“Nhiều khi thấy thơ hay mà chưa chắc đã hay ! - Nhà Văn Lê Xuân Quang - Le Xuan Quang Blog
Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
23 Jan.2014

“Nhiều khi thấy thơ hay mà chưa

chắc nó hay…”


* Ngô Công
Trong tất cả các cuộc tranh luận nghệ thuật đã diễn ra năm 1949 ở làng văn nghệ kháng chiến, có một cuộc tranh luận, theo thiển ý của tôi, vẫn mang tính thời sự cho tới tận hôm nay. Đó là cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi. Đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã nói trong lời mở đầu cuộc tranh luận này, đó “không phải nói đến vấn đề thơ không vần, cũng không phải chuyện những câu thơ dài, ngắn tự do…”. Theo Xuân Diệu, hai đặc điểm ấy trong thơ Nguyễn Đình Thi chỉ là “chuyện phụ”…

Xuân Diệu cũng trong lời mở đầu cuộc tranh luận đã nhắc lại cái ý hiển nhiên đúng và rất không mới là, trong nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng, “hình thức và nội dung là một”. Với Xuân Diệu và chắc là với cả nhiều người khác nữa, “mỗi câu thơ là một ít xác thơ đựng một ít hồn thơ”. Tuy nhiên, cách mà Xuân Diệu nhìn vào thơ Nguyễn Đình Thi, ở góc độ hôm nay mà soi xét, có thể thấy không hẳn là không bất cập…
Còn nói về thơ cần có vần hay không vần tựu trung vẫn có hai luồng ý kiến và khen hay chê thì cũng đều rất chân thành và thẳng thắn, không nhìn mặt nhau mà nói như ở một số thời khác. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, thơ là phải có vần. Cụ Ngô Tất Tố trước sau như một, cứ khăng khăng khẳng định: “Thơ là có vần, thơ không vần hãy cho nó một tên khác”. Thậm chí trong quá trình tranh luận, tác giả của Tắt đèn còn lớn tiếng: “Tôi đề nghị thơ không vần thì đừng gọi là thơ!”.

Tác giả Nhớ rừng Thế Lữ thoạt tiên đã đưa ra cái nhìn tương đối thỏa đáng và mềm mỏng về thơ Nguyễn Đình Thi: “Cuộc thí nghiệm của anh Thi là một cuộc thí nghiệm về thơ nói chung… Anh Thi có một hồn thơ mãnh liệt, mà không dùng những hình thức quen, là muốn tìm cái mới…”. Tuy nhiên, Thế Lữ cũng thẳng thắn thừa nhận rằng ông chưa cảm thấy thỏa mãn khi đi tìm hiểu cái hay của thơ Nguyễn Đình Thi. Và chính vì chưa thỏa mãn nên ông thậm chí còn nặng lời: “Thơ anh Thi nguy hiểm, và còn là một cái nguy cơ. Các nghệ sĩ hay bám vào hình ảnh mới lạ, miễn là nó long lanh để đưa tâm hồn mình vào đấy. Đó là cái thú “vicieux” (bệnh tật) của nghệ sĩ. Thơ anh Thi có tính cách quý phái, cao đạo...”. Thế Lữ cảm thấy lo lắng khi ông cho rằng Nguyễn Đình Thi đi “gieo rắc” lối thơ của mình trong làng thơ…

“Hoàng tử thơ tình” Xuân Diệu, thì ngay lời mở đầu tranh luận đã điềm nhiên khẳng định rằng giữa ông và Nguyễn Đình Thi có những “sự giằng co” về quan niệm thơ mà ông không ngại mang ra công khai hóa, dù cũng có những bài thơ của Nguyễn Đinh Thi khiến ông thích thú. Trong cách nhìn của Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi hay có những bài thơ mà ông cho rằng đã phạm phải lỗi “đầu Ngô mình Sở”, các đoạn trong tứ thơ không dính nhau… Và ông dẫn thí dụ: “Bài Đêm mít tinh ban đầu nói trên rừng Phan Lương có sao, rồi nói đến Hà Nội của chúng ta, rồi đến cờ sao kéo về, và câu kết: “Sao ơi, núi rừng ơi, nức nở”. Tôi thấy nó xa quá, không hiểu sao đang đêm mít tinh lại nói đến nhớ Hà Nội. Cái tứ chạy đi như thế, người ta khó theo…”.

Và Xuân Diệu cho rằng: Thơ anh Thi từng bộ phận thì hay, và có những câu rất hay. Những đoạn những câu hay ấy, chắp lại với nhau thì thành ra không hay. Như môi đẹp, mắt đẹp, mũi đẹp, mà không thành mặt đẹp, vì là môi, mắt, mũi của nhiều người… Xuân Diệu cũng nhất quán cho rằng: “Tôi công nhận, có thể có những bài thơ không vần, có những trường hợp thơ không vần hay nhưng phải đúng trường hợp. Tôi nhận thấy trong một bài thơ có vần, có thể có một vài đoạn không vần, có thể có một vài câu không vần nếu sự không vần ấy giúp cho bài thơ hay thêm lên… Nhưng đại đa số trường hợp, nên có vần là vì những cái ích lợi của nó…”.

Loại ý kiến thứ hai, thí dụ như của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thì lại nhìn nhận thơ không vần ở góc độ khác: “Giữa anh Thi và tôi có một sự đồng lõa, vì tôi cũng thích thơ không vần...”. Điều rất hay là khi phát biểu về thơ Nguyễn Đình Thi, tác giả vở kịch Vũ Như Tô cũng đã rất chân thành nhận xét về tính cách và tâm trạng của người đã làm nên ca khúc Diệt phát xít nổi tiếng: “Tôi luôn ngắm anh Thi, tôi thấy ở anh có một cái gì thật mâu thuẫn. Ở hội nghị, anh ngang tàng, ở nhà anh lại hết sức cô đơn. Lý luận sáng suốt, đại chúng, mà thơ thì rối rắm, u uất. Anh Thi nhiều khả năng, nhưng cái căn bản khiến cho người đọc thơ anh cảm thấy thơ già, nguyên nhân chính là anh xa lìa quần chúng. Anh vật lộn với anh nhiều, nhưng thơ anh chỉ phản ánh một phần nào tâm hồn của anh, chứ không nói tiếng nói của đại chúng. Thơ anh như hạt ngọc lung linh, chứ không phải dòng suối lôi cuốn người ta đi. Thơ anh bị ảnh hưởng của lời nhạc nhiều. Đó là yếu tố tạo nên một cái gì chưa vững. Nó là một tiếng nói bập bẹ, mâu thuẫn với anh. Anh Thi chỉ thành công khi anh không phải quay cuồng với chính mình, mà đi gần với đại chúng để phát biểu tiếng nói của đại chúng”…

Nhạc sĩ lão thực Nguyễn Xuân Khoát lại đưa ra ý kiến khá anh minh, cứ tưởng không rõ ý mà lại rất rõ ý khen: “Đọc thơ anh Thi tôi lại nhớ đến một bài thơ của người Việt rất cổ. Đúng hơn, một bài hát. Sau khi biết bài ấy, tôi cho phái siêu thực gần đây không mới gì lắm. Bài ấy, người ta nói như một bài hát của một ông hoàng trong cung, cũng là mình Sở đầu Ngô. Chính các cụ ngày xưa cũng không thích. Đại khái: Đàn ai một tiếng dương tranh/ Hơi dương đầm ấm/ Lá ngô đồng rung/ Một áng hơi sương…”.

Sau khi nghe tất cả những lời khen và chê thơ mình, Nguyễn Đình Thi đã phát biểu như sau: “Tôi đồng ý với phần lớn những lời phê bình. Tôi hay lý luận. Cái tìm tòi của tôi cũng hay lý luận. Nhưng nói đến thơ, đó là một cái thiết tha nhất của tôi, và cũng là cái tìm tòi rất khổ của tôi (tuy nó có cái vui của nó)...

Anh Xuân Diệu nói là thơ của tôi già. Gần đúng. Vì thơ của tôi không phải là những bài thơ vui. Đó là những bài thơ đau đớn. Lúc tôi làm nó, tôi đã nghĩ rằng: Trong lúc này, có nên đưa ra cái đau đớn đó không? Có. Vì cuộc kháng chiến của ta có bao nhiêu cái đau đớn, những đau đớn chính đáng; miễn là cái đau thương ấy không phải là đau thương đi xuống. Anh Xuân Diệu nói nó gò bó, cũng đúng. Rất đau thương mà không nói, đó là thái độ nội dung của tôi. Khi tôi nói cái đau thương của tôi ra, nó ẩn ở một chỗ rất kín. (Ví dụ trong bài Không nói: Môi em, đôi mắt còn ôm đây). Nhưng nội dung ấy khách quan mà xét, thì nó không đúng với cuộc kháng chiến bây giờ, cái đau đớn của kháng chiến không giống cái đau đớn trong thơ tôi. Ở nhiều chỗ kháng chiến, còn đau đớn hơn nhiều, nhưng cái đau đớn không như thế. Một số thanh niên như tôi, nhiều khi không phải là văn nghệ sĩ cũng thích thơ tôi. Một số bạn khác rất mê thơ tôi. Nhưng nhìn kỹ lại các anh ấy phải nhận rằng họ cũng ở một tình trạng na ná như tôi.

Sau này tôi cố gắng sửa chữa. Những lời phê bình làm tôi suy nghĩ. Tôi suy nghĩ và tôi tự bảo tôi phải đổi. Vì cái nội dung đã u uất rồi, cho nên khi nó thể hiện ra ngoài, nó cũng có vẻ khắc khổ, gò bó. Trong khi tôi đi tìm một hình thức tự do, thì cái nội dung của tôi lại gò tôi lại. Tôi muốn có cái mộc mạc đơn sơ, thì trái lại, nó lại cầu kỳ...”.

Nhà thơ Tố Hữu khi kết luận cuộc tranh luận, cũng đã tâm sự rất chân thành: “Làm thơ không phải do trí tuệ muốn, mà do sự sống bản thân của mình. Có những lúc tôi yêu thơ anh Thi, nhưng cũng có những lúc tôi thù ghét nó. Những lúc mà tôi buồn bực, nhọc mệt, tôi thích đọc thơ anh Thi… Tôi đọc những bài Sáng mát trong… Thơ là một điệu hồn, tìm đến những hồn đồng điệu. Những lúc tôi cần làm việc, tôi thấy ghét thơ anh Thi ghê lắm vì tôi thù ghét cái cá nhân nó lại trở về với tôi. Rồi tôi lại dè chừng với tôi. Nhiều khi thấy thơ hay mà chưa chắc nó hay…”.

Chân thành như thế nên không ai giận ai khi cùng nghe những “trung ngôn nghịch nhĩ”. Âu đó cũng là một thái độ hay mà văn nghệ sĩ ở các thế hệ khác cũng nên gìn giữ và phát triển


Ngô Công
hình trên :Nhà thơ Nguyễn Đình Thi thời trẻ.

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui