Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
7 Jul.2014

Nhớ nhà văn Tô Hoài Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Tin tức nóng   
  Lớn | Vừa | Nhỏ

Nhớ nhà văn Tô Hoài

Nghe tin buồn từ báo Tuổi trẻ, nhà văn Tô Hoài- nhà văn tiền chiến cuối cùng – ra đi vào cõi vĩnh hằng thượng thọ 95 tuổi. Lãng tử đăng lại bài viết cách đây 7 năm.

GNLT

Tô Hoài có lẽ là nhà văn tiền chiến duy nhất còn tại thế, năm nay ông đã đạt tới tuổi 88 rồi. Có thể kể ra vài tác phẩm tiêu biểu như: Dế Mèn phiêu lưu kí (1941), O chuột (1942), Nhà nghèo (1944), Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Cát bụi chân ai (1992), Ba người khác (2006)… tổng cộng 36 tác phẩm.

Rất nhiều sách báo đã viết về ông, một nhà văn độc đáo. Riêng tôi muốn bàn luận về hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên (1941) và mới nhất (2007) của Tô Hoài mà tôi cho là giá trị nhất, và thêm một kỷ niệm nhỏ với ông.

1. GẶP GỠ TÁC GIẢ DẾ MÈN TẠI AN GIANG

   Khoảng cuối những năm 90, nhà văn Tô Hoài đi thực tế và giao lưu với các lớp Đại học từ xa ở An Giang. Biết tin, tôi trao đổi với ông Hà Duy Long Hiệu trưởng Trường cao đẳng SP ký thư mời nhà văn gặp gỡ và giao lưu với lớp bồi dưỡng hè của GV Ngữ văn trong tỉnh do tôi phụ trách. Tôi chạy xe máy đưa đón ông đi, về Nhà nghỉ Tỉnh đội (cùng đợt đi giao lưu có GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS Trần Đình Sử và nhà thơ Phạm Tiến Duật). Khỏi phải nói, thầy trò chúng tôi vui thú ra sao khi  có dịp giao lưu với tác giả của “Dế mèn” (Văn học 6) và “Vợ chồng A Phủ” (Văn học 12).

Tối ấy, tôi đến nghỉ cùng phòng ông để hầu trà, hầu chuyện và hỏi một vấn đề tôi băn khoăn ấp ủ từ lâu. Tôi hỏi ông dựa vào tài liệu nào có “Bài hát bốn mùa” của Chúa Liễu, nguồn gốc Hán văn của ai (xem Chương 7. Tâm sự bác Xiến Tóc chán đời). Ông bảo “tôi cũng chả biết nguồn gốc cái bài ấy thế nào, hồi ấy thấy ông Phan Kế Bính dịch ra tiếng Việt đăng trên báo, tôi thấy thích nên chép lại rồi đưa vào truyện Dế Mèn, bây giờ cũng chẳng nhớ tờ báo gì nữa”.

Tương truyền, bài từ 4 điệu “Bốn mùa” viết bằng Hán văn của “Chúa Liễu Hạnh” (cả tác giả chúa Liễu Hạnh và bốn bài Từ đều là truyền thuyết và truyền miệng. Công chúa Liễu Hạnh vốn con gái Ngọc Hoàng, vì phạm tội đày mà thác sinh xuống một gia đình ở tỉnh Thanh Hóa, thời Hậu Lê, khi qua đời trở thành phúc thần, chuyên giúp đỡ người hoạn nạn khó khăn, ngày nay có nhiều đền thờ bà). Bốn bài từ có tên: Xuân (điệu Xuân quang hải), Hạ (điệu Cách phố liên), Thu (điệu Bộ bộ thiềm), Đông (điệu Nhất tiễn mai).

Trong chương 7, ẩn sĩ Xiến Tóc chán đời chỉ tối ngày múa hát với lũ bướm và ve sầu, say sưa nghe bọn ấy hát hò nhảy múa, trong đó có bài từ dưới đây:

Bài từ mùa Xuân

Cảnh như vẽ
Gió hây hây
Đào mỉm miệng
Liễu giương mày
Bướm nhặng bay

Trong bụi
Oanh vàng ríu rít.
Đầu nhà
Én đỏ hót hay

Bài từ mùa Thu

Chi bằng
đến thẳng
giậu cúc thơm
Ngồi khểnh
vỗ đàn
gảy một khúc

Được nhà văn Tô Hoài giả thích rõ rồi, tôi sung sướng sau mấy chục năm thắc mắc. Sau đó tôi đưa bài từ mùa Xuân và bài từ mùa Thu vào Luận văn tốt nghiệp đại học Văn của SV Lương Thị Cẩm Nhụy với đề tài “Từ Tống” tốt nghiệp năm học 2010.

Tiếng nói trong “Dế mèn phiêu lưu ký” là tiếng nói vùng Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20 như được ghi âm trong văn Tô Hoài. Bạn đọc miền Trung và Nam đôi khi gặp từ ngữ khó hiểu, phải đoán theo văn cảnh. Còn bạn đọc phiá Bắc như tôi thì đôi khi thú vị được gặp lại một từ ngữ cũ, nghe như gặp lại cố nhân. Thứ hai, giọng kể chuyện của Tô Hoài phảng phất truyện cổ Trung Hoa, thi thoảng nghe thấy bóng dáng những nhân vật giang hồ hảo hán. Nhưng nổi bật lên vẫn là giọng điệu mộc mạc Việt Nam thân thương, hồn nhiên lạ.

Đầu những năm 60 khi phong trào “chủ nghĩa xét lại” ở Liên Xô trỗi lên, Trung Quốc ráo riết ngăn cản ảnh hưởng tràn sang nước họ, Việt Nam cũng vậy. Giới tuyên huấn tư tưởng ở Việt Nam hồi đó quá nhạy bén nên đã gây khó khăn khi Dế Mèn muốn tái bản. Họ cho rằng Dế Mèn cổ vũ cho “tư tưởng thế giới đại đồng” không chia phe phái (!) Họ cho rằng, mấy câu kể chuyện cuối cùng có “vấn đề”: “Tôi đọc lời hịch mà chúng tôi vừa thảo ra để cổ động thế giới đại đồng “muôn loài cùng nhau kết anh em” thì họ reo ầm ầm, tất cả lại đâu kéo về đấy, vừa đi vừa nhảy múa vui chơi (…) Cảm động quá, đi mấy ngày, lại mấy ngày, rồi đi nhiều ngày nữa, đâu đâu cũng thấy bàn tán công việc các loài bây giờ đã thành anh em”. Bạn đọc thử nghĩ xem, mấy câu văn vui vẻ thoải mái như thế thì “chủ nghĩa xét lại” chui vào ẩn núp chỗ nào?

Nghĩ mãi mới hiểu, thì ra lúc ấy chúng ta đang học chính trị về “Ba thế giới, ba dòng thác cách mạng” (phe tư bản, phe XHCN và phe trung lập/không liên kết). Nhà văn Tô Hoài dở cười dở khóc khi nghe tin phê phán ông. Ông viết sách từ năm 1940, xuất bản 1941 nào biết gì đâu về “ba dòng thác, ba phe” khi nó còn chưa từng xuất hiện trên thế giới. Thế mà nay ông chịu vạ lây! Ông mang tiếng là cổ vũ cho sự xóa nhà ranh giới địch-ta (!)…Trái lại, một Nhà xuất bản ở Liên Xô đã xin phép nhà văn Tô Hoài và mời họa sỹ Ngô Mạnh Lân sang Liên Xô vẽ tranh minh họa cuốn Dế Mèn phiêu lưu ký do họ in ấn tuyệt vời hấp dẫn. Bản tiếng Việt do nhà xuất bản Kim Đồng cũng in luôn ở Liên Xô, sau này được đưa về Việt Nam bán khi tình hình “xét lại” đã lắng dịu. Tình cờ tôi gặp trong một Hiệu sách nhân dân ở thị trấn Quốc Oai và mua được một cuốn, nâng niu đọc mãi, quý như vàng.

Đầu năm 2011 nhân dịp Dế mèn thượng thọ 70 tuổi, một tờ báo phỏng vấn Tô Hoài, ông nói về cái cảm hứng viết Dế mèn: “Khi viết Dế Mèn, tôi có hai cuốn sách gối đầu giường là Gulivơ du kí (Jonathan Swift) và Con chim xanh (Maeterlinck). Chính cảm hứng từ hai cuốn sách đã khơi gợi trong tôi những tò mò về thế giới bên ngoài và ước muốn được phiêu lưu. Cả hai điều này nhuần nhuyễn trong tôi”.

Ngày nay nhiều em thiếu niên không biết gì về kiệt tác “Dế mèn phiêu lưu ký”, có chăng chỉ nghe nhắc tên. Các em còn bận vùi đầu vào nhiều thứ vô bổ như games online và những thứ nghe- nhìn khác. Nghĩ mà thương cho thế hệ trẻ ngày nay thiệt thòi nhiều quá. Bạn nào thích đọc (lại) nguyên văn “Dế mèn phiêu lưu ký” hoặc in ra làm quà cho con trẻ, mời xem tác phẩm trong chuyên mục “Tác phẩm văn chương sưu tầm” của blog http://giangnamlangtu.wordpress.com/

2. “BA NGƯỜI KHÁC”

(Nhà xuất bản Đà Nẵng 2007)

Trong cuốn tiểu thuyết, rất nhiều chân dung nhân vật sinh động, chân thực và cuốn hút một cách buồn thảm về một thời kỳ không thể quên trong lịch sử hiện đại VN- Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956). Ông viết với tâm thế của người vừa trong cuộc, vừa có độ lùi để quan sát, chiêm nghiệm,…Tôi thấy cuốn tiểu thuyết này sẽ hấp dẫn được nhiều đối tượng độc giả: đọc vì tò mò xem thời ấy nó thế nào, đọc để thấm thía, và để xem “cụ Tô Hoài” đổi mới phong cách thế nào (ý kiến nhà phê bình Lại Nguyên Ân)

Ở Việt Nam “văn học thương tích” hay “văn học vết thương” cũng đã có nhưng chưa thành một dòng lớn. “Thương tích” chủ yếu của văn học Việt Nam nằm ở thời kỳ Cải cách ruộng đất và Sửa sai, và vụ “Nhân văn- Giai phẩm”. Dòng văn học “vết thương”  của Việt Nam chưa mạnh mẽ như ở Trung Quốc nơi phát sinh dòng văn học này (nguyên Trung văn gọi là dòng văn học thương hận). Nhà văn Việt Nam sẽ còn phải viết tiếp, “phải nhận thức lại về thương tích gây ra để hậu thế tránh đi”.

(Ảnh: Cảnh đấu tố địa chủ thời Cải cách ruộng đất 1953-1956. Trong ảnh, ông địa chủ gầy nhom, chấp tay đứng cúi đầu  trước một phụ nữ ẵm con hăng hái xỉa xói, chửi rủa, kể tội thoải mái, không cho địa chủ cãi…)

Thời kỳ Đổi Mới của văn học có thể tính từ nửa đầu thập niên 1980 với một lớp nhà văn “tiền trạm” như  Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Quang Vũ… là những tác giả đã sớm có ý thức thay đổi cách nhìn để cho hiện thực đời sống hiện lên đúng với bản chất của nó mà không còn lệ thuộc vào quán tính cũ với âm hưởng khẳng định, ngợi ca.

Những tiểu thuyết như Gặp gỡ cuối năm, Những khoảng cách còn lại, Mùa lá rụng trong vườn, Tướng về hưu…và hai bộ phim Hà Nội ytrong mắt ai, Chuyện tử tế của Trần Văn Thủy đã làm nên một đóng góp đặc sắc, là sự báo trước, chuẩn bị cho công cuộc Đổi mới rồi sẽ diễn ra dưới hai khẩu hiệu “Lấy Dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Tờ báo Văn nghệ do nhà văn Nguyên Ngọc làm tổng biên tập đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Thời kỳ này tạo ra một mùa gặt mới, tiêu biểu là bộ ba tiểu thuyết trong Giải thưởng Hội nhà văn năm 1991: Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng… tạo ra những góc nhìn khác vào quá khứ, trăn trở hơn, day dứt hơn.

Tuy nhiên “vết thương quá khứ” đối với Tô Hoài chỉ thực sự được khơi lại rõ nét ở tiểu thuyết Ba người khác sau nhiều năm dừng lại ở bản thảo vừa được xuất bản năm 2007. Câu chuyện mô tả một vùng quê yên lành bỗng chốc chìm ngập trong các cuộc đấu tố, tranh giành, oan khốc từ hơn nửa thế kỷ trước tạo ra một cú shock trên văn đàn và công chúng.

Nhìn lại để thấy con người đã đi qua giông bão như thế nào. Tô Hoài viết rất hay về vết thương, tại sao ta phải e ngại ? Phải tin ở độc giả, họ đã trưởng thành” (một nhà phê bình văn học nhận xét), “không thể sốt ruột, nhưng dòng “văn học vết thương” dần dần phải được nhìn nhận với sự cởi mở hơn. Không nóng vội nhưng “từ từ rồi sẽ đi đến đích”.

Nghệ thuật tiểu thuyết Ba người  khác của ông rất mới, nhất là cấu trúc tiểu thuyết và xây dựng nhân vật. Nghệ thuật này chưa có ở các truyện trước đây của ông vốn rất mạch lạc, minh bạch. Ông khôn khéo xưng “tôi” (hồi xưa ông đã từng làm đội phó CCRĐ) vừa là hư cấu nhưng cũng có thể hiểu là sự thật. Anh Bối đội phó làm việc như “thiên lôi chỉ đâu đánh đó”. Đây cũng là cơ hội nhà văn tự thanh minh và sám hối cái đoạn đời không mấy vinh quang của ông và nhiều người khác. Vậy đích danh thủ phạm của những cảnh tồi tệ, oan ức đến mức nực cười chua chát kia là ai ? Chẳng ai ngờ tai họa ấy lại đến từ bên kia biên giới.

Tựa đề tiểu thuyết “Ba người khác”cũng rất bí ẩn. Đúng ra chỉ có “hai người khác” còn người thứ ba chính là nhà văn (lúc ấy làm đội phó đội cải cách, mang tên Nguyễn Văn Bối).  “Ba người khác” là ba nhân vật: đội trưởng cải cách Huỳnh Cự, đội phó Nguyễn Văn Đình và  Tôi (Nguyễn Văn Bối đội phó- nhân vật thứ ba, trong vai người kể chuyện). Vì sao nhà văn lại gọi bản thân mình là “người khác”? Có lẽ, ngụ ý rằng khi Tô Hoài đi làm CCRĐ thì ông không phải  là chính mình nữa, đã thành “người khác” chăng? Thôi thì tùy bạn đọc hiểu cho tâm sự nhà văn

Bên cạnh còn hàng chục nhân vật ở thôn Am, thôn Chuôm…Đặc biệt có một nhân vật không tên, chức vụ là một huyện ủy viên, nhà văn chỉ gọi là “người huyện ủy viên”- kẻ giấu tên giấu mặt chỉ huy cuộc CCRĐ tàn bạo, nghe cái tênrất ngô nghê nhưng ngẫm kỹ thì thấy rất có ý vị.

Nhìn chung, hiện thực CCRĐ ở làng xã được kể lại chi tiết, thấp thoáng đôi chút ở cấp huyện, tỉnh, không nói tới cấp trung ương.(chắc hẳn mai sau sẽ có nhà văn viết tiếp, như kiểu Trung Quốc viết chuyện CCRĐ và Cách mạng văn hóa vô sản từ cấp xã, cơ sở dần dần đến cấp trung ương). Tô Hoài viết để trang trải món nợ lòng, cũng là thực hiện nghĩa vụ  người cầm bút đối với đất nước, dân tộc.

Bạn đọc sẽ gặp nhiều câu văn què cụt, hỗn độn, lục cục. Chẳng phải vì trình độ viết kém, Tô Hoài cố ý viết như thế để gây một không khí quá khứ, tạo ra cái lủng củng rối loạn đến độ ngu ngốc của một thời đã qua. Ông đã dùng thủ pháp đó khiến người đọc bình thường hơi khó hiểu, phải ngừng từng lúc để cố hiểu lời văn nên khó tránh khỏi cảm giác khó chịu…

Hơn 20 năm qua, nhà văn Việt Nam dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của nhà văn hiện đại Trung Quốc nên đã viết được những tác phẩm đáng kể, phanh phui chuyện quá khứ đen tối. Họ đang xứng đáng với sứ mệnh nhà văn. Nhưng văn học nước ta vẫn chưa theo kịp Trung Quốc… Cũng không thể trách họ, phải chờ đợi thời gian.

Xin kết thúc phần giới thiệu tiểu thuyết “Ba người khác” với ý kiến của nhà văn Trung Quốc, GS Chúc Ngưỡng Tu: “Lật lại bài học quá khứ không phải để gây thù hằn, mâu thuẫn hay để than khóc; mà để rút ra bài học. Phải nhìn thẳng vào quá khứ để định hướng tương lai. Không thể né tránh “vết thương” bởi dù thế nào nó đã là một phần của lịch sử”.

Kết

Tuổi nhỏ Tô Hoài sống ở ven cánh đồng làng Nghĩa Đô quê ông, nối liền với cánh đồng làng tôi (cùng huyện Hoài Đức, Hà Đông). Cánh đồng ấy là thiên đường tuổi thơ và cũng là thế giới phiêu lưu của dế mèn. Tuổi nhóc con của tôi ở phía nam của cánh đồng, ông ở phiá bắc cánh đồng ấy….Cuối cùng tôi mới có dịp gặp ông ở bờ nam sông Hậu, phần xa xôi nhất của “cánh đồng Việt Nam” nếu chúng ta coi cả đất nước là một cánh đồng khổng lồ, hay một “cánh đồng bất tận” (như ý nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ).

PHN

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui