Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
25 Mar.2014

GIANG NAM LÃNG TỬ Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Phê bình, tiểu luận   
  Lớn | Vừa | Nhỏ

VỀ HỘI ĐỒNG BÍ MẬT CHẤM

LẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHàTHUYÊN.

GIANG NAM LÃNG TỬ

gnlt blog 24.3.14

Sau những lời lẽ lu loa, nổi nóng và nông nổi của mấy cây bút như GS Phong Lê, văn sĩ Vũ Hạnh, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu. vv…trên các tờ Văn nghệ TP.HCM, báo Quân đội, báo Nhân dân, Thanh tra và Văn nghệ, báo chí mạng nổi lên cơn bão phản ứng, bác bỏ mấy tờ báo nói trên.

 Bẵng đi một thời gian hơn nửa năm, những kẻ tìm diệt trí tuệ quyết tâm tận diệt.

 Một hội đồng chấm lại luận văn Nhã Thuyên được tổ chức bí mật !

 Nhà đạo diễn ẩn mình trong bóng tối.

Sau khi chấm hủy luận văn, lại ra công văn chỉ đạo báo chí.

Chuyện này sẽ nói ở cuối bài.

 Họ được mời họp bí mật để phủ nhận luận văn của Nhã Thuyên-Đỗ Thị Thoan.

 Sau khi giải tán Hội đồng 2 trong bí mật, lại có yêu cầu là không được tiết lộ về cuộc họp hội đồng chấm lại.

 Khi được bạn hữu hỏi đến thì giám khảo nào cũng giả vờ rằng “không biết có cái cuộc ấy”.

 Ôi phẩm chất, bản lĩnh và lương tri của các nhà khoa học !

 Còn gì thảm hại hơn thế nữa không ở một trường ĐHSP lớn nhất nước với một truyền thống lịch sử đáng tin cậy lâu nay ?

 Ai ngờ đâu Đảng ta ngày nay lại phải chui vào hoạt động “trong bóng tối” như những ngày tiền khởi nghĩa (trước CM tháng Tám1945) và trong thời Pháp tạm chiếm, Mỹ tạm chiếm !

 Bí mật đã “bật mí” !

 Được biết, danh sách Hội đồng bí mật chấm lại Luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên (gọi tắt Hội đồng 2) gồm:

Chủ tịch Hội đồng (2):

PGS.TS Đoàn Đức Phương, Chủ nhiệm khoa Văn học, Đại học KHXH và NV, thành viên Hội đồng lý luận phê bình VHNT trung ương.

 Phản biện :

 GS Đặng Thanh Lê, 84 tuổi, chuyên gia về văn học Việt Nam trung đại, ĐHSP.HN

 PGS.TS Phan Trọng Thưởng, nguyên viện trưởng Viện văn học, thành viên Hội đồng lý luận phê bình VHNT trung ương.

 PGS.TS Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm khoa Việt Nam học, Đại học sư phạm Hà Nội

 PGS.TS Nguyễn Duy Đức, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Nhân tiện, xem Danh sách Hội đồng chính thức chấm Luận văn (gọi tắt Hội đồng 1), Hội đồng này đã chấm Luận văn Nhã Thuyên với điểm cao tuyệt đối:

Chủ tịch Hội đồng: PGS.TS Nguyễn Văn Long

Phản biện và thư ký:

PGS.TS Ngô Văn Giá

PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp

TS. Chu Văn Sơn

TS. Nguyễn Phượng

Vài nhận xét, so sánh sơ bộ, tản mạn về hai hội đồng.

 Nhìn học vị, học hàm và chức vụ rềnh rang của Hội đồng chấm lại (hội đồng 2) thấy có vẻ  sẽ đè bẹp Hội đồng chấm trước (hội đồng 1).

 Học hàm cao nhất, cao niên nhất: GS Đặng Thanh Lê.

Đặc biệt Hội đồng 2 còn có hai ông Phương và Thưởng là hai ủy viên “Hội đồng lý luận phê bình VHNT trung ương” (do đồng chí PGS.TS Đào Duy Quát chỉ huy), lại thêm một GV Học viện Chính trị quốc gia HCM nữa. Nhìn danh sách Hội đồng, người ta có thể hiểu đạo diễn đã viết kịch bản với một quyết tâm hủy diệt luận văn thạc sĩ rồi.

 Nhìn về chuyên môn, thấy Hội đồng 2 kém hơn là chắc chắn.

Hội đồng 2: không thành viên nào có công trình nghiên cứu gì về Văn học hiện đại, đương đại.

 Trong khi, toàn bộ thành viên Hội đồng 1 đều là những chuyên gia văn học hiện đại nổi tiếng trong giới văn đại học và công luận, báo chí văn học nghệ thuật.

 Đặc biệt, hội đồng 2 có GS Đặng Thanh Lê  khiến giới văn đại học không khỏi ngỡ ngàng. Lãng tử ưu ái dành nhiều dòng bàn bạc về vị giám khảo cao tuổi nhất trong làng đại học Văn.

 Bà Lê là con gái của cố GS ĐặngThai Mai, bà cũng là chị vợ của tướng Giáp. Chuyên đào sâu văn học trung cổ giai đoạn Nguyễn Du, bà suốt đời tầm chương trích cú, “dưới ánh sáng tư tưởng văn nghệ Mác- Lê” để nghiên cứu thân phận Thúy Kiều. Thực là, “Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” . Trước thân phận hàng vạn cô Kiều đời nay, GS Lê ngoảnh mặt đi, ăn làm sao nói làm sao bây giờ! Bởi vì, bà đã lỡ giảng hùng hồn say sưa rằng “nhân vật Thúy Kiều là bản án gay gắt lên án chế độ phong kiến”, bây giờ bà đâu có biết dùng phương pháp nào, “dưới ánh sáng tư tưởng nào” để bàn chuyện “cô Kiều ngày nay”? Thân phận hàng vạn cô Kiều thời nay, những người sống cùng thời với bà, ở  quê bà hẳn cũng có không ít, đâu đâu cũng có – những thân phận ấy gọi là “bản án” gì đây nhỉ? Thôi,  im lặng là hơn.

 Bà hầu như cũng không bao giờ viết báo chí.

Bà làm ngơ trước mọi hiện tượng văn học đương đại sôi sục hay âm ỉ suốt từ 1954 tới nay. Có lẽ, bà chịu ảnh hưởng nhân sinh quan khá sâu đậm của nhà nho Đặng Thai Mai thân phụ bà. Cụ Đặng từng khuyên nhủ con rể là Đại tướng Giáp khi  tướng Giáp thất thế ở Đại hội Đảng 6. Cụ đã khuyên “thời của anh qua rồi, anh nên giữ gìn…” (đại ý như thế). Lời khuyên của cụ theo đạo xuất sử của nhà nho, thực chất là đạo “an phận thủ thường”, chẳng dính dáng gì với chủ nghĩa Mác Lê. Chính cụ Đặng đã lấy thân mình làm tấm gương; chuyện kể rằng khi chủ trì hiệu đính, dịch lại tập “Nhật ký trong tù”, cụ phát hiện một sự thật động trời, nhưng rồi cụ…im lặng. Và bây giờ cụ sẽ mang phát hiện ấy đi hỏi tác giả là cụ HCM đồng hương ở thế giới bên kia thôi.

 Mặt khác, nữ GS Đặng Thanh Lê suốt hơn nửa thế kỷ qua, không bao giờ bàn tán nửa lời về văn học hiện đại.

 Tưởng đâu bà Lê, con nhà nho nòi, đã biết câu “lão giả an chi”, thế nào mà đùng một cái, “ma dẫn lối quỷ đưa đường / Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi” (Truyện Kiều, câu 2665), bà nhận lời đi chấm lại Luận văn Nhã Thuyên với tư tưởng chỉ đạo phải hủy diệt.

 Còn đâu là tính thận trọng, tính chính danh của một nhà khoa học tự biết mình và tự trọng. Bà Lê bây giờ tuổi hạc đã cao, nghĩ quơ quào thêm được cái gì hay cái nấy, bà quên hết đạo lý của người trí thức. Bà còn ham muốn gì nữa – danh vọng, tiền tài ?

 Lại cũng cần nói thêm: cha bà, GS Đặng Thai Mai từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện văn học, sau đó truyền lại cho chồng bà, PGS. Nguyễn Văn Hoàn cũng chức vụ phó Viện trưởng viên ấy. Chồng kế nhiệm cha.

 Liên tưởng tới Hội đồng 1 có PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, đương kim Viện trưởng Viện văn học. Khi chấm lại Luận văn, bà Lê hẳn có liên tưởng so đọ chút ít về cha và chồng từng giữ chức vụ ấy . “Anh Điệp viện trưởng non choẹt, làm sao bằng cha và chồng mình được, sao dám chấm điểm 10 cho một Nhã Thuyên nào đó chứ ?!”

 Trên đây là mấy điều tâm đắc nhất Lãng tử bàn về vị giám khảo cao niên nhất của Hội đồng phúc khảo.

 Sau có lời bàn sơ sơ về các giám khảo còn lại.

 Trong Hội đồng 2 lại có Phan Trọng Thưởng, cựu Viện trưởng Viện văn học, tiền nhiệm của đương kim Viện trưởng Nguyễn Đăng Điệp ( “Viện trưởng “mới” làm sao bằng mình được!”… ).

 Những sự trùng hợp ấy không phải được chọn ngẫu nhiên bởi một đạo diễn bí mật (lại bí mật nữa !).

 Có thể nói đạo diễn kịch bản “phúc khảo bí mật” này có toan tính khá thâm thúy, họ tận dụng thành ngữ cổ “văn nhân tương khinh”, hoặc “Con gà tức nhau tiếng gáy”.

 Cũng phải bàn thêm về  một nhân vật giám khảo 2 nữa: PGS. TS Lê Quang Hưng.

 Cha Hưng là nhà giáo lão thành Lê Bá Hán dạy Đại học Vinh từng được coi là chuyên gia hàng đầu về lý luận văn học “dưới ánh sáng tư tưởng mác xit” với bộ “Lý luận văn học” đồng tác giả. Công trình đó bây giờ bị coi là vô cùng lạc hậu. Sau cái “vô cùng lạc lối” ấy, ông Hán không cập nhật được gì, không có gì mới so với đồng tác giả GS Trần Đình Sử vẫn tiếp tục tiến xa. (GS Trần Đình Sử được mời Hội đồng tư vấn về LV Nhã Thuyên sau khi báo chí Đảng la lối, ông lại viết bài bênh vực Nhã Thuyên và phê phán những kẻ phê phán vô lối ). Giới văn đại học ngày nay hầu như đã quên ông Hán rồi (cũng như đã quên bà GS Đặng Thanh Lê, vì những công trình bất cập của hai vị). Ông Hán kịp để lại một TS nối nghiệp, tên là Lê Quang Hưng, anh này chưa có một công trình gì cho ra hồn về văn học đương đại – giai đoạn Luận văn Nhã Thưyên đang nghiên cứu. Lê Quang Hưng này trước đây cùng dạy một tổ với TS Chu Văn Sơn (giám khảo Hội đồng 1). Lê Quang Hưng ắt có nhiều “cảm hứng” phê phán Luận văn thực triệt để, điều này cũng dễ hiểu thôi, thói đố kỵ của trí thức non.

 Có thể bàn đôi chút về chức danh chủ tịch Hội đồng 2: PGS.TS Đoàn Đức Phương.

Mang danh một khoa Văn của trường ĐH khác, cho được cái chữ khách quan. Nhưng cũng biết rằng hai khoa Văn này về truyền thống là hai trường phái nghiên cứu từng rất khác nhau, không mấy hợp ý nhau. Đoàn Đức Phương cũng chưa phải là một chuyên gia được khẳng định về văn học hiện đại, đương đại, chưa có một bằng chứng rõ ràng nào về thành tích nghiên cứu của anh ta.

 Than ôi, các vị giám khảo chấm lại hẳn đã được dặn dò, được “quán triệt tư tưởng”, được “đạo diễn” trả thù lao hậu hĩ, lại ghi thêm điểm cho sự thăng tiến về sau.

 Tái bút

 Nhiều người kinh ngạc về Công văn Ban tuyên giáo chỉ đạo báo chí, CV đó đã viết “Học hàm thạc sĩ Đỗ Thị Thoan”.

 Xin đề nghị sửa lại ngay,  đó là: “học vị thạc sĩ”.

(ảnh” trích công văn)cv BTG

 Chứng minh:

 1. Từ điển Hán-Việt, Đào Duy Anh, giới nghiên cứu ai cũng công nhận là cuốn tự điển chữ Nho tin cậy nhất hiện nay, có ghi mục từ:

            Học vị, 學位: cái danh vị của chính phủ cấp cho khi học nghiệp đã xong.

(Học nghiệp đã xong: tức là tốt nghiệp một khóa đào tạo).

(và chú thêm tiếng Pháp: titre).

           Không có mục từ “học hàm”.

 2. Từ điển Tiếng Việt năm 1997 của Trung tâm từ điển học Việt Nam.

Trang 438, ghi “Học vị: Danh vị cấp cho người có trình độ học vấn nhất định, thường là trên đại học. Học vị tiến sĩ”.

Mục từ này tương tự với từ điển Đào Duy Anh.

Trang 437 ghi “Học hàm: cấp bậc của người nghiên cứu-giảng dạy ở bậc đại học. Học hàm giáo sư”.

 3. Từ điển Lạc Việt:

 Phần Việt- Anh

“Học hàm”: Professorship, học hàm giáo sư.

 “Học vị”:  An academic distinction: danh hiệu học vị học thuật.

 Với quan niệm “học hàm” như trên, cùng với ý đồ định hướng cho tiếng Việt “máy bay trở khách MH 370”,  Ban tuyên giáo có tham vọng giữ cả vai trò “định hướng” cho ba ngôn ngữ, chống lại ba từ điển Hán- Việt- Anh nữa đấy !

 Kết

 Đề nghị 1: Tước học vị, học hàm của những người bí mật chấm lại luận văn Nhã Thuyên.

Đề nghị 2: Ban tuyên giáo nên đi học bổ túc ba ngôn ngữ Việt- Hán- Anh nếu muốn giữ cả trọng trách “định hướng ngôn ngữ” cho ngành đại học nước nhà.

 Đề nghị 3: Trường ĐHSP Hà Nội cần công khai giải trình vụ việc trên báo Giáo dục & Thời đại, tờ báo ngành hoặc báo chí khác.

 GNLT

(một bạn đồng nghiệp từ Hà Nội gửi cho Lãng tử bài thơ anh cảm tác ngày 8-3)

Sương mù dìm ngập mồng 8 tháng 3

Hà Nội có ngỡ mình là Luân Đôn

hoa nhàu

áo dài hoen

đèn nhòe

còi đục

cao ốc ẩn mặt

hàng cây thất thần

  Read the rest of this entry »

Lan man những chuyện buồn !!

 Nguyễn Minh Đào *

  Tháng trước, tôi cùng một số bạn bè về đồi Ô Tà Sóc, núi Dài – một địa danh lịch sử trong vùng căn cứ kháng chiến Bảy Núi năm xưa, dự lể giổ lần thứ 43 người đồng đội chúng tôi là anh Trần Nhất Quyết, đại đội trưởng Đại đội trợ chiến 385 thuộc Tỉnh đội An Giang, anh trúng đạn hy sinh cách tôi vài bước khi di chuyển dưới tầm hỏa lực quân Sài Gòn. Sự hy sinh của anh, cùng sự hy sinh những đồng chí, đồng bào tôi chứng kiến trong các cuộc chiến đã qua, để lại ký ức đau buồn trong tôi khó phai !

 Ngẫm chuyện xưa, tôi tự hỏi trong thế kỷ trước trên thế giới có nước nào như nước ta sao lắm kẻ thù, hết Tây đến Mỹ từ phương trời xa cũng tìm đến đánh gây đau thương, tang tóc cả hai miền đất nước, rồi người “đồng chí” láng giềng “vĩ đại” phương Bắc “như môi với răng” và người “đồng chí” bé tí ở phương Nam sát nách ta cũng kiếm chuyện đánh ta vỡ đầu sức trán, mà “chiến tranh đâu phải trò đùa” – lời một bài hát – người dân nước ta thích có chiến tranh?!

 Sau các cuộc chiến thãm khốc, gần bốn mươi năm xây dựng, với thời gian nầy hoặc ngắn hơn, những nước và vùng lãnh thổ như Nhật, Hàn quốc, Đài Loan…từng đi qua chiến tranh như ta đã thành những “con rồng”, “con hổ”  còn ta thì “hai bước tiến một bước lùi”, con đường đi lên công nghiệp hóa chông chênh, đất nước như con thuyền đi trong giông bảo …!

  Vụ khai trừ đảng ông Tống Văn Công, kết án tù Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào mới đây, cũng như những vụ trấn áp người bất đồng chính kiến tương tự  khác, tôi nghĩ Đảng không cần nặng tay như vậy chỉ thêm thù bớt bạn, chuốc thêm oán hận trong lòng người, tích tụ thêm mâu thuẫn xã hội, làm suy giảm thêm uy tín Đảng và tiềm ẩn nguy cơ khó lường cho chế độ! Ngày xưa, Đảng tồn tại và trưởng thành trong lòng dân, ngày nay Đảng tiếp tục tồn tại và phát triển cũng chỉ trong lòng dân mà thôi…!

  TỪ MỘT BẢN LUẬN VĂN

 28-07-2013

Phạm Xuân Nguyên

(chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội)

 (Báo Pháp Luật.TPHCM)Nha THuyen

 Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan

  Đó là bản luận văn thạc sĩ văn học mang đề tài:

Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”.

 Tác giả luận văn là Đỗ Thị Thoan, còn được biết đến trong văn giới với bút danh Nhã Thuyên. Người nghiên cứu này còn trẻ (sinh 1986), đề tài lại về một hiện tượng của văn học đương đại rất mới mẻ nhưng đã được bộ môn Lý luận văn học của khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội chấp nhận cho làm. Luận văn đã hoàn thành, đã được hội đồng chấm cho điểm 10 cách đây ba năm. Bây giờ một làn sóng phê phán bản luận văn đang được dấy lên bằng những bài viết chỉ trích người làm, người hướng dẫn, người chấm và cả cơ quan chủ quản trong việc này.

LUan Van Nha Thuyen

 (trích)

 CUỘC PHÊ PHÁN LUẬN VĂN CỦA ĐỖ THỊ THOAN HAY LÀ SỰ XUNG ĐỘT VỀ KHUNG TRI THỨC VÀ THẾ HỆ

 Đôi lời giới thiệu của Giang Nam lãng tử

GSTS.Trần Đình Sử, giảng viên cao cấp trường ĐHSP Hà Nội, nguyên ủy viên Hội đồng lý luận trung ương, vừa viết một loạt bài về phê bình văn học trên blog của ông, Giang Nam lãng tử có may mắn theo học với ông một thời gian và nhiều dịp tiếp xúc khác về chuyên môn. Đến nay ông vẫn là người thầy tin cậy của Lãng tử cũng như bao thế hệ GV khác ở nước ta. Với riêng Lãng tử, bài báo này là một bài học mới. Với bạn đọc khác, đây là một bài báo nóng hổi tính thời sự rất đáng tham khảo. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn hữu.

 GNLT

 GS.Trần Đình Sử

     1. Một cách hành xử quá nóng vội

Cuộc phê phán luận văn thạc sĩ năm 2010 của giảng viên đại học Đỗ Thị Thoan hiện đang rầm rộ khắp cả nước, trên các báo lớn, báo nhỏ với đủ các từ quy kết nặng nề như “phản văn hóa”. “phản động,”, “mượn danh khoa học để làm chính trị”, “ngụy khoa học”, “sự lệch chuẩn”, “sự nổi dậy của rác thối”, tham vọng soán ngôi của thơ rác…Một đám cháy đang bùng lên dữ dội trên văn dàn.  Mật độ cấp tập của sự phê phán không kém gì với các cuộc phê phán tác phẩm Vào đời của Hà Minh Tuân năm xưa mà tôi đã nhắc đến với sự xử lí oan đối với cả cuộc đời nhà văn đại tá quân đội. Đồng thời với sự phê phán là các đề nghị cách chức, xử lí những người hữu quan, và thực tế đã không tiếp tục kí hợp đồng giảng dạy với cô giáo Nhã Thuyên một cách vội vàng, chưa đủ thủ tục pháp lí. Thông thường người ta chỉ xử lí sau khi đã nghị án rõ ràng, có người bào chữa, có ý kiến của đương sự. Đằng này tất cả đều làm rất nhanh, bên trên, sau lưng đương sự, thiếu các thủ tục dân chủ tối thiểu trong một xã hội được coi là đề cao dân chủ thì thật tiếc là thiếu sự đàng hoàng. Tại sao chúng ta không tổ chức đối thoại, nêu câu hỏi để yêu cầu nhà khoa học trẻ giải trình, mà chỉ cho phép phê phán, như là một tội lỗi đương nhiên không cần bàn cãi? Tại sao chúng ta lại hành xử một sự kiện văn hóa một cách thô bạo, y như hồi những năm 50, 60, khi chúng ta đang còn ít kinh nghiệm?  Giả thử luận văn thạc sĩ Đỗ Thị Thoan có sai lầm nghiêm trọng chăng nữa thì cũng cho người ta cơ hội để nhận thức và sửa chữa, tương lai của cô còn rất dài, chọn được một người có trình độ học thức để làm giảng viên đại học đâu phải câu chuyện dễ? Chúng ta phải tin vào con người. Mọi sự đều sẽ thay đổi, không có gì là bất biến.

(trích)…

 Ý kiến tản mạn của Giang nam lãng tử

 Đã lâu lắm trong giới Văn đại học chưa có cuộc tranh luận nào sôi nổi như vụ Luận văn Nhã Thuyên. Điều đặc biệt là người trong ngành đại học ít phát biểu nhưng người ngoài đại học la ó nhiều hơn. Được biết, những người khởi xướng vốn ở trong ngành, thậm chí trong trường ĐHSP.HN, muốn khuấy động vụ việc vì đố kỵ theo kiểu “ném đá giấu tay”. Giới chuyên trách lãnh đạo công tác tư tưởng nhân dịp này dằn mặt giới học thuật…

 Hồi này một số nhà nghiên cứu đang bận tâm về luận văn thạc sỹ Đỗ Thị Thoan với 2 luồng ý kiến trái ngược. Bài viết của  Lại Nguyên Ân kiên quyết phản bác lý luận mập mờ của Nguyễn Văn Dân về “trung tâm- ngoại vi”- một diễn ngôn mới của “truyền thống – ngoài lề” nhằm đả kích luận văn Nhã Thuyên. Lại Nguyên Ân yêu cầu bỏ ngỏ cho độc giả lựa chọn giá trị. Đó là biểu hiện tôn trọng thị hiếu văn chương và đề cao sáng tạo cá nhân. Chỉ có thời gian mới đủ khả năng thẩm định cuối cùng, do vậy không nên bốc đồng vội vã như PGS Nguyễn Ngọc Thiện, cây bút truyện ngắn Văn Chinh, lão cây “bút máu” quá thời như Vũ Hạnh vốn kiệt sức từ 1975 bây giờ lại hung hăng “dính máu mới”, còn lão GS Phong Lê bị kích động, lại dở chứng muốn tự xóa tên tuổi mình trong văn giới và độc giả…

 Tôi tiếc cho GS Phong Lê, cựu Viện trưởng viện văn học, một thời nổi tiếng đi tiên phong trong phong trào Đổi mới từ 1986…bây giờ nông nổi bốc đồng như thế.

 Nhóm “Mở miệng” và chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism)

(blog nhà nghiên cứu Anh Vũ- trích)

 Từ hiện đại đến hậu hiện đại

“Hậu hiện đại” là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ văn học đương đại của nửa cuối thế kỷ 20. Nó khác với chủ nghĩa hiện đại ở một số khía cạnh quan trọng.

 Đặc điểm của hậu hiện đại trong văn học:

1. Trong khi trào lưu hiện đại đặt niềm tin vào các tư tưởng, các giá trị, đức tin, văn hóa, và các chuẩn mực của văn minh phương Tây, trào lưu hậu hiện đại từ chối các giá trị phương Tây, xem chúng chỉ như chỉ một phần nhỏ của kinh nghiệm con người và thường từ chối các tư tưởng, các giá trị, đức tin, văn hóa, và các chuẩn mực như vậy.

(Đây chính là sự “giải thiêng” được bị phê phán dữ dội trong các bài viết của những nhà phê bình “chính thống”, những người đang kêu gọi đưa luận văn của Nhã Thuyên và qua đó là lên án nhóm Mở miệng cùng trào lưu văn học mà họ đại diện lên đoạn đầu đài.)

 2. Trong khi trào lưu hiện đại nỗ lực để tìm hiểu những chân lý sâu xa về kinh nghiệm và đời sống, thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại nghi ngờ chính những điều được xem là “sâu xa” này, vì [họ cho rằng] những tư tưởng như vậy chỉ dựa trên một hệ thống giá trị phương Tây riêng biệt nào đó [mà loại trừ những cách hiểu và cách nghĩ khác].

 3. Trong khi chủ nghĩa hiện đại cố gắng kiếm tìm ý nghĩa sâu xa từ nội hàm bên dưới lớp vỏ bề mặt của các đối tượng và các sự kiện, thì chủ nghĩa hậu hiện đại thích dừng lại ở hình ảnh bên ngoài và tránh đưa ra những kết luận hoặc gợi ý về các ý nghĩa cơ bản bên trong của chúng.

 4. Trong khi CN hiện đại tập trung vào các chủ đề trung tâm và tuân theo một quan điểm thống nhất trong một tác phẩm văn học cụ thể, thì chủ nghĩa hậu hiện đại quan niệm rằng kinh nghiệm của con người là không ổn định, tự mâu thuẫn, không rõ ràng, bất phân thắng bại, không xác định, dở dang, bị phân mảnh, không liên tục, “xù xì thô ráp”, và không có một thực tại nào cụ thể. Do đó, hậu hiện đại tập trung vào hình ảnh của một thế giới tự mâu thuẫn, bị phân mảnh, không rõ ràng, không xác định, chưa hoàn tất, và còn thô tháp.

 5. Trong khi các tác giả hiện đại hướng dẫn và kiểm soát phản ứng của người đọc đối với tác phẩm của họ, thì các nhà văn hậu hiện đại tạo ra một tác phẩm “mở”, trong đó người đọc phải cung cấp những kết nối riêng của mình, tạo ra các hệ ý nghĩa thay thế, và cung cấp những diễn giải của riêng mình mà không cần ai hướng dẫn.

(Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại đã ra đời và tồn tại cả nửa thế kỷ nay, và là một trào lưu văn học mới, với nỗ lực đưa ra một cách nhìn và cách lý giải mới đối với cuộc sống. Điều này hoàn toàn không có liên quan gì đến việc “chống cộng” mà các nhà phê bình “chính thống” hiện nay đang cố gắng áp đặt lên Đỗ Thị Thoan và “nhóm Mở miệng”. Mà đó chỉ là sự không hài lòng với cái nhìn chính thống (meanstream) và muốn đưa ra sự khẳng định của riêng mình, và cũng chỉ cho riêng mình mà thôi, chứ không có ý định lôi kéo hoặc kêu gọi ai.

 Phải chăng sự la hoảng lên của các nhà phê bình chính thống, đặc biệt là từ Hội nhà văn, là biểu hiện của tâm lý tự tôn xen lẫn tự ti, hoảng sợ khi thấy quan điểm của mình không còn được tất cả mọi người chấp nhận như cái nhìn duy nhất đúng nữa (?).

 (còn tiếp : Bình luận về Hội đồng chấm lại, tuyên hủy Luận văn…)

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui