Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
10 Apr.2011

CHU XUÂN GIAO LÀ AI ? - 4 Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Phê bình, tiểu luận   
  Lớn | Vừa | Nhỏ

HỒ SƠ CHU XUÂN GIAO - KỲ 4
Trả lời Ông Bà Chu Xuân Giao - kỳ cuối
Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện

Về chú thích của Nguyễn Tông Quai có liên quan đến TỨ BẤT TỬ trong Dư Địa chí

1. Như chúng ta đều biết, Dư địa chí là tác phẩm của Nguyễn Trãi. Trong lời giới thiệu ở lần xuất bản năm 1976, Nguyễn Trãi toàn tập viết:

Dư địa chí là quyển thứ sáu trong Ức - Trai di tập. Bản dịch đây là của ông Phan Duy Tiếp [ông Chu Xuân Giao nói ngọng nên cứ gọi cụ là Phan Huy Tiếp (tr.42 và 44), hoặc nói nhịu thành Phan Huy Trếp (tr. 44) trong bài viết của Ông - N.X.D chú] do ông Hà Văn Tấn hiệu đính, chú thích và Nhà xuất bản Sử học xuất bản năm 1960. Nay chúng tôi đem bản dịch trên hiệu đính lại một lần nữa và đưa vào quyển Nguyễn Trãi toàn tập này.

Ông Phan Duy Tiếp và ông Hà Văn Tấn, như nhiều bạn đã biết, đã căn cứ vào bản khắc Ức - Trai di tập in năm Tự Đức thứ 21 (1868) mà dịch Dư địa chí”(Sđd, tr. 209).

Dư địa chí như chúng ta hiện có là một công trình nghiên cứu tập thể. Ngoài những câu chép về các đạo, Dư địa chí còn có lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn. Những người này đều sống đồng thời với Nguyễn Trãi.

Ngoài lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn, Dư địa chí còn có những phần do người các thời sau (thời Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiên Túng, Nguyễn Thiên Tích, Lý Tử Tấn) thêm vào”(Sđd, tr. 209).

Chính vì các lý do trên, các nhà làm sách Nguyễn Trãi toàn tập khuyến nghị rằng:

Dư địa chí, tóm lại, là một quyển sách có giá trị về mặt địa lý học lịch sử. Nhưng đó là quyển sách đã được người các đời sau, cụ thể là người các thế kỷ XVI, XVII, và XVIII thêm và sửa chữa nhiều lần. Khi nghiên cứu và sử dụng Dư địa chí, vì vậy, phải thận trọng”(Sđd, tr. 210).

2. Dư địa chí có tất cả 54 điều mục, Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767) đã chú 4 điều mục trong là: 23, 32, 37 và 40. Dưới đây là điều mục 23 trong Dư địa chí. Mục (điều) 23 như sau:

Nguyễn Trãi viết:

"Thiên - đức, Vệ - linh ở về Kinh - bắc.

Thiên-đức là tên sông, xưa là Bắc-giang, đời Lý nhấc lên làm phủ. Vệ-linh là tên khác của núi Vũ-sơn, Đổng thiên vương bay lên trời là ở đấy. Kinh-bắc xưa là bộ Vũ-ninh; tây và nam giáp Thượng-kinh, Sơn-nam, đông và bắc giáp Thái-nguyên, Hải-dương. Đấy là trấn thứ tư trong 4 kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía bắc. Có 4 lộ phủ, 21 huyện, 1.147 làng xã.

Cẩn án(của Nguyễn Thiên Tích):

Phủ Từ-Sơn có 5 huyện, 400 xã [Nguyễn Xuân Diện lược bỏ tên các huyện và số xã trong huyện]; Phủ Thuận-an có 5 huyện, 322 xã; Phủ Bắc-hà có 4 huyện, 148 xã; Phủ Lạng-giang có 6 huyện340 xã. (Sách Tứ trấn ký [sách này hiện chưa tìm thấy – N.X.D chú] nói: Phủ thì nhất Tam-đái, nhì Khoái-châu; huyện thì nam có huyện Chân (định), bắc có huyện (Yên) –Dũng, tây có huyện (Yên) –Lạc, đông có huyện (Tứ)-Kỳ. Đấy đều là những chỗ phì nhiêu bậc nhất.

Nguyễn Thư – hiên nói:

Người Tống nói rằng biển nước ta sinh châu, núi nước ta sản vàng. Người Nguyên nói rằng nước ta một tấc đất là một tấc vàng. Người Minh nói rằng nước ta ở về cuối Trung-quốc, đất thiêng người giỏi. Người Thanh nói rằng Tản-Viên đại vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng thiên vương cưỡi ngựa bay lên trời, Chử đồng tử gậy nón lên trời, Từ Đạo- hạnh in dấu vào đá để đầu thai; ấy là bốn vị bất tử của nước An Nam”.

(Trích Nguyễn Trãi toàn tập, in lần thứ hai có sửa chữa và bổ sung. Viện Sử học. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 201, trang 223 và 224).

Việc sử dụng bản Dư địa chí, chỉ tính riêng việc dẫn cái lời chú cho điều 23 của Dư địa chí đã có tình hình như sau:

2.1. Tác giả Bùi Thiết, trong bài Tứ Bất Tử của đất Việt là những ai? đăng trên Đại Đoàn Kết, số Chuyên đề cuối tháng, số 17 (ra ngày 20.11 - 20.12.1994), trang 6 có viết:

“…Trong Dư địa chí có một đoạn chép như sau: “Người Minh nói rằng nước ta ở về cuối Trung Quốc, đất thiêng người giỏi…Tản Viên đại vương đi từ biển lên núi. Phù Đổng thiên vương cưỡi ngựa lên trời, Chử Đồng Tử gậy nón lên trời, Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai ở Ninh Sơn (Sài Sơn bây giờ). Ấy là bốn vị bất tử của nước An Nam”(Nguyễn Trãi toàn tập, KHXH, 1969; tr.201).

Như vậy trước Thanh Hoà Tử hơn 400 năm, Nguyễn Trãi đã xếp Từ Đạo Hạnh vào hàng bất tử cùng với ba vị buổi đầu quốc sơ, mà Từ Đạo Hạnh là một nhân vật nổi tiếng suốt các thời Lý - Trần - Hồ và thời Lê; tất nhiên Liễu Hạnh sinh sau so với Nguyễn Trãi và không được ông liệt hạng là đề tài dễ hiểu”.

2.2. Trên tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4 (48) – 1994, trong bài viết Thử tìm hiểu dấu ấn huyền thoại Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, tác giả Nguyễn Xuân Diện đã trình bày như sau:

“Tản Viên Sơn Thánh là một trong Tứ bất tử trong tâm thức dân gian Việt Nam (1). Tứ bất tử là khái niệm có từ bao giờ hiện chưa rõ, chỉ biết rằng trong lời chú điều 23 sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì Thư Hiên Nguyễn Tông Quai (1693 – 1767) viết rằng: “Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên trời, Chử Đồng Tử gậy nón lên trời, Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai, ấy là Tứ Bất Tử của nước An Nam”(2). Như vậy, khái niệm Tứ bất tử đã có cách đây ít nhất khoảng 250 năm rồi và có lẽ Nguyễn Tông Quai là người đầu tiên của nước ta chú ý và đề cập đến nhóm từ này”(trang 41).

Hai cái chú thích trong đoạn trên ở trang 44, như sau: “(1)Về Tứ bất tử: hiện có nhiều cách lựa chọn khác nhau được ghi chép trong các tư liệu. Song có ba trong bốn vị bất tử được coi là cố định và nhất quán trong các tài liệu: Tản Viên Sơn Thánh; Chử Đồng Tử; Phù Đổng thiên vương (Thánh Gióng). Nhân vật thứ tư, có tư liệu ghi là: Liễu Hạnh, có tư liệu ghi là Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập đến trong một bài viết khác. (2) Có thể xem ghi chép này ở cuốn: Tản Sơn Đại Tiên thượng thừa chân kinh động huyền tập (A.1249/3b – Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm)”.

2.3. Tác giả Chu Xuân Giao trong bài viết Nguyễn Tông Quai – chân dung một danh nhân văn hóa ở thế kỉ XVIII, in trong tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 6 năm 1995, có viết:

“Nguyễn Tông Quai là người có biệt tài về bang giao và có ý thức rất cao về nền văn hóa dân tộc. Trong lời chú điều 23 sách Dư địa chí, ông viết: “Người Tống nói rằng biển nước ta sinh châu, núi nước ta sản vàng. Người Nguyên nói rằng nước ta một tấc đất là một tấc vàng. Người Minh nói rằng nước ta ở về cuối Trung Quốc, đất thiêng người giỏi. Người Thanh nói rằng Tản Viên đi từ biển lên núi, Phù Đổng thiên vương cưỡi ngựa bay lên trời, Chử Đồng Tử gậy nón lên trời, Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai, ấy là Tứ Bất Tử của nước An Nam”(2).

Chú thích (2) của Chu Xuân Giao: “Theo nội dung lời chú này, có lẽ ông là người đầu tiên đề cập tới thuật ngữ Tứ Bất Tử trong tín ngưỡng dân gian”(bài đã dẫn trang 49).

Photobucket

Bài viết của Chu Xuân Giao

2.4. Tác giả Trần Quốc Vượng, trong bài viết Đức Thánh Tản/Đản (Viên) Sơn Tinh trong tâm thức dân gian Việt - Mường thưở xa xưa ...( đề cương), công bố tại Hội thảo Khoa học Sơn Tinh và Vùng văn hóa cổ Ba Vì (do Sở VHTT Hà Tây tổ chức tại Khách sạn Hương Rừng ngày 4 và 5 tháng 12 năm 1996), sau in trong Kỷ yếu Hội thảo, xuất bản tháng 10 năm 1997, có đoạn:

“Về nhân vật “tứ bất tử” số 4 còn nhiều sự đàm luận - Nguyễn Trãi (1380 -1442) cho là Từ Đạo Hạnh; nhiều học giả đương đại cho là Mẫu Thượng Ngàn v.v...Song không một ai “thắc mắc” về Thánh Tản Viên, Thánh Gióng...”(Sđd, tr.42).

Photobucket

Bản thảo bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng

2.5. Tác giả Nguyễn Xuân Kính, trong bài Chung quanh việc đọc, in trong tạp chí Văn hóa dân gian số 1(69) năm 2000 đã viết, trong mục 3. Khi đọc những cuốn sách được nhiều người bổ sung, chú giải. Mục này có hai thí dụ. Ở thí dụ 2, trang 107 ông viết:

“Trong tâm thức dân gian có bốn vị thần được gọi là Tứ bất tử. Bốn vị thần ấy được nhắc đến sớm nhất trong thư tịch cổ từ bao giờ? Sách Nguyễn Trãi toàn tập (1969) có đoạn: “Nguyễn Thư Hiên nói: Người Tống nói rằng biển nước ta sinh châu, núi nước ta sản vàng. Người Nguyên nói rằng nước ta một tấc đất là một tấc vàng. Người Minh nói rằng nước ta ở về cuối Trung Quốc, đất thiêng người giỏi. Người Thanh nói rằng Tản Viên đại vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng thiên vương cưỡi ngựa bay lên trời, Chử Đồng Tử gậy nón lên trời, Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai ở Ninh Sơn, ấy là bốn vị bất tử của nước An Nam”(chú thích của tác giả Nguyễn Xuân Kính: Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học tập hợp, giới thiệu và chú thích, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tr. 201).

Thạc sĩ Nguyễn Xuân Diện cho biết Thư Hiên Nguyễn Tông Quai sinh năm 1693, mất năm 1767. “Như vậy khái niệm Tứ bất tử đã có cách đây ít nhất khoảng 250 năm rồi và có lẽ Nguyễn Tông Quai là người đầu tiên của nước ta chú ý và đề cập tới nhóm từ này”(chú thích của tác giả Nguyễn Xuân Kính: Nguyễn Xuân Diện “Thử tìm hiểu dấu ấn huyền thoại Sơn Tinh Tản Viên Sơn Thánh trong những bản thần tích”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 4, 1994, trang 41).

Ý kiến của Nguyễn Tông Quai chính là lời chú điều 23 của sách Dư địa chí. Sách này do Nguyễn Trãi biên soạn đầu tiên. Năm 1969, những người viết lời dẫn về Dư địa chí in trong Nguyễn Trãi toàn tập đã lưu ý rằng, Dư địa chí “là quyển sách đã được người các đời sau, cụ thể là người các thế kỷ XVI, XVII và XVIII thêm và sửa chữa nhiều lần. Khi nghiên cứu và sử dụng Dư địa chí, vì vậy, phải thận trọng”(Sđd, trang 184 -185).

Vậy mà vào những năm 90, vẫn có người hiểu lầm khi tác giả đó viết như sau: “Ai cũng biết Đức Thánh Tản Viên – Sơn Tinh là một vị Thần – Tiên – Thánh đứng hàng đầu trong “Tứ bất tử” của người Việt. (...) Đó là: 1. Thánh Tản Viên – Sơn Tinh; 2. Thánh Gióng; 3. Chử Đồng Tử; 4. Mẫu Liễu. Về nhân vật Tứ bất tử số 4 còn nhiều sự đàm luận. Nguyễn Trãi (1380 -1442) cho là Từ Đạo Hạnh; nhiều học giả đương đại cho là Mẫu Thượng Ngàn v.v...”(Chú thích của tác giả Nguyễn Xuân Kính. Xin xem: a/Nguồn sáng, cơ quan trung ương Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hà Nội, 1997, tháng 2, số Tết Đinh Sửu, tr. 20; b/ Sơn Tinh và Vùng văn hóa cổ Ba Vì, Kỷ yếu khoa học, Sở VHTT Hà Tây xuất bản, 1997, tr.42).

Photobucket

Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học

Do đọc không kỹ, ý kiến của Nguyễn Tông Quai (thế kỷ XVIII) được đẩy lên thế kỷ XV và gán cho Nguyễn Trãi (!).

3. Thay lời kết luận:

Ông bà Chu Xuân Giao và chư vị thấy đấy, làm nghiên cứu nó mệt như vậy. Khổ lắm! Nhất là lại đi vào cái nghề chữ nghĩa, khảo cứu thế này. Chỉ riêng việc đọc và dẫn một cái tư liệu này mà đã như thế, còn những cái to tát nhớn nhao thì nó phức tạp đến thế nào.

Tôi thực lòng nghĩ đến chỗ bằng hữu cũ với Ông Chu Xuân Giao, cũng không định viết mấy cái Entry như thế! Nhưng mà Ông Bà lại viết về tôi như vậy lên một tờ tạp chí sang trọng và bác học bậc nhất nước Việt Nam, giấy trắng mực đen rồi. Càng đọc đi đọc lại, càng thấy thương Ông Giao (ngày xưa là Em Giao) một phần, lại càng giận nhiều phần, vì cứ đọc xuống dưới, xuống dưới nữa là càng thấy vợ chồng Ông thít cái thòng lọng vào cổ tôi càng chặt. Ông bà viết ra một bản án mà từng trang từng chữ là một kết tôi vào cái tội đạo văn, đạo ý tưởng, lấp liếm và làm sai lệch nhời ông. Ông Bà tung chưởng, xuất chiêu trước, tôi đành phải xuất chưởng đó thôi!

Vậy thì kiếp sau, xin vẫn làm người. Nhưng mà không làm nghiên cứu nữa! Mệt lắm!

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui