Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
3 Aug.2013

Nghĩ về đời sống văn học hôm

nay, đôi điều tôi muốn nói

Nguyễn Đình Chú
GS- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
QC 3.8.13

I. Từ một thời tưởng như mọi chuyện đều êm ả
Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã tạo ra một không khí rất mực hào hùng trên đất nước. Không hẳn là tất cả nhưng tuyệt đại đa số người Việt Nam, nhất là người dân lao động đều nhiệt tình đi theo tiếng gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà thể hiện rõ ràng nhất là sự hưởng ứng cao độ công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trí thức, văn nghệ sĩ, số đông cũng vậy. Cách mạng nhất thời đã thu hút được nhiếu trí thức, văn nghệ sĩ lớn của đất nước. Không ai có lương tâm nỡ đặt văn chương nghệ thuật lên trên số phận của đất nước vừa được cách mạng giành lại chưa được bao lâu lại đang có nguy cơ mất lại với kẻ thù ngoại xâm.
Không ít trí thức văn nghệ sĩ sẵn sàng gác lại những đòi hỏi cần thiết của nghệ thuật và nghề nghiệp để nhiệt tình tham gia kháng chiến. Hoài Thanh trong bài Dân khí miền Trung đăng trên Tạp chí Tiền Phong số 3 ra ngày 16/12/1945 chẳng đã hồn nhiên tuyên bố ngày trước sống với cái Tôi là tội lỗi. Nay phải từ bỏ để về với cái Ta (cách mạng). Mặc dù chính nhờ đến với cái Tôi để thành bà đỡ đẻ của phong trào Thơ Mới mà ông có được Thi nhân Việt Nam sau này được mọi người, đặc biệt nhà thơ từng là thần đồng thơ Trần Đăng Khoa đặt lên vị trí thiên tài trong phê bình văn học, coi đây không phải là người viết mà là “người trời” viết. Tất nhiên, lúc này vẫn có người cũng nhiệt tình đi với kháng chiến nhưng không muốn rời bỏ con người nghệ sĩ của mình nên mới có câu thơ :

Ta muốn chia đời làm hai nửa/ Nửa làm chiến sĩ nửa thi nhân”. Khẩu hiệu văn nghệ phục vụ kháng chiến đã được đông đảo văn nghệ sĩ hưởng ứng. Nhưng thực tế vốn không đơn giản, trên đường đi với cách mạng với kháng chiến, mối quan hệ giữa chính trị với văn chương nghệ thuật, ít nhiều cũng đã chớm phát sinh mâu thuẫn. Cuộc tranh luận về nghệ thuật năm 1949 ở chiến khu Việt Bắc là dấu hiệu. Có điều là việc giải quyết mâu thuẫn lúc này đã quá nhẹ nhàng. Một cuộc nhận đường đã diễn ra mà kết quả là tạo được một khí thế đồng thuận, êm ả. Đúng là hào khí của Cách mạng tháng Tám, tráng khí của cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp đã nhất thời dẹp yên những mầm mống bất đồng về đường lối văn học nghệ thuật. Tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của Trường Chinh xuất bản năm 1949 được coi như kinh điển. Tiểu luận Nhận đường của Nguyễn Đình Thi được xem là chính thống. Truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao được coi là thành tựu văn học đầu mùa và mẫu mực của công cuộc nhận đường để trong nhiều năm tháng, với nhà trường, nhận vật Hoàng vẫn bị coi là phản diện, nhân vật Độ vẫn được coi là chính diện một cách quá dễ dãi. Phong trào chỉnh huấn năm 1953 lại còn như là một cuộc thay máu cho văn nghệ sĩ từ chất tiểu tư sản sang chất công nông binh và còn được công cuộc cải cách ruộng đất góp phần bồi đắp thêm. Từ sau cuộc nhận đường cho đến ngày kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, trong phạm vi khu vực cách mạng đã thành công, giường như chỉ thấy một chiều êm ả và góp phần vào sự chiến thắng của cuộc kháng chiến. Tất nhiên, sự đời cũng vẫn không đơn giản. Vẫn đã có những mạch nước ngầm chảy theo chiều khác. Vụ Nhân Văn – Giai phẩm xẩy ra vào thời gian 1956- 1957 lại là chứng cớ. Câu thơ “Đem bộc công an đặt giữa trái tim người” của nhà thơ Lê Đạt cho thấy sự mâu thuẫn giữa chính trị và nghệ thuật khá gay gắt, dĩ nhiên là với một số người như Lê Đạt chứ không phải với tất cả văn nghệ sĩ. Nhưng Nhân Văn giai phẩm đã nhanh chóng bị triệt hạ. Sự êm ả vẫn lại tiếp diễn. Đây là dịp để lý thuyết văn học nghệ thuật của phe xã hội chủ nghĩa đặc biệt là của Liên Xô tràn tới chiếm lĩnh văn đàn, đặc biệt là trong phạm vi nhà trường đại học. Sau vụ Nhân văn giai phẩm, hầu như mọi người đã ngoan ngoạn tin rằng mỹ học Mác-Lênin là cao siêu thần diệu nhất, phản ánh luận của Lênin là cẩm nang thần kỳ mở đường vào thề giới văn chương nghệ thuật có hiệu quả nhất. Đối với người sáng tác và phê bình văn học, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa là tối ưu nhất với định nghĩa của Trường Chinh là “sự phản ánh cuộc sống trong trạng thái vận động cách mạng”. Thể ký được đặt lên hàng đầu trong cuộc tranh luận tại viện Văn học. Vai trò của hư cấu trong nghệ thuật phần nào bị xem rẻ. Có người đã gọi đùa cuộc tranh luận đó là cuộc “cấu ký “. Xu hướng xã hội học dung tục, chính trị hóa trong phê bình văn học được lên ngôi. Một nhà phê bình văn học có tên tuổi (xin miễn nhắc tên) của viện Văn học đã nói trước đội ngũ giáo viên văn của tỉnh Hà Đông (cũ) rằng tác phẩm Sống như anh của Trần Đình Vân ghi chuyện anh Nguyễn Văn Trổi hay hơn cả Truyện Kiều. Một số giáo viên đã viết thư xin giáo sư học giả Viện trưởng viện Văn là Đặng Thai Mai giải thích Sống như anh hay hơn Truyện Kiều ở chỗ nào làm ông Cụ nổi cáu hỏi tay nào nói nhảm nhí thế để giáo viên thắc mắc. Tiếp đó, tác phẩm Bất khuất ra đời thì lại còn là phi thường nữa. Đã có nhà lãnh đạo văn nghệ nói: với Việt Nam ta, chỉ cần ghi chép đúng với sự thật cuộc sống đã là nghệ thuật rồi bới lẽ chính cuộc sống đã đẹp, đã là nghệ thuật. Nói như thế nhưng không một ai có ý kiến khác. Trong không khí có vẻ êm ả này, đã xuất hiện không ít những “phương ngôn”(!?) được dùng ra đề thi môn văn trong nhiều kỳ thi tuyển sinh đại học. Ví như: “giữa bao ngọn cờ sai lạc, lá cờ anh là lá cờ Đảng” khi nói về thơ Tố Hữu, “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong tà áo đẹp/ Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn…Lòng ta thành con rối/ Cho cuộc đờì giật dây” khi nói đến phong trào Thơ Mới mà chính người nói từng là một ngôi sao của phong trào đó… Nhóm Tự Lực Văn Đoàn bị chê bai và xếp xó. Phong trào Thơ Mới bị cho là lãng mạn tiêu cực. Sinh viên đại học văn mà hầu như không được tiếp xúc với tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới. Nhất Linh, Khái Hưng…đều bị coi là phản cách mạng. Vũ Trọng Phụng là Trốtkit, là “lưu manh văn hóa” (HVH). Văn học ở các đô thị miền Nam là sản phẩm của văn hóa thực dân mới. Còn văn học miền Bắc xã hội chủ nghĩa là “nền văn học tiên tiến nhất của thế giới về đề tài chống chủ nghĩa thực dân”…Một đời sống văn học có những biểu hiện như thế đã tồn tại tưởng như êm ả, được mọi người chấp nhận.
II. Đến cái thời biến động phồn tạp đa chiều
Rõ là đời sống văn học nghệ thuật hôm nay trong đó đặc biệt là văn học đã không êm ả nữa, đã biến động để chuyển sang trang mới mang tính chất phồn tạp, đa chiều vốn là chuyện bình thường của nhiều nước trên thế giới:
1. Mấy trang đầu đã hé mở vẻ đẹp.
Sự thay đổi ít nhiều trong quan điểm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên đà đổi mới toàn diện đất nước là nguyên nhân mở đầu. Hẳn là không ai quên niềm hân hoan thoáng có của giới trí thức và văn nghệ sĩ khi có cuộc gặp mặt cởi mở giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với trí thức và văn nghệ sĩ năm 1987. Trong đó ông Tổng bí thư tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ sĩ và sẵn sàng đi đưa cơm cho văn nghệ sĩ nào vì sáng tác mà bị tù đày. Có thể coi đây như là một trận mưa xuân nhè nhẹ cho cây cỏ thêm chút xanh tươi, đâm chồi nẩy lộc. Những Cù lao Chàm, Đứng trước biển, Ngoại tình của Nguyễn Mạnh Tuấn; Đất trắng, Con tốt sang sông của Nguyễn Trọng Oánh, Những thiên đường mù, Bên kia bờ ảo vọng của Dương Thu Hương, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Phiên chợ Giát, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu; Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, Truyện ngắn mà nổi bật nhất là Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu) của Bảo Ninh; Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng; Chuyện làng ngày ấy của Võ Văn Trực; Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập… có thể ra đời trước sau cuộc gặp gỡ với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nhưng được đón nhận chính là nhờ ít nhiều liên quan đến chính sách đổi mới văn học nghệ thuật của Đảng. Ở những sáng tác này, điều đáng ghi nhận là giá trị hiện thực trong cách nhìn và viết về chiến tranh, là giá trị hiện thực phê phán giám nói những điều mà trước đó là cấm kỵ, kèm theo là sự trổi dậy của con người cá thể (cái Tôi), tuy có sự hỗn tạp nhưng phần chân chính cũng không nhỏ. Trong phạm vi chính luận, Đề dẫn về công tác văn học nghệ thuật của Đảng đoàn văn nghệ do Bí thư Đảng đoàn là nhà văn Nguyên Ngọc chủ xướng thể hiện khát vọng đổi mới ít nhiều có tính chất đột biến. Cùng với đà đó, còn có một số luận điểm luận thuyết như Chủ nghĩa hiện thực phải đạo của Hoàng Ngọc Hiến, Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu, Cái thời lãng mạn của Nguyễn Khải, Tập tiểu luận của Lê Ngọc Trà …Tất cả, nhất thời đều được coi là thành quả đổi mới văn học một khi có sự đổi mới trong đường lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng sự đời vẫn lại không đơn giản chút nào. Chưa gì thì một luồng phản kích đã diễn ra. Đề cương công tác văn nghệ của Bí thư đảng đoàn Nguyên Ngọc, luận điểm về Chủ nghĩa hiện thức phải đạo của Hoàng Ngọc Hiến đã bị phê phán kịch liệt, đặc biệt là với hai ông Chế Lan Viên và Hà Xuân Trường. Rồi nữa, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tập tiểu luận của Lê Ngọc Trà từng được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, cũng bị phê phán găy gắt. Để rồi mọi chuyện lại tưởng như trở lại êm ả. Nhưng thực tế lại không phải thế.
2. Và hôm nay thì khác.
2.1. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, bao nhiêu lý luận văn học nghệ thuật một thời tồn tại êm ả, nào là về tính Đảng, tính khuynh hướng, về chức năng nghệ thuật theo quan điểm Mác xít, về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, về phản ánh luận của Lênin, về lý thuyết của nhiều ông Ốp, ông Ép xem ra đã và đang nhường chỗ dần cho các loại hình lý thuyết khác của phương Tây hiện đại. Nào là cấu trúc luận, văn học so sánh, tự sự học, phong cách học, loại hình học, thi pháp học, phân tâm học, hậu hiện đại, diễn ngôn…Ngay đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam từ việc xây dựng một nền văn học nghệ thuật có nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc cũng được thay bằng nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc và đến nay thì lại là xây dựng một nền văn nghệ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Điều đáng mừng là “ của Xêda đã trả lại cho Xêda”. Những giá trị văn học đích thực đã được khôi phục. Văn học hợp pháp thời kỳ 1930-1945, trừ dòng văn học hiện thực phê phán, từng bị hạ giá thảm hại thì nay sách Giáo khoa Văn phổ thông trung học đã có thể coi đó là thời kỳ rực rỡ thứ hai trong lịch sử văn học dân tộc. Hầu hết các tác phẩm có giá trị của thời kỳ đó đã được tái bản. Không ít luận văn, luận án đã nghiên cứu về tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, về Thơ Mới, về Nhất Linh, Khải Hưng, Thạch Lam… Vũ Trọng Phụng được đặt lại vị trí số một của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Kể cả Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh từng bị coi là tội nhân thuộc dòng văn học nô dịch nay là những người đi đầu trong công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học nước nhà. Cách nhận định về Phong trào Nhân Văn- Giai Phẩm đó đây cũng đã gần như nói ngược so với trước. Trong số những người tham gia Nhân văn- Giai phẩm bị điêu đứng mấy chục năm trời, nay hầu hết được khôi phục tư cách hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Không ít người được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước. Nhà văn Vũ Bằng từng được coi là nguyên mẫu của nhân vật Hoàng phản diện trong Đôi mắt của Nam Cao nay biết ra thì là tình báo chiến lược của cách mạng. Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng được trích học ở chương trình Văn THPT, THCS. Đặc biệt, nhà văn Lan Khai, tác giả của Lầm than, từng được đề cao trong tư cách nhà văn đầu tiên viết về giai cấp công nhân, nhưng rồi ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đang làm Chủ tịch phường tại thị xã Tuyên Quang thì bị thủ tiêu và mang oan phản cách mạng đến tàn lụi cả gia đình, thì nay cũng đã “sống dậy sáng lòa” trong buổi tưởng niệm của Hội nhà văn Việt Nam. Thái độ, cách nói về văn học miền Nam trước 1975 cũng đã khác trước, không ít tác phẩm đã được tái bản và có người đọc trong khi những tác phẩm của miền Bắc trước 1975 hình như lại ít được tái bản hơn. Rồi nữa, văn học hải ngoại cũng được nhìn nhận thỏa đáng không như trước và một số tác phẩm cũng đã được lưu hành trong nước…Và điều này thì hơi trái khoáy. Đó đây đã xuất hiện ít nhiều khuynh hướng sám hối, tự phủ nhận. Ví như Chế Lan Viên trong tập Di cảo với các bài thơ Trừ đi, Dã tràng xe cát, Ai tôi, Bánh vẽ..,Nguyễn Khải với bút ký Đi tìm cái TôI đã mất… kể cả Tô Hải bên phía âm nhạc với Hồi ký của một thằng hèn… Đó đây cách nói về hai nhà lãnh đạo chủ chốt của văn nghệ nước nhà trong nhiều năm tháng là Trường Chinh và Tố Hữu cũng đã khác trước rất nhiều…Trong nghiên cứu và phê bình văn học, tính Đảng, tính khuynh hướng, vấn đề lập trường một thời là sinh mạng của người cầm bút nhưng dẫn đến không ít sự bất chấp muốn nói gì thì nói cũng đã ít nhiều nhường chỗ cho tính khách quan khoa học vốn bị cho là sản phẩm của tư sản phải từ bỏ. Hệ quy chiếu dựa theo học thuyết giai cấp đấu tranh và hình thái xã hội một cách sống sượng cũng đã ít nhiều nhường chỗ cho hệ quy chiếu lấy dân tộc nhân dân nhân bản làm gốc. Đúng là đang có sự biến động và phồn tạp đa chiều trong đời sống văn học hôm nay. Dĩ nhiên, tại những nước mà ở đó sự kết hợp giữa nhà nước pháp quyền đích thực và chế độ tự do cá nhân đã thành nền nếp thì chuyện bá nhân bá ý như thế là hết sức bình thường. Còn ở nước ta đang trên đường từ giã cái thời bao cấp kinh tế kéo theo cả bao cấp tư tưởng để cố gắng xây dựng một nền dân chủ không ít vất vả thì ít nhiều vẫn thành chuyện. Ở đây, một câu hỏi có thể đặt ra cho các nhà lãnh đạo văn học nghệ thuật hôm nay, liệu các vị có thể khôi phục lại được một tình hình văn học nghệ thuật êm ả đơn chiều trên đất nước mà được chấp nhận như ngày nào nữa không. Đúng là khó thật trước tình hình phồn tạp, đa chiều của đời sống văn học, cũng là đời sống tư tưởng của đất nước hôm nay. Riêng Hội đồng lý luận văn học nghệ thuật trung ương thì xem ra đang cố gắng làm một cái gì đó cho nền văn học nghệ thuật nước nhà nhưng vẫn phải chờ xem sẽ là gì?
2.2. Trong sáng tác, sự phồn tạp đa chiều cũng khá rõ bởi thời đại đã cho nó một môi sinh rộng mở nhiều so với trước, một cơ sở mà ngày trước chưa có là văn hóa mạng. Thực tế đã có những tác phẩm mà như ngày trước là không thể có mặt nhưng nay thì nó vẫn nằm nhan nhản đó đây mà không cần kể ra thì quý vị cũng đã thừa biết và số phận của những tác phẩm đó là thế nào cũng không phải là chuyện đơn giản với thời gian. Nhìn chung thì thấy tình hình sáng tác văn học của nước nhà hiện nay cũng rôm rả và biến động khác trước nhiều cả ở văn xuôi, cả ở thơ ca. Mà trong đó thấy nổi lên một khát vọng đổi mới mãnh liệt nhưng thành tựu đã có được gì thì vẫn phải chờ đã. Trong đó, không kể khuynh hướng coi trọng sự đổi mới hình thức mà trước hết là đổi mới con chữ xuất phát từ quan điểm ngôn ngữ là công cụ số một của văn chương, nghệ thuật văn chương trước hết là nghệ thuật của ngôn từ. Về nội dung thì giường như có mấy khuynh hướng chủ đạo trong sự đổi mới văn học như sau:
a) Mạnh dạn theo hướng hiện thực phê phán: Đúng như nhà văn Nguyễn Khải đã nói nền văn học nước ta đã có Cái thời lãng mạn mà ở đây cách hiểu ý của nhà văn xem ra cũng không đơn giản. Có thể ai đó sẽ cho như thế là vô bổ phải từ bỏ. Còn tôi thí đồng ý là phải vượt qua thời lãng mạn nhưng không coi nó là hoàn toàn vô bổ. Bởi mỗi thời có một yêu cầu đối với văn chương nghệ thuật. Trong hai cuộc kháng chiến gian khổ và khốc liệt ghê gớm như thế mà không lãng mạn, không nâng bổng tâm hồn, tâm lý của người dân lên như thế thì lấy đâu ra sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Khoa học tâm lý chẳng đã nói đến sức mạnh của tâm lý kể cả vai trò của ảo giác ảo tưởng trong sự sống con người. Dĩ nhiên, hết chiến tranh, trở lại cuộc sống đời thường mà cứ lãng mạn một chiều thì lại thành dối trá, có tội với nhân dân với lịch sử. Theo dõi tình hình sáng tác văn học, kể cả kịch bản sân khấu, kịch bản phim gần đây, dễ thường phải kết luận chưa bao giờ văn học hiện thực phê phán lại phát triển bề thế, dám chọc trời như hôm nay. Nó thẳng thừng hơn nhiều so với dòng văn học hiện thực phê phán thời 30-45 của thế kỷ trước dù rằng độ kết tinh nghệ thuật thì vẫn là đàn em.
b) Đề cao việc khám phá cái Tôi trong sáng tác nhưng trước hết là tìm cách khẳng định cái Tôi của chính mình. Tham dự một vài lần ngày Hội thơ đầu năm tại Văn miếu Hà Nội, ở khu vực dành cho các nhà thơ trẻ, tôi thấy nhà thơ nào cũng tuyên bố tôi tìm tôi, tôi phải là tôi. Trước sự thật đó, tôi cứ thèm giá gì mình cũng có được chút đỉnh tài thơ như các bạn trẻ đó nhưng vẫn muốn được hỏi lại các nhà thơ trẻ rằng: đã đi vào văn học thời nay dĩ nhiên phải coi trọng cái Tôi và phải khẳng định được cái Tôi nhưng hiểu về cái Tôi thế nào là hoàn chỉnh tối ưu? Và để có được những thành quả văn chương bất hủ như những gì cha ông thuở trước đã có, nhân loại đã có thì ngoài việc hướng vào cái TÔi, còn cần những gì nữa không? Trong khi, đó là chuyện hoàn toàn không đơn giản. Chả phải là chung quanh định nghĩa thế nào là thiên tài văn chương vẫn còn không kém phần phức tạp và bí hiểm đó sao.
c) Đi vào đề tài sex một cách trần truồng mà dư luận độc giả trước hiện tượng này cũng không đơn giản. Người thích người không thích vốn có liên quan đến tâm lý tiếp nhận của các thế hệ tuổi tác và trình độ văn hóa khác nhau. Không dấu gì quí vị, trước một tác phẩm như Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu mà nhà văn Nguyên Ngọc và nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên đều rất mực đề cao, đặc biệt nhà văn Nguyên Ngọc đã cho tác phẩm có những giá trị lớn hơn cả vấn đề thân phận con người trong khi với tôi thì xin phép tác giả Bóng đè và nhà văn Nguyên Ngọc được nói thật là không thể chấp nhận tác phẩm này. Tôi tự hỏi sao giữa mình với nhà văn Nguyên Ngọc lại có sự trái ngược nhau quá đáng thế ? Mình quá dốt nát, quá lạc hậu, bảo thủ trong khả năng nhận biết giá trị văn học ư?. Đúng là có qui luật cộng hưởng trong tiếp nhận nghệ thuật phồn tạp và đa chiều. Thôi thì đành chấp nhận Nguyên Ngọc là Nguyên Ngọc, tôi là tôi. Chả ai bắt được ai giống ai.
III. Và đôi điều tôi muốn nói
1. Hẳn là chúng ta phải thừa nhận rằng với thời đại hôm nay về pháp luật thì dứt khoát mọi người phải tuân thủ nhưng về tư tưởng thì ai nấy có quyền tư tưởng riêng. Cái thời mà trong học thuật, một khi có vị lãnh đạo cao cấp nói rằng “Nho giáo là phản động. Dân tộc ta sở dĩ tồn tại được là nhờ chống được Nho giáo”, hay như trong đời sống văn học nghệ thuật, các nhà lãnh đạo nói rằng văn học nghệ thuật phải phục vụ chính trị nhưng không nói rõ thế nào là phục vụ chính trị chính đáng và không chính đáng…mà mọi người đều phải im tiếng thì có lẽ đã một đi không trở lại. Thời đại này là thời đại hội nhập thế giới do đó trong suy nghĩ của con người không thể không ít nhiều có sự so sánh thế giới, không riêng gì với trí thức văn nghệ sĩ mà cả với người dân bình thường. Một cụ già người Mèo sống trên rẻo cao không hề biết chữ, một hôm xuống núi đi chợ, chiều hôm trước xem phim một nước nào đó của thế giơi có đường sá thênh thang rộng lớn mà tự nhiên buột ra câu nói: đường bên nước họ rộng đẹp hơn bên nước mình. Thì đúng là đã hàm chứa sự so sánh thế giới điều mà vĩ nhân ở thế kỷ XV như Nguyễn Trãi cũng chưa có vì lịch sử chưa cho phép.Thời đại này là thời đại trổi dậy của cái Tôi cá thể (L individu) trong đó có tư duy cá thể đúng theo luận điểm của Descartes: “ Je pense donc je suis” (Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại) mà không có được điều đó thì đừng hòng nói gì đến sự phát triển đất nước cho ra phát triển. Thời đại này phải là thời đại của tinh thần duy lý, của tư duy phản biện, tư duy đối thoại, tư duy thuyết phục…chứ không phải là tư duy cảm tính, tư duy áp đặt. Từ đó là thời đại mà mọi người phải tuân theo pháp luật của nhà nước cần được xây dựng trên nền tảng nhân bản và dân chủ để rồi tự mình suy nghĩ, tự mình tìm chân lí. Không ai có thể bắt mình phải ăn theo nói leo. Đúng là như thế nhưng ở đây lại có vấn đề cũng không kém phần cơ bản là làm sao mỗi cá thể có thể nghĩ đúng, tư duy đúng để hành động đúng. Rõ là từng cá thể phải có trình độ hiểu biết, trình độ văn hóa, càng cao bao nhiêu càng lợi cho mình bấy nhiêu. Muốn thế lại phải học người, nghe người, để từ đó không theo đuôi người mà tự lựa chọn để tìm đến chân lý một cách có bản lĩnh. Không dấu gì quý vị, qua vài lần nghe một số nhà thơ trẻ hào hứng tự khẳng định cái TÔI ở ngày Hội thơ tại Văn Miếu, tôi cứ thấy thiếu cái vế sau mà tôi đang muốn nói đó. Mà thiếu vế sau đó thì không chừng dễ sa vào sự kiêu ngạo ngông nghênh chỉ đáng buồn cười.
2. Điều thứ hai tôi muốn nói là chung quanh vấn đề cũ mới trong văn học. Cũ mới là vấn đề của cuộc sống. Cũng là vấn đề của văn học nghệ thuật, Riêng với văn chương nghệ thuật, đổi mới là thuộc bản chất của sự sáng tạo. Kẻ thù của văn học nghệ thuật là sự trùng lặp, là sự cũ kĩ. Chưa bao giờ, trên đất nước ta lại có khát vọng đổi mới văn học một cách nồng nhiệt như hôm nay, nhất là với những cây bút trẻ. Nhưng thế nào là đổi mới một cách chính đáng thì lại đang có vấn đề. Trong thực tiễn sáng tác văn học theo khát vọng đổi mới hôm nay chẳng đã vừa hay vừa dở, chưa đủ độ chuẩn xác để khả dĩ làm nên những tác phẩm lớn. Mà có một nguyên nhân là muốn đổi mới nhưng chưa thật hiểu đúng đổi mới. Nhiều người khi nói đến đổi mới thường hay nhắc đến luận đề của Héraclit: “người ta không bao giờ tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Và hiểu rằng với dòng sông đó thì nước luôn luôn chảy không ngừng, nghĩa là chỉ có mới mà không có cũ. Tôi cho rằng hiểu như thế là chưa chính xác. Bởi ở đây, đành là nước luôn chảy nhưng vẫn còn dòng sông. Mà cuộc sống là thế. Vừa có biến vừa có bất biển, vừa có cái mới vừa có cái vĩnh hằng. Con sông là vĩnh hằng dù rằng nước sông thì luôn chảy, nghĩa là luôn mới. Cho nên, nếu ai đó hôm nay mải mê đeo đuổi với sự cách tân nghệ thuật mà bỏ quên những giá trị vĩnh hằng thì hẳn là dễ rơi vào thế bấp bênh trong nghệ thuật. Đúng ra, bên cạnh khát vọng đổi mới, phải có thêm khát vọng làm sống lại những giá trị vĩnh hằng một cách chân chính dù không đơn giản. Xin hãy đổi mới từ những giá trị vĩnh hằng và từ đổi mới tạo thêm những giá trị vĩnh hằng để đất nước được nhờ.
Rồi nữa, thế nào là mới. Hẳn là mọi người đã nhất trí rằng cách tân, tạo ra những giá trị mới vốn là quy luật tồn tại, là bản chất của nghệ thuật cả trên hai phương diện nội dung và hình thức. Nhưng sự cách tân nghệ thuật lại có hai trạng thái: cách tân trong nội bộ một phạm trù văn học và cách tân làm thay đổi một phạm trù văn học. Lịch sử văn học viết Việt Nam ta cho đến nay chỉ có hai phạm trù là trung đại và hiện đại. Trung đại là từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Hiện đại là từ đầu thế kỷ XX đến nay. Phạm trù văn học là khái niệm có nội hàm bao gồm ba bộ phận. Thứ nhất gồm: những yếu tố gián tiếp liên quan đến văn học: hình thái xã hội, hình thái văn hóa, ý thức hệ thời đại. Thứ hai: gồm những yếu tố trực tiếp liên quan tới văn học: chữ viết, phương tiện ghi chép và in ấn, báo chí, phương thức lưu hành (chưa hoặc đã gắn với kinh tế hàng hóa), lực lượng sáng tác, công chúng văn học. Thứ ba: gồm những yếu tố thuộc bản thân văn học: cơ cấu của nền văn học, hệ thống quan điểm văn học, những cảm hứng chủ đạo trong sáng tác văn học, hệ thống thể loại thể tài và bút pháp của các thể loại thể tài văn học, phong cách ngôn ngữ văn học, những quy luật kết tinh mang tính đặc thù của phạm trù văn học.Thành tựu của văn học Việt Nam ở nửa đầu thể kỷ XX là thành tựu đổi mới cách tân làm thay đổi lịch sử văn học Việt Nam ta từ phạm trù trung đại mang tính chất khu vực sang phạm trù hiện đại mang tính chất toàn cầu. Văn học Việt Nam sau 1945 dù có nhiều đổi mới cách tân nhưng vẫn thuộc phạm trù hiện đại. Còn với văn học hôm nay là gì khi nói đến sự đổi mới, cách tân? Rõ ràng vẫn là chuyện cách tân đổi mới thuộc phạm trù hiện đại. Phải nói rõ ra như thế để ai đó đừng quá ảo tưởng sẽ làm được cái điều mà văn học nửa đầu thế kỷ XX… đã làm được. Đâu đó có nói đến hiện đại và hậu hiện đại thì đúng là có sự đổi mới khác nhau giữa hiện đại và hậu hiện đại, nhưng hãy nhớ cho rằng giũa hai thứ đó vẫn có chung chữ hiện đại. Tôi cầu mong ở sự đổi mới văn học hôm nay nhưng tôi không bao giờ nghĩ rằng sẽ có một kết quả đổi mới cách tân như văn học nửa đầu thế kỷ XX đã có. Còn tương lai xa nữa là thế nào thì chưa biết.
3.Về chuyện cái TÔI (L’individu) trong văn học. Đúng đây là một trong những vấn đề cốt lọi nhất của văn chương nghệ thuật nói chung nhưng trước hết là vấn dề của cuộc sống con người ở mọi đất nước trong đó có nước Việt Nam ta mà trình độ nhận thức và thực tiễn giải quyết vấn đề đã không đồng đều, Có thể nói được rằng ở vấn đề này, phương Tây đi trước phương Đông. Riêng ở nước ta, cứ qua văn học mà thấy thì nó quá chậm. Chẳng những thế mà hôm nay xem ra cũng chưa có sự tường minh tới mức cần có. Trong lịch sử văn học Việt Nam, đến nửa sau thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỹ XIX, mới thấy cái TÔI có mặt trong các tác phẩm như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và dịch phẩm của Đoàn Thị Điểm (?), Truyện Kiều của Nguyễn Du,, Khuê ai lục của Ngô Thời Sĩ, Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, thơ Hồ Xuân Hương, thơ văn Nguyễn Công Trứ…Riêng cái TÔI đạo đức vốn là sản phẩm của truyền thống đức trị của phương Đông với các học thuyết của nó đặc biệt là Nho giáo thì đã có mặt từ lâu đời nhưng vẫn chưa hẳn là cái TÔI mà ở đây đang nói tới. Đừng lẫn lộn hai khái niệm: vấn đề cái TÔI (L’individu) trong văn học và hiện tượng cái tôi trữ tình trong văn học đặc biệt là trong thơ ca. Bởi lẽ, một bên thuộc khách thể trong sự sống con người mà tới một giai đoạn nào đó văn học mới nhận thức được để khám phá, chiếm lĩnh. Một bên thuộc chủ thể cảm xúc, trữ tình của người cầm bút vốn là thuộc tính muôn đời muôn thuở của văn chương nghệ thuật nhất là ở thể loại trữ tình, ở thơ ca từ ngày có mặt. Cái TÔI viết hoa có mặt buổi đầu trong văn học Việt Nam ta chậm nhưng khá xinh đẹp vì nó kết hợp hài hòa được với cái TA. Cứ nhìn vào hình tượng Thúy Kiều thì rõ. Thúy Kiều là hình tượng nghệ thuật hội tụ được nhiều giá trị nhân bản nhất trong những hình tượng phụ nữ của lịch sử văn học Việt Nam xưa nay trong đó có giá trị về sự trổi dậy của cái TÔI.[1] Nhưng ngay sau đó, đất nước bị xâm lăng, cái TÔI đã phải nhường chỗ cho cái TA là số phận đất nước. Sang đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh xã hội thực dân phong kiến, giai cấp tư sản đã có mặt dù là dưới chế độ thuộc địa, lại có thêm ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng tư sản phương Tây tràn tới, cái TÔI lại tái xuất, tuy không kết hợp được với cái TA hài hòa như thời Nguyễn Du nhưng tự giác hơn và cũng bề thế hơn để làm cơ sở tư tưởng, cơ sở triết học cho sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn, phong trào Thơ Mới, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh…Cách mạng tháng Tám thành công, chưa gì đã phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến khốc liệt. Trong hoàn cảnh đó, theo qui luật của cuộc sống Việt Nam, cái TÔI lại phải nhường chỗ cho cái TA. Nhưng một khi đất nước đã hòa bình thống nhất, cuộc sống trở lại đời thường thì cũng theo quy luật, cái TÔI sẽ tái xuất. Không ít trong số tác phẩm được nhắc tới ở tiểu mục Mấy trang đầu đã hé mở vẻ đẹp nói ở trên có phần là nhờ ở sự tái xuất cái TÔI. Khát vọng nồng nhiệt về cái TÔI của các nhà thơ nhà văn trê hôm nay cũng là sản phẩm chính đáng của sự tái xuất đó. Vấn đề ở đây là phải làm sao có được sự nhận thức cho thật thấu đáo, thật tường minh đích đáng về cái TÔI để có cơ sở vững chắc cho sự đổi mới chứ không thể như hiện thời. Phải thấy cái TÔI là tế bào làm nên mọi hình thái cơ thể tức là mọi hình thái cộng đồng xã hội mà muốn khỏe mạnh thì phải có các tế bào khỏe. Đó là chân lí tối thượng trong mọi cộng đồng, mọi quốc gia. Nhưng ở đây lại có điều rất phức tạp, đã gây rắc rối cho nhân loại là vì từ một cái TÔI cá thể, trong thực tiễn cuộc sống nhân loại, lại đi theo hai hướng. Một hướng nhân bản cần cầu nguyện cho nó trổi dậy sớm ngày nào hay ngày ấy. Một hướng là phi nhân bản mà phải quyết tâm tiêu diệt. Trong hướng nhân bản, cái TÔI vẫn là cái TÔI nhưng có một phương diện dứt khoát không thể thiếu là sự kết hợp hài hòa giữa cái TÔI và cái TA. Thiếu sự kết hợp TÔI-TA một cách chính đáng thì dễ thường sẽ rơi vào hướng phi nhân bản là cái TÔI ích kỷ, khốn nạn đang phá hoại cuộc sống của nhân quần, của đất nước. Có hai thuật ngữ cũng không được lầm lẫn: cá nhân (cái TÔI- L individu, Le Moi) và cá nhân chủ nghĩa (L individualisme).[2] Không dấu quý vị, đọc bài bút ký Đi tìm cái TÔI đã mất của nhà văn quá cố Nguyễn Khải, tôi thú vị và kính nể tâm huyết, bút lực của nhà văn nhưng chỉ tán thành một nửa không tán thành một nửa. Nửa tán thành là sự xót xa đã để mất cái TÔI. Nửa không tán thành là ví chưa thấy nhà văn nghĩ đến mối quan hệ hài hòa tối cần giữa cái TÔI và cái TA trong khi cái TA tuy có mặt bất chính nhưng vẫn có nhiều mặt chân chính cần được cái TÔI góp phần vun đắp như chính nhà văn đã làm dù còn phải chịu sự sàng lọc trong thời gian.
4. Về chuyện sex trong văn chương nghệ thuật: loài người được tạo hóa sinh ra vốn mang tính tự nhiên sinh học trước khi mang tính xã hội. Và khi mang tính xã hội vẫn có tính tự nhiên sinh học. Thế nhưng sự nhận thức về con người tự nhiên sinh học giữa phương Tây và phương Đông trong đó có Việt Nam ta cũng lại sớm muộn và không giống nhau. Dĩ nhiên trong thời đại hôm nay, một khi đã có sự hội nhập thế giới mãnh liệt, thế giới đang trở thành “phẳng” thì khoảng cách đó đã được rút bớt. Ở phương Tây, từ rất sớm, đặc biệt là từ thời Phục hưng vào thế kỷ 15, 16, sự nhận thức và từ đó là sự khám phá con người tự nhiên, con người sinh học, con người chưa mặc quần mặc áo đã là một thành quả nhân văn chủ nghĩa cao cả để có được một nền nghệ thuật khỏa thân sáng giá và là niềm tự hào của nhân loại. Tất nhiên, ở phương Tây, trước hiện tượng con người tự nhiên sinh học, trong thực tiễn, cũng lại đã đi theo hai hướng: nhân bản và phi nhân bản. Nhân bản là sự thăng hoa giá trị người. Phi nhân bản là kéo con người trở về thú tính, động vật. Còn ở Việt Nam ta là thế nào? Đành rằng đã tồn tại văn hóa phồn thực ở nơi này nơi khác trong việc thờ linga. Nhưng riêng trong văn học thì xem ra là một sự né tránh. Câu chuyện Chữ Đồng Tử có hé ra chút ít về con người khỏa thân nhưng cụ thể là gì thì chưa rõ. Mãi đến khi thiên tài Nguyễn Du viết Truyện Kiều thì quả thật lần đầu tiên, văn học Việt Nam mới có được một bức tượng khỏa thân tuyệt vời của phụ nữ và là bức tượng khỏa thân độc nhất vô nhị của văn học Việt Nam trung đại: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”. Táo bạo đến như nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì cũng chỉ he hé ra chút ít do có sự sơ ý của Thiếu nữ ngủ ngày mà thôi. Ngoài ra, gọi là văn học sex trong văn học Việt Nam ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, không thể không nhắc lại mấy câu thơ về chuyện chăn gối trong quan hệ vợ chồng của Chinh phụ ngâm: “Cái đêm hôm ấy hôm gì/ Bóng trăng lồng bóng đồ mi trập trùng/ Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông/Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng/ Trên hoa dưới nguyệt trong lòng xiết bao”. Và thơ Hồ Xuân Hương với những câu như: “Cán cân tạo hóa rơi đâu mất / Miệng túi càn khôn khép lại rồi”, “Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không”. Đúng là sex chứ còn gì nữa. Nhưng điều đáng nói ở đây là từ bức tượng khỏa thân của Thúy Kiều cho đến những câu thơ của Chinh phụ ngâm, Hồ Xuân Hương vẫn là chuyện hở nhưng kín và hướng chung là mỹ hóa. Phải chăng đó là một cách để giữ lấy sự trong sáng trước hết cho tâm hồn mình rồi nữa cho tâm hồn người tiếp nhận và đó là hướng nhân bản cao cả trong văn học sex. Trước bức tượng khỏa thân tuyệt tuyệt vời Thúy Kiều, người đọc đố ai biết được nó cụ thể là thế nào để vẽ lại. Nó chỉ tạo cơ sở cho mình tha hồ suy tưởng để mà ngây ngất, ngất ngây với nó. Thế là đủ. Chứ trần truồng ra, dễ thường sẽ rơi vào trạng thái nhục cảm động vật đơn thuần. Còn với văn học sex hôm nay ở nước ta là thế nào? Nhìn chung, thấy nó trần truồng quá, nó hở hoác ra cả mặc dù nó có công chúng nhất định. Đó đây đã có luận văn luận án về văn học sex trong đó đồng tình hơn là băn khoăn, thắc mắc. Nhưng liệu có thể an tâm với tình trạng đó hay là phải nghĩ khác. Mong được các tác gia văn học sex hôm nay nghĩ lại và thử so sành cách xử sự của mình hôm nay với cách xử sự của cha ông thưở trước, xem cách nào là có lợi cho cuộc sống hơn, cho đất nước hơn. Cũng mong các bạn đừng phe lờ sự thật là bên cạnh những người tán dương các bạn vẫn có những người cho rằng không phải là tất cả nhưng có một loại văn học sex hôm nay ít nhiều dính dáng với loại tranh ảnh và phim sex đã phá hoại thuần phong mỹ tục và dãn đến nhiều chuyện khủng khiếp mà báo chí hàng ngày vẫn đưa tin. Riêng tôi chỉ muốn nói lại cái ý đã nói : thời đại này là thời đại của sự lựa chọn. Mà muốn lựa chọn tối ưu thì chỉ chạy theo cảm hứng không thôi là hoàn toàn chưa đủ. Phải học hỏi thêm, phải nghe thêm người khác, phải có văn hóa thêm, phải suy đi tính lại để có sự lựa chọn tối ưu.
5. Vấn đề đổi mới để góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Làm gì cũng phải có mục tiêu. Không rõ những người đang nhiệt tâm đổi mới văn học đã nghĩ gì nhiều về mục tiêu chưa. Vì một giá trị nhân bản mới ư? Vì muốn hiện đại hóa, hậu hiện đại hóa văn học nước nhà ư? Đúng đấy! Nhưng nói gì thì nói, cũng phải nghĩ nhiều, nghĩ trực tiếp đến sứ mạng xây dựng cho đất nước một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi đây là vấn đề sinh tử của Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta hôm nay. Cứ tưởng tượng rằng trong cuộc hội nhập thế giới sôi động chưa từng có này, đất nước sẽ giàu có lên nhiều nhưng về văn hóa mà không còn gì là bản sắc dân tộc nữa thì ý nghĩa cuộc sống sẽ là gì ngoài sự vô nghĩa. Một khẩu hiệu lớn đã được đề ra: “Hòa nhập mà không hòa tan”. Nhưng thực tiễn cuộc sống trong đó có văn chương nghệ thuật đang diễn ra là gì nếu không phải là nguy cơ bị hòa tan đang ngày một rõ nét. Ai sẽ chịu trách nhiệm trước hiện tình này? Dĩ nhiên trước hết là những người lãnh đạo đất nước. Nhưng còn toàn dân, trong đó có giới văn nghệ sĩ. Với cách đặt vấn đề như vậy, ở đây tôi muốn được những nhà văn nhà thơ trẻ đang khát khao đổi mới văn học hãy cùng suy nghĩ về một vấn đề vô cùng tai hại trong lịch sử đã gây nên sự hao hụt trầm trọng bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam mà tiếc rằng cho đến nay từ các nhà hoặch định chính sách văn hóa cũng như hầu hết người Việt Nam ta, kể cả số đông trí thức văn nghệ sĩ chưa nhận ra để có biện pháp khắc phục trong khi muốn xây dựng một nền văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc. Có thể nói không sợ sai rằng chừng nào mà chưa nhận ra vấn đề này thì chừng đó khó mà ngăn chặn được sự hòa tan . Đó chính là sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trong đó có Việt Nam ta trên phương diện văn hóa và tinh thần[3] từ khi có cuộc “ mưa Âu gió Mỹ”, có sự giao lưu Đông Tây, đặc biệt rõ rệt là từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay. Quả thật như thế. Quy luật về sự áp đảo là quy luật về mối tương quan giữa kẻ mạnh và kẻ yếu. Mạnh nên áp đảo được. Yếu nên bị áp đảo. Nhưng kẻ mạnh không phải cái gì cũng hay. Ngược lại kẻ yếu không phải cái gì cũng dở. Có điều là một khi đã bị áp đảo thì cái dở của kẻ mạnh cũng thành chiến thắng và cái hay của kẻ yếu cũng thành chiến bại. Lịch sử văn hóa Việt Nam ta từ khi có cuộc giao lưu Đông Tây, đặc biệt là trong gần một trăm năm nô lệ người Pháp là vậy trên mọi phương diện: từ triết lí nhân sinh cho đến đời sống chính trị, thiết chế xã hội, y học, y phục, thể thao, võ thuật, trò chơi, quan điểm nghệ thuật, lý luận văn chương, phê bình văn học…ít nhiều là thế. Cách mạng tháng Tám thành công, ý thức dân tộc có được trổi dây đáng kể nhưng cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng bị áp đảo. Nói như trên không có nghĩa là phủ nhận sự nâng đỡ cũng rất lớn lao của văn hóa phương Tây trong công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học Việt Nam, Thêm nữa lại có chuyện thay chữ viết Hán Nôm bằng chữ quốc ngữ trong khi cả khu vực không nước nào thay chữ viết mà lâu nay người Việt Nam ta chỉ thấy cái được rất lớn mà chưa thấy cái mất cũng không nhỏ. [4] Hãy chú ý đến điều mà cố đạo Puginier là người từng hăng hái cổ động chính quyền thực dân Pháp ở Đông dương thay chữ viết đã nói: “thay chữ viết là thay cả một nền văn hóa”. Và chính Toàn quyền Pháp tại Đông dương là Decoux năm 1943 cũng đã nhận tội “thay chữ viết là làm cho con cháu người Việt Nam hôm nay không hiểu gì tổ tiên của mình nữa”. Đúng là thay chữ Hán Nôm bằng chữ quốc ngữ thì cái được rất lớn là dân chủ hóa được nền văn hóa văn học nhưng cái mất cũng không nhỏ là tạo nên sự gián cách lịch sử rất tai hại. Các nhà văn nhà thơ đang hăm hở đổi mới văn chương hôm nay nghĩ gì trước sự thật oái oăm đó. Liệu các bạn có nghĩ đến sứ mạng cao cả là đổi mới văn chương để góp phần phục hồi lại những giá trị văn hóa, tinh thần mà dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta trải qua mấy nghìn năm lịch sử đã xây đắp được nhưng đã bị những tai biến lịch sử làm hao hụt nhiều không. Ở trên, tôi có đề nghị với các bạn bên cạnh khát vọng đổi mới xin hãy thêm khát vọng làm sống lại những giá trị vĩnh hằng chính là điều liên quan tới vấn đề này. Xin thắp hương cầu nguyện và chờ mong ở các bạn là những người Việt Nam đã được Thượng đế ban cho phước lành là có nhiều năng khiếu văn chương nhưng mong được nâng cao tư tưởng và văn hóa hơn nữa trước những vấn đề đang đặt ra cho văn chương nghệ thuật của nước nhà.
Yên Hòa thư trai
Nhâm Thìn- Trọng hạ (8-2012 )
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
........................................................
Chú thích
[1] Xem Nguyễn Đình Chú : Gặp lại “con Kiều đẹp nhất nước Nam”- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn số 1 (14) 2006.
[2] Xem Nguyễn Đình Chú: Vấn đề “ngã “ và “phi ngã” trong văn học Việt Nam trung cận đại. Tạp chí Văn học số 5 – 1999.
[3] Xem Nguyễn Đình Chú: Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần. Tạp chí Đông Nam Á số 3 (20) 1995.
[4] Xem Nguyễn Đình Chú: Cần khẩn trương khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông Việt Nam. Hán Nôm học trong nhà trường. NXB Khoa học xã hội. 2008, trang 16- 25.
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui