ÐOÀN VĂN CỪ: Ðường về - Nhà Văn Lê Xuân Quang - Le Xuan Quang Blog
Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
13 Apr.2010

ÐOÀN VĂN CỪ: Ðường về Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Ký - Tạp bút   
  Lớn | Vừa | Nhỏ
ÐOÀN VĂN CỪ :’’ Ðường về quê mẹ vẫn không quên!’’ (1)
 Tiểu luận (2 Kì)
 Lê Xuân Quang
 (Kỉ niện 6 năm ngày mất của Thi Nhân Việt Nam – Ðoàn Văn Cừ (19.3.2004 – 19.3. 2010)
 Tháng 5 năm 2007, Nhà xuất bản Gíao dục và Trung tâm văn hóa Doanh Nhân cho ra đời tuyển tập 100 bài thơ hay nhất thế kỷ 20. Một tháng sau (6.07), Nxb Hội nhà văn cũng cho ấn hành Tuyển tập thơ chọn lọc thế kỷ 20. Cả hai tuyển tập đều chọn bài thơ Đường về Quê Mẹ - một trong ba thi phẩm xuất sắc của nhà thơ Đoàn Văn Cừ (2 bài kia là Đêm hè, Chợ tết).
Đoàn Văn Cừ được dư luận người đọc đương thời mệnh danh là 1 trong 4 ’’Thư kí thời đại đã lưu giữ hồn quê Việt Nam’’ trong thơ ca của mình. (Ba người kia là Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính).
Đường Về Quê Mẹ viết theo thể thât ngôn tứ tuyệt, 6 khổ, 24 câu, vẽ lại hình ảnh người phụ nữ nông thôn VN khi xưa, muốn cho con cái không quên cội nguồn, người mẹ trẻ dắt các con về thăm quê ngoại.
Bài thơ chỉ miêu tả khung cảnh đồng quê trên đường đi mà không bình luận. Tác gỉa ’’chộp’’ lấy khoảng thời gian, không gian, khung cảnh cánh đồng, làng quê… đẩy cảm xúc nghệ thuật lên cao rồi ghi lại.  Chỉ tới 4 câu kết, nhà thơ mới gían tiếp bày tỏ tâm tư thông qua nhận xét của dân làng: Dẫn là thân phận ’’nữ nhi ngoại tộc’’, người phụ nữ thảo hiền vẫn không quên quê cha đất tổ…
Theo nguyên tắc của thể thơ Đường, tác gỉa vào đề bằng hồi ức của đứa con vẫn giữ lại trong trí tưởng hình ảnh lúc bé theo mẹ về thăm quê ngoại:
 U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân
Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần
Lại dẫn chúng tôi về nhận họ
Bên miền quê ngoại của hai thân.
 U - là cách gọi mẹ của dân mấy huyện xung quanh thành Nam. (gọi cha, bố là Thầy). Nguyễn Bính người huyện Vụ Bản cũng xưng hô với mẹ như thế. Ông đưa vào bài thơ Chân Quê: ’’Thầy U mình với chúng mình chân quê’’ (1). Thế nhưng dân ở hai huyện Giao Thủy, Hải Hậu – cũng là đất Nam Định - thì vẫn xưng hô: Bố - Mẹ.
Hai thân (hay song thân) - là cách gọi bố mẹ của những người có học thể hiện sự kính trọng, văn hoa. Nhà thơ dùng cụm từ:: ’’dặm liễu – mây bay – (sắc) trắng ngần’’ - vừa như tả cảnh trí (mây trắng bay…) nhưng cũng thể hiện cách điệu sắc đẹp ngoại hình của mẹ: Tinh tế, thướt tha, uyển chuyển...
 Tôi nhớ đi qua những rặng (cây) Đề
Những giòng sông trắng lượn ven đê
Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp
Người xới cà, ngô - rộn bốn bề.
 Quê cụ Đoàn làng Đô Quan, xã Nam Lợi, huyện Nam Trực - nằm cách chân đê sông Hồng không xa.
Tại sao lại có ’’Những giòng sông trắn lưọn ven đê’’?
Dọc con đê, phía ngoài là sông Hồng - sông lớn nhất ở miền Bắc, ven đê phía trong lại có những sông con lượn quanh. Nguyên do: Để chống lại những cơn lũ gây vỡ đê khi nước sộng dâng cao mỗi mùa lũ tới, dân cư hai bên bờ tả ngạn - hữu ngạn ((Nam Định, Thái Bình), đào đất trên cánh đồng, đem bồi đắp đê ngăn nước. Đê sông Hồng là con đê to nhất miền Bắc, bởi vậy đất đào nhiều, tạo thành những con sông chạy dọc theo đê. Khoảng cách giữa đê chính và sông đào tuy không xa nhưng cũng khá lớn, lại khó có thể trồng lúa vì khi xưa không có bơm điện nên ở đây úng lụt.
Không để lãng phí đất, dân quê phải tôn lên cao (vượt), tạo thành những cồn đất. Còn bãi - thường nằm dưới chân đê cạnh mép nước sông. Trên bãi, dân cư trồng hoa mằu như ngô, khoai, rau cải, cà pháo, cà tím, đâu... các cây trồng đã tạo cảnh sắc ’’Cồn xanh (mầu lá rau cải…) bãi tía (tím nhạt) - cà tím, khoai tía…) kề liên tiếp’’...
Dọc bờ sông đào được trồng những hàng cây Đề, tạo thành rặng cây. Cây Đề cùng họ rễ buông với cây Đa. Trên bờ, Đề buông rễ xuống mặt nước... đây đó từng đoạn vài trăm mét lại có một lều cất vó hoặc những con thuyền nan có những cụ gìa buông cần câu cá, làm phong cảnh sông nước, đồng quê thật bình yên, tĩnh lặng, nên thơ...
 Thúng cắp bên hông, nón đội đầu
Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu
Trông U chẳng khác thời con gái
Mắt sáng môi hồng mà đỏ ău.
 Người phụ nữ thời xưa thường dùng (cái) thúng - đan bằng tre, vành cạp mây - đựng đồ vật để buôn bán hay di chuyển, mang đi. Thi sĩ Nguyễn Vĩ đã viết trong Gửi Trưong Tửu: ’’Còn tôi bưng thúng theo đàn bà/ ra chợ bán văn ngày tháng qua’’ (3).  Lần về này, mẹ mang thúng đựng qùa tặng Thầy, U và người thân. Vì trọng lượng thúng nhẹ - dăm ba cân, đi gần - mẹ cắp bên hông chứ không đội.
Người mẹ mà nhà thơ miêu tả - dắt theo mấy đứa con (...dẫn chúng tôi...), chắc thời con gái mẹ đẹp lắm. Bây giờ dù đã có đàn con, nhưng nhìn trang phục: Yếm thắm, khuyên vàng, áo the nâu và ’’má (vẫn) đỏ ău’’, cậu bé có cảm nhận mẹ mình vẫn như thời con gái! Dưới cái nhìn của câu, người mẹ thân yêu thật đẹp. Đó cũng là hình ảnh của những người mẹ trẻ đương thời, vì khi nhà thơ viết ĐVQM đã ở tuổi 29 (1913 - 1942). Kí ức về mẹ của tác gỉa chỉ còn rất ít, vì khi theo mẹ về quê ngoại, nhà thơ mới 5 tuổi...
 Tà áo nâu in giữa cánh đồng
Gío chiều cuốn bốc bụi sau lưng
Bóng U như bóng người thôn nữ
Cúi nón mang đi cặp má hồng 
 Về làng, mẹ con phải vượt qua cánh đồng.
Tấm áo the nâu của mẹ mỏng tang. Gío chiều thổi mạnh, cuốn bốc bụi sau lưng. Mẹ khép mình, như tránh những làn bụi hắt vào thân thể. Cúi đầu, kéo nón che cả khuôn mặt để tránh bụi bay vào mắt. ’’Cúi nón’’ - khiến che cả má hồng của mẹ. Trông mẹ như e ấp… cậu bé cảm thấy mẹ mình như bao cô gái quê ở tuồi cập kê - khép nép, dịu dàng…
 Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng
Đoàn người về ấp gánh khoai lang
Trời xanh , cò trắng bay từng lớp
Xóm chợ lều phơi xác lá bàng.
 Làng Đô Quan, phía nam là vùng đất trũng chỉ trồng được lúa. Phía bắc giáp với các làng Thôn Nội, Liên Tỉnh… là vùng đất cao, pha cát, thích hợp trồng hoa mầu nên dân cư không trồng luá...
Khoai lang của vùng đất pha cát - rât đặc biệt: Củ to bằng bắp chân người lớn, nặng từ 300 gram đến 1 kilô. Có nhiều củ nặng đến vài ba kí lô. Khi luộc, bột khoai bở, nuốt phát nghẹn. Có loại khoai nghệ, luộc chín, bóc vỏ, ruột khoai vàng như nghệ, đường tứa ra ngọt như tẩm mật nên dân Nam Định gọi là khoai nghê – khoai mật.
Thơì gian mẹ về quê vào buổi chiều nên gặp nhiều nông dân bới khoai gánh về thôn ấp. Chiều quê hương thật đẹp: Bầu trời xanh cao thăm thẳm, từng đàn cò trắng bay về tổ, in trên nền xanh làm nổi hẳn những cánh cò trắng phau. Qua chiếc chợ ở đầu làng (người mua kẻ bán đã về hết), nhựng chiếc lêu quán xiêu vẹo ngập xác lá (cây) Bàng, thứ cây thường được trồng ở những nơi dân cư tụ tập (chợ, trường học, đình làng…) để lấy bóng râm, che cho người đứng dưới mát mẻ, giảm oi nồng trong mùa hè nóng nực. Qua khỏi chợ, mẹ con tiến vào làng:
 Tới đầu làng gặp những người quen
Ai cũng khen U nết thảo hiền
Dẫu phải theo chồng thân phận gái
Đường về quê mẹ vẫn không quên.
 Người mẹ trẻ gặp bà con chòm xóm. Ai cũng vui mừng hồ hởi vì biết nàng dù đã đi lấy chồng nơi xa nhưng vấn về thăm quê hương, tổ tiên, ông bà, cha mẹ . Thơi xa xưa, dân ta đã tổng kết: ’’Con gái là con ngưòi ta’’. Con gái gả chồng coi như ’’bát nước đổ đi’’. Trên thực tế: Người con gái lấy chồng phải đổi họ, phải gánh vác ’’giang sơn’’ nhà chồng. Gánh nặng cuộc đời đè trên vai gầy của người đàn bà tần tảo, nghèo khó khiến họ không còn khả năng giúp đỡ bố mẹ đẻ…
Bố mẹ đẻ cũng cưới con dâu cho em trai cô gái đã đi ở riêng. Người con dâu kia cũng lặp lại theo chu kì mà con gái ông bà đã đi. Đây chính là quy luật cuộc đời, là cái ’’nợ đồng lần’’ mà tất cả mọi gia đình trong cộng đồng tộc Việt đều chia sẻ.
Theo nhiều tư liệu: Đoàn văn Cừ sinh năm 1913, mồ côi mẹ từ lúc 5 tuổi. Cũng giống Nguyễn Bính, dù mất mẹ lúc còn nằm trong nôi, cũng viết về mẹ rất hay (bài Lòng Mẹ). Người Mẹ trong thi ca của cả hai nhà thơ đất Nam Định đều được người đọc Việt Nam tán thưởng đến xúc động.
Tuy nhiên, tôi góp ý về nhận định của Trần Ngọc Thụ Trong một bài viết, có đoạn:
 ’’… Nói nhiều đến từ "thật" là vì gần đây một nhà thơ khi bình thơ Đoàn Văn Cừ có nói: Đường về quê mẹ là bài thơ nhiều màu sắc, đủ 12 màu như bài Chợ tết, và Đoàn Văn Cừ lấy hình ảnh của những thiếu nữ nông thôn đương thời để viết về mẹ mình ngày xưa, tạo nên hình ảnh người phụ nữ nông thôn tiêu biểu thời xưa.
Nói như thế thật không thấu lý đạt tình’’
(Mẹ trong thơ Nguyễn Bính và Mẹ trong thơ Đoàn Văn Cừ - Trần Ngọc Thụ (*)
 (xem tiếp kì 2)
  
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui