tên là  Dương Đào – tất nhiên cũng là một cơ sở cách mạng. Đến xã Túc Vinh,  huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27-8-1942).
Không phải ông Hồ không có giấy tờ hợp  lệ. Hồ Chí Minh không thể sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì  khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi  ở Pắc Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua  Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ khí cho Việt Minh.
Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là  gián điệp của Nhật lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp  mới có đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có lắm  ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù cũng đã nói rõ trong thơ của mình:
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng

Lại bị tình nghi là Hán gian
(“Đường đời hiểm trở”)
Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.

(“Đi Nam Ninh”)
Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ ở Cao  Bằng như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… nghe tin cụ Hồ  bị bắt, hoảng quá, cho người sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng  không tìm được. Qua mấy tháng bặt tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn  Ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra. Biết không phải là Hán  gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển Hồ Chí Minh sáng chế độ  nhà tù khác. Trong Nhật kí trong tù, bài ”Bốn tháng rồi” có thể  coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cũng  cực khổ của ông Hồ – “Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn  hơn mười năm trời”
Chuyển sang chế độ nhà tù mới, ông Hồ  được tắm rửa, ăn uống khá hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao,  đặc biệt được cung cấp rất nhiều sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng  không giải thích lý do vì sao. Điều đáng chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú thì bài “Bốn tháng rồi” là bài thứ 103.  Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì sao vậy? Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị  cho cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm  Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch tặng (Cuốn Trung Quốc đích mệnh vận)…
Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. Ở cuối tập Nhật kí còn có tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc báo lan, và những thu hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan Mới biết, viết bài “Mở đầu” (Khai quyển) Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh đã nói thật lòng mình:
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Hồ Chí Minh được bọn Tầu Tưởng thả về  nước không phải ngẫu nhiên, chắc ông phải khôn khéo thương lượng với  chúng và với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó  mới thả cho về nước. Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù ông Hồ gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ  nhiệm Cục Chính trị Đệ tứ Chiến khu) cùng với Nguyễn Hải Thần, Nguyễn  Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi (tháng 12-1943). Trong  liên hoan, họ có thử tài nhau bằng thách đối. Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối khá hóc hiểm:
“Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh.”
Ông Hồ xin đối:
“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách.”
Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca  ngợi: “Đối hay lắm!”. Còn Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói: “Hồ tiên  sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục!”
Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt: nhảy điệu Nga-la-tư. Một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.
Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông Hồ có nói, khi mới ra tù “chân mềm như bún”, đi không được, phải  tập leo núi rất khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy điệu Nga-la-tư?
Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ  khi biết ông Hồ là ông Hồ, không phải Hán gian, nhà chức trách Trung  Quốc cho ông được hưởng chế độ quản thúc. Nghĩa là chỉ không được ra  khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra ngoài nhà tù để leo núi, tập  đi, tập luyện mắt (Cho nên mới có chuyện, ở Liễu Châu, ông Hồ đi tắm  sông, gặp tướng Tàu Trương Phát Khuê). Khoảng giữa tháng 9-1943, sau một thời gian tập luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi vững mà còn trèo  được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Ông cao hứng làm một bài thơ chữ  Hán:
Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Nam vọng trùng dương ức cố nhân
(Vừa đi đường vừa kể chuyện)
Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp, trong tập hồi kí Những chặng đường lịch sử cho biết: “Bữa ấy, tôi về cơ quan hội báo tình hình thì thấy anh Đông, anh  Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:
“Anh xem có đúng là chữ của Bác không?”
Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi  về, trên mép trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng  là chữ Bác, Bác viết: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công  tác. Ở bên này bình yên”. Phía dưới lại có một bài thơ.
Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9-1943) trước cuộc liên hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12-1943)
Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong  buổi liên hoan tiễn cụ Hồ về nước hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng  nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.
Về tập Nhật kí trong tù, có người nói, ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra khỏi tù. Thực ra không phải.
Ngày 16-9-1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn được ông giữ cẩn thận.
Ngày 14-9-1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt, Trưởng ban Tổ chức Triển lãm Cải cách Ruộng đất tại  phố Bích Câu: “Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được  đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm được thì dùng”. Nguyễn  Việt đưa vào triển lãm, bầy ở phòng “Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng  sản Đông Dương” .
Nhật kí trong tù hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý  được biết hoạ sĩ Diệp Minh Châu từng sống với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở  Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp hoạ  sĩ ở nhà riêng.
Hai vợ chồng cùng là hoạ sĩ và điêu  khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có thể nói là tanh bành. Đất sét, thạch  cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân… bằng đất sét.
Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ sọ chuyện kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.
Ở đây tôi chỉ lọc  ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.
Diệp Minh Châu ở với Hồ Chủ tịch sáu  tháng ở chiến khu Việt Bắc trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội hoạ,  điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn với Hồ Chủ tịch.
Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không  thấy ông Hồ ra. Diệp Minh Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng  lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông  bảo: “Chú cứ ăn trước đi”.Tất nhiên Châu không dám, vẫn đợi. Một lát,  ông Hồ nói thủng thẳng với hoạ sĩ: “Về sau chú làm nghề gì thì làm nhé,  đừng làm Chủ tịch nước, khổ lắm!”
Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi  cho rằng, Hồ Chí Minh vừa qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì  không thuyết phục nổi các đồng chí của mình: Người ta đang sùng bái  Staline, Mao Trạch Đông, không chịu nghe Hồ Chí Minh, chắc thế. (Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có  lần nói với anh Hoàng Tuệ, khi hai người cùng công tác ở Liên Xô: Năm  1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí Minh  là đồng chí (tavarich).
Ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật kí trong tù: “Hồi ấy bị giam trong tù  buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba cách: một là nằm ngửa  đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành, ngói vỡ. Hai là  săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ”. Thì ra đối với ông  Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy  thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật kí trong tù như một tập  thơ, ông đều từ chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và  bản thân ông cũng không phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không  biết làm gì, thì ghép vần chơi, thế thôi. (Trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông đã nói như thế).
Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá  miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải  đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương  công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng. Năm ấy, tôi phụ  trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam  Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên văn ra  gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng  trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,  oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà  Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua  rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây,  người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi  đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về  thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là:  “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi”.
Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về Chủ  tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ  nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.
Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoyevsky trong Anh em nhà Karamazov:  “Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con người nói  riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều khi tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (…) thế nhưng tôi lại không thể sống chung với bất kì ai trong một căn phòng”. Đó là loại người mà  Dostoyevsky gọi là chỉ có “tình yêu mơ mộng” chứ không có tình yêu thực  sự. Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể  thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.
Anh Trần Việt Phương có kể một câu  chuyện khác cũng tương tự về ông Hồ. Trước căn nhà sàn của Chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói  bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho anh ta ăn. Anh lính không dám  ăn vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ nói: Vậy để bác gác cho  cháu ăn, không sợ.
Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý:  trong cách ứng xử với mọi người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn  trọng con người: Hồi kháng chiến chống Pháp, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt (Chắc là Dương Bích Liên thích vẽ Hồ Chí Minh trong sinh  hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ chăng?). Tố Hữu  quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi ông Hồ biết chuyện này thì Dương Bích Liên đã đi rồi. Hồ Chí Minh không bằng lòng  với cách đối xử như thế. Ông cho người đuổi theo mời hoạ sĩ trở lại để  có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.
Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề  coi mình là ông thánh, nghĩa là chỉ muốn được là người với những nhu  cầu như của mọi người bình thường.Cũng có thể trong tư cách nhà chính  trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có khi Hồ Chí Minh cũng phải “diễn”  những điều trái với bản chất của mình. Vì thế tôi nói, thực bụng ông Hồ  không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt cũng muốn nghỉ. Tố Hữu  có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường: “Chủ tịch Hồ Chí Minh  muôn năm!”, ông nói: “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!” Ông Hồ cũng thích hút  thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ  phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại cho hút thuốc  ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người chở  thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ. Hoạ  sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông thường  hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi (người ta nuôi một  con bò để lấy sữa cho ông).
Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại),  ông Hồ ở Phủ Chủ tịch, thỉnh thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống  batoong đi dạo một lúc trong khuôn viên cho đỡ nhớ – hẳn là nhớ sinh  hoạt hồi ở Paris.
Hà Huy Giáp cho biết: Một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông Hồ, bảo ông là surnature, ông Hồ nói: “Chúng mình là contrenature”.  Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ Chủ tịch. Ông kể chuyện hồi năm  1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc  và ở với cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ: “Sao Bác không lấy vợ mà chịu được?”.  Ông Hồ nói: “Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ  rốn đến cổ là 40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi. Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày, mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu  ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong  chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng. Nên mặc quần áo vải.” Có cán bộ lên  công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu. Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Để khỏi “nhàn cư vi bất thiện”.
Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của cụ Hồ.
Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm  gì về Hồ Chí Minh. Ấn tượng để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông  bắt chước tác phong của cụ Hồ từ cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo  Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu  tiên ông hỏi chúng tôi: “Các đồng chí có bao nhiêu nữ?”
Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế: Để râu dài. Áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy…
Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.
Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi  vẫn cho rằng, ông Hồ có ý thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên  truyền thường dùng lối ca vè, cốt minh hoạ đường lối chính trị. Những  bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc loại này. Thơ này không sáng tác  theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ thuật diễn đạt tình cảm,  cảm xúc thẩm mĩ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có cách gì để làm  việc cho cách mạng.
Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu  đã phê phán tôi về sự phân biệt này: Thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ  thuật và thơ Bác là thơ cách mạng sao lại bảo là để giải trí.
Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân  biệt như vậy. Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị,  khiêm tốn của cụ Hồ: khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường  chuyển cho nhiều người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sửa chữa  cho thật dễ hiểu, dễ nhớ đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ  còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ,  thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý tập thể như thế!
Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi  thường được nhiều nơi mời đi nói chuyện về thơ Hồ Chủ tịch. Thường có  chị Trần Thị Tuyết cùng đi để ngâm thơ minh hoạ. Chị Tuyết cho biết, khi Hồ Chủ tịch còn sống, vào dịp cuối năm, chị thường được gọi đến để ngâm thơ chúc Tết của Chủ tịch và phát luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông trong Bộ Chính trị. Khi ngâm thơ chúc Tết, chị để ý thấy ông Hồ có  vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông thường bảo chị chuyển ngay sang  ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm đoạn Kiều nào. Chị nói, thường Bác  bảo ngâm đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích. Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.
Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.
Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung  Quốc đã công bố Hồ Chí Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô  Hà Thị Xuân người dân tộc Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông  Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ đòi chính thức hoá, người ta bèn giao  cho Trần Quốc Hoàn (Bộ trưởng Bộ Công an) thủ tiêu cả ba chị em.
Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh được ông Văn Tân kể cho  nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy sử ở Đại học Sư phạm  Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng gần đây có  người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức  hoá: điều này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận.  Hai là cô bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô,  nhưng vẫn sợ bị cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm,  đặt xác cô ở quãng đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán  lên, tạo ra một vụ tai nạn giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba  chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ  tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích, không rõ bị thủ tiêu ở đâu.  Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống sông Bằng Giang, Cao  Bằng.
Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định  lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì  thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi quần, slip… rất vô ý. Có một cô  người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói đầu, ông cũng không lấy. Ông  nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy – lấy vì mục đích chính  trị – chắc ông nói cho vui.
Tô Hoài cũng cho biết, đạo diễn điện ảnh Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tầu, có lần cùng đi với Hồ  Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi sáng, Khoa thấy ông Hồ ở  toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: “Không có vợ, khổ thế!”
Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?
Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc  Lương), một cán bộ tình báo cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất  Thành lần đầu ra nước ngoài là sang Trung Quốc theo đường dây của Phan  Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người bán nước mắm, từ Nghệ An ra –  giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà  Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là  hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái là hai cô con gái ông Ký nhà  đoan tên là Yến và Nhạn.
Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái, sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.
Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.
Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho Nguyễn Tất Thành đi Pháp.
Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?
Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn Ái Quốc có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú.
Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài liệu: khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc có đưa ra một văn bản gọi là Chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát với thực tế Việt Nam, nhất là về giai  cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa chủ không phát triển được, vì  thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được). Staline bèn phái Trần Phú  về nước, vất chính cương của Nguyễn Ái Quốc đi, thay bằng Luận cương  Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên đảng là Đảng Cộng sản  Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá Nguyễn Ái Quốc đối với  cách mạng Việt Nam.
Xem chừng Hồ Chí Minh thích Tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên hơn. Ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây, Trung Quốc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu cách mạng của Tôn Trung Sơn.
Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có  lần nói với Hoàng Ngọc Hiến: Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị sớm quá! Ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục  làm vua để có thể thành lập ở Việt Nam chính thể quân chủ lập hiến mà  ông cho là thích hợp hơn với nước mình. Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở  chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần Huy Liệu, Huy Cận đã lên đường  vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông muốn cho người đuổi theo để gọi  trở lại, nhưng không kịp. Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện lỡ rồi, ông chỉ còn  biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi (ông gặp hai bà  con gái của Phạm Quỳnh). Hồi mới sang Pháp, Nguyễn Tất Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh (cùng với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường).
Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.
Ngoài ra, từ hồi dự Hội nghị  Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ Chí Minh đã muốn liên hệ với Mỹ và sau  này muốn thương lượng hoà bình với chính quyền Sài Gòn.
Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại  chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán  năm 1960).
Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.
Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết  bài “Diễn ca lịch sử nước ta”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở  Hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Stalin,  Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.
Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với  một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác  hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát-xít với những  thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!
Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi.
Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn.  Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi,  cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở  chỗ cụ Hồ.
Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có  đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và  quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp  Bác. Anh thưa với Bác:
‘Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?’
‘Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú.’ Ông Hồ trả lời như vậy”.
Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên  tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các chú”.
Một câu hỏi khác đặt ra: cụ Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình không? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh,  nay lại nói ông có ý thức thần thánh hoá ? Tôi cho hai chuyện có chỗ  khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải  diễn kịch nữa – Về mặt này, ông Hồ cũng khá “siêu” đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng người già và sùng bái thần  thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là Già Hồ. Và cũng không phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao  cho ông Trần Huy Liệu bình tán những câu sấm Trạng Trình ứng vào cụ Hồ  rồi cho truyền đi để tạo thành dư luận quần chúng. Đó là chủ trương của  Hồ Chí Minh hay chỉ là “sáng kiến” của Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ?  Nhưng ông Trần Dân Tiên viết Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!
Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí  Minh nhiều khi phải diễn kịch, sống cứ phải “diễn” như thế, kể cũng khổ.  “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” “Diễn” tức là bị tước đi của mình  quyền sống tự do chứ còn gì nữa! Liệu đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này?
Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với  trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ Chí Minh ở Hội nghị  Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và một kỹ sư tên là Quang theo  về. Trên tàu, cụ Hồ diễn trò nhẩy son lá son với các thuỷ thủ. Quang  thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ Chí  Minh nữa. Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang. Nhưng Hoàng  Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau này có gặp  Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.
Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của  Hồ Chí Minh. Ngày sinh cũng do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc Tuyên ngôn Độc lập (2/9).
Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày lịch sử ấy. Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết lấy lại
họ Hồ là dòng máu thật của mình (Hồ Sĩ Tạo) thì cũng có thể quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước, ngày mà ông đọc Tuyên ngôn Độc lập.
“Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh mình” – Tôi cãi lại Hiến.
“Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ.  Lúc ấy chỉ cần dứt hết những dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ  sao!” – Hiến khẳng định thế.
Một phán đoán không phải là không có lý!

Hà Nội, ngày 6.7.2006

(Toàn văn chương VII trong phần III hồi kí chưa xuất bản của Nguyễn Đăng Mạnh)

 
(Pro&contra)
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui