Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
20 Mar.2013
NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI

ĐỒNG HÀNH CÔ ĐỘC


Ký chân dung của Ngô Minh
BNN blog 20.3.13

Đúng là ông luôn hiện lên trong  chúng ta, bên chúng ta, cùng tỉ tê chia sẻ nỗi niềm trong một đêm mưa, một ánh  lửa chài, trong dáng sông bóng núi. Có ông bên những người tha phương. Có ông  bên những người Việt đang yêu từ những năm 1939 cho đến tận hôm nay. Thơ Nguyễn  Bính hay như thế , nhưng một thời được cho là “lãng mạn tiêu cực”, “tiểu tư sản”  không được in và phổ biến . Mãi đến khi đất nước thống nhất , thơ Nguyễn Bính  được xuất bản, nhiều bạn trẻ mới được đọc . Nhưng trong sổ tay anh Ngô Tấn Ninh,  người anh trai yêu thơ của tôi ở làng biển Thượng Luật những năm 60 của thế kỷ  trước vẫn chép đầy thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính...Anh tôi dấu  cuốn sổ thơ ấy kỹ lắm và thường anh chỉ đọc, ngâm nga trong các cuộc rượu bạn bè  . Tôi lớn lên , sổ tay thơ cũng chép đầy thơ Nguyễn Bính - những "Lỡ bước sang  ngang", "Cô lái đò", "Cô hái mơ", "Tương tư", "Chân quê", "Người hàng xóm",”  Giời mưa ở Huế”,” Hành phương Nam”.v.v.. Không hiểu mình thành chàng trai trước  hay thuộc thơ tình Nguyễn Bính trước ! Thật biết ơn ông anh trai si  thơ!
Con gái Hà Nội, con gái tỉnh Nam  xưa thuộc Kiều và thuộc cả tập thơ "Lỡ bước sang ngang". Nhà thơ của chúng ta  đồng hành với ông thợ cắt tóc, với cô lái đò, các cô gái ngoại ô bơi thúng hái  rau bên sông Tô Lịch cho đến các bà các cô trong phòng khuê nhung lụa. Nhà văn  Chu Văn kể câu chuyện về Nguyễn Bính và cô lái đò bên bến sông Châu tên Thoa  thật cảm động. Nguyễn Bính hàng ngày đi chợ vẫn nhờ đò cô đưa sang. Cô lái không  lấy tiền. Và hình như thi sĩ cũng có tặng cô thơ, nên cô rất quí ông. Khi nghe  tin Nguyễn Bính mất, cô Thoa đã nấc lên nghẹn ngào, gục mặt lên mái chèo.” Ước  chết thay cho thi sĩ !” Thế mới biết thơ thật diệu kỳ. Qua thơ, nhà thơ đến với  mọi người như một người cật ruột, tin tưởng, gửi gắm. Có lẽ vì có nhiều người  đọc, nhiều người thuộc nên Nguyễn Bính là trường hợp nhà thơ hiện đại duy nhất  thơ có nhiều dị bản. Khi Nguyễn còn sống, đã có nhiều bài thơ bị in nối dài thêm  khổ, thêm câu. Trong Tuyển tập Nguyễn Bính (NXB Văn học, 1986), chỉ  riêng 60 bài thơ tuyển từ các tập thơ trước 1945, đã có 24 trường hợp có các  đoạn thơ, câu thơ, chữ thơ có các bản in khác nhau, ấy là thơ đã tự nối dài cuộc  đời, tự hóa thân để đồng hành được với nhiều tâm trạng. Có một Nguyễn Bính si  tình - lại có một Nguyễn Bính thi sĩ của cuộc kháng chiến. Bài hát "Tiểu đoàn  307" phổ thơ Nguyễn Bính từ Nam Bộ chống Pháp đã cùng hành quân với các binh  đoàn trong cả nước cho tới những ngày chống Mỹ thắng lợi với giọng hát liê u  trai của ca sĩ Quốc Hương.
Đồng hành thân thiết với nhiều  thế hệ, nhưng Nguyễn Bính lại là một người  cô đơn, cô độc. Ông cô độc cả về cảnh ngộ và tâm trạng thi sĩ, là một lữ khách  giang hồ lên Bắc vào Nam. Chỉ trong vòng 15 năm, từ 1939 đến 1954, theo địa danh  ghi dưới các bài thơ Nguyễn Bính đã "lăn lóc có dư mười mấy tỉnh" Bắc Giang, Hải  Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, lục tỉnh miền Đông. Ông đi và  sống được nhờ lưng vốn thơ với tâm tình độc giả mến mộ. Rồi ở trọ một mình, xê  dịch một mình. Hồi vô Sài Gòn năm 1939 , có lúc phải mà cả ngã giá bán từng câu  thơ đăng báo để kiếm sống .Tiền thì ít nhưng “ Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết /  Ngày mai ra sao rồi hãy hay ... ( Hành phương Nam). Tiền không có những vẫn  trọng thơ hơn tiền, coi khinh bọn định giá văn chương . Theo lời kể của ông  Hoàng Tấn ( dẫn theo Hà Đình Nguyên- Báo Thanh Niên) , ông chủ bút tờ Dân Báo  đặt Nguyễn Bính một bài thơ để đăng trên số đặc biêt Tết Giáp Thân ( 1944). Ông  chủ bắt Nguyễn Bính phải sửa đi sửa lại hai câu cuối đến ba lần . Khi báo in ra,  Nguyễn Bính đến đòi nhuận bút . Ông chủ báo đưa 10 đồng, Nguyễn Bính chê ít ,  không nhận. Ông chủ báo nói :” Với các văn sĩ nổi tiếng khác , tôi trả cao lắm  cũng chỉ 5 đồng...” Nguyễn Bính lập tức ném xấp tiền xuống đất rồi ra về  .
Ngày chiều hôm đó, tòa soạn phải cử người đến xin lỗi và đưa cho Nguyễn  Bính 50 đồng ! Túng tiền, Nguyễn Bính còn bò ra năm ngày chép tay tập thơ Lỡ  bước sang ngang với chữ ký của mình để “bán đấu giá”... Kiếp giang hồ, nhiều khi  nhà thơ bơ vơ nơi sông khách Quê người đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ nằm nghe sóng  lỡ làng
Có lúc đơn chiếc đến tê dại trên sân ga :
Chân bước hững hờ theo  bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly
Nguyễn Bính yêu nhiều, yêu si mê, đã  hiến cho tình yêu nhiều bài thơ đặc sắc, nhưng ông mãi mãi là người cô đơn trong  tình yêu. Nhà văn Tô Hoài kể rằng, ngày trước, Nguyễn Bính đi đâu cũng kè kè cái  hộp sắt tây. Loại hộp bánh bích quy, nhưng không đựng bánh mà đựng toàn thư  tình, thơ tình. Nguyễn Bính thỉnh thoảng lại mở ra đọc, ngắm rồi lại vuốt lại,  xếp lại, đêm ngủ thì gối cái hộp trên đầu. Thì ra những bức thư, là thư tình cũ  của các cô nương luôn thề non hẹn biển, có lúc dọa cắt tóc đi tu hay uống thuốc  phiện, dấm thanh cho chết (!), nhưng chẳng ai chịu "ăn đời ở kiếp" với nhà thơ  nghèo khó ! Nguyễn Bính cắp cái hộp đựng tình yêu cũ ấy đi từ Bắc vào Nam như là  một bảo vật ! Ông đi cô độc giữa cái mê hồn trận cay đắng ấy, để rồi chạm đến là  ngân thành thơ. Một thứ thơ nồng nàn mà se xiết phận người ! Ông như người sinh  ra cho những duyên kiếp lỡ làng, ông là sự dấn thân cho thơ, cho cái đạo thơ  !
Trong hồi ký “ Cát bụi chân ai”, Tô Hoài kể rằng, thời kỳ Nguyễn Bính làm  báo Trăm Hoa ở Hà Nội ( 1956 ) có một người con gái đã đến với ông. Họ có với  nhau một mụn con đặt tên là Hiền . Rồi hai người xa nhau. Cô gái mang cậu con  trai đến trả cho Nguyễn Bính ! Ngày ngày nhà thơ ẵm vác cậu bé một bên vai, như  mèo tha con. Một tối kia, Nguyễn Bính say rượu bế con thẫn thờ ra phố. Rồi không  hiểu sao, trong vô thức nhà thơ lại trao con cho một người đàn ông xa lạ đang đi  tới. Trở về, cơn say vật Nguyễn Bính thiếp đi. Quá nửa đêm quờ tay không thấy  con, lật đật chạy đi kêu cứu bạn bè, mặt mày tái nhợt. Mọi người đổ đi tìm khắp  thành phố, đi báo nhờ Công an tìm....Nhưng, đứa con ấy ba chục năm ròng vẫn  không tìm thấy...Ôi ,cuộc đời nhà thơ sao mà đau khổ, thương tâm thế ! Nguyễn  Bính - Người đồng hành cô độc tuyệt vời của chúng ta sinh năm 1918, nếu còn  sống, năm nay vào tuổi 90. Ông mất sáng 30 tết Bính Ngọ, tức ngày cuối cùng của  năm Ất Tỵ (20-1-1966). Con người tài tử, từng giang hồ mưa gió bốn phương ấy lại  thổ huyết chết vì một luồng gió độc trong vườn tại quê nhà. Lạ thật ! Cuối năm  2007, trong đợt về thăm thành phố Nam Định, tôi đã cùng người bạn thân nhạc sĩ  Huy Tập về làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, Vụ Bản cách Nam định gần chục cây số  viếng mộ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ số một Việt Nam về thơ làng quê  đồng bằng sông Hồng.. Thắp nhang vái ông, tôi lại nhẩm những câu thơ ông viết về  Huế trong đợt hành phương Nam của nhà thơ đầu những năm 40 của thế kỷ  trước.
Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra suốt mấy ngày
Thềm cũ  nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một loài mây
Trường Tiền vắng ngắt  người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
Đò vắng khách chơi nằm bát  úp
Thu về lại giở gió heo may…
( Giời mưa ở Huế)
Bởi thế về Nam Định  đến thắp nhang lạy ông là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Một sự trùng hợp rất ý vị là  hai hôm trước ở Hà Nội, tại Hội chợ sách quốc tế Vân Hồ, lần đầu tiên tôi gặp và  bắt tay nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu, người con gái miền Nam của thi sĩ . Bây  giờ tôi lại đứng bên mộ ông. Mộ nhà thơ được xây ngoài vườn nhà rất khang trang.  Trong nhà là bàn thờ, những kỷ vật của Nguyễn Bính . Tôi và Huy Tập thắp nhang  lạy Nguyễn Bính rồi ghi vào sổ lưu niệm. Theo Huy Tập kể thì trước đây là ngôi  nhà cũ của gia đình, lúc Nguyễn Bính đi xa, người em trai ở. Để có được ngôi nhà  lưu niệm nhà thơ tài hoa, gia đình đã bàn với ông em đi làm nhà ở chỗ khác, để  anh em góp tiền sửa sang xây lại ngôi nhà cũ thành nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính. Ở xứ ta mộ nằm giữa làng quê đầm  ấm thân thuộc châu thổ Sông Hồng này cũng hạnh phúc lắm lắm. Tiếc là bây giờ  những hình ảnh thôn quê trong thơ Nguyễn Bính như đậu mùng tơi, khăn mỏ quạ,  quần nái đen.v.v..đã thành quá vãng. Các cô gái quê nhà “đi tỉnh”, đi Hà Nội, đi  xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, Đài Loan… áo phông hở lưng, hở rốn, quần jin  lửng, và không bao giờ về làng nữa…Nguyễn Bính đã sống và viết nhiều thơ về Huế.  Trong hai tập "Người con gái lầu hoa" và "Mười hai bến nước" của ông có nhiều  bài thơ đặc sắc về Huế, đã trở thành tài sản tâm hồn của mọi người. Người Huế  không ai không thuộc đôi đoạn, đôi câu trong các bài "Giời mưa ở Huế", "Vài nét  Huế", "Người con gái lầu hoa", "Lửa đò" “ Xom Ngự Viên”v.v... Nhiều hình ảnh,  hình tượng thơ về Huế Nguyễn Bính dùng đã trở thành cổ điển , khó vượt qua. Như  các hình ảnh "Giời mưa ở Huế” hay "Cầu cong như chiếc lược ngà...", "Con đò  không chở những người chính chuyên" v.v... và  đây là tiếng đàn kỹ nữ xưa :
Đàn ai chừng đứt dây tình
Vẳng lên một  tiếng buồn tênh rồi chìm
Từ sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều  tập thơ và tuyển thơ Nguyễn Bính lại được in đi in lại, đến với độc giả yêu thơ  cả nước. Mới hay cái trường tồn của một thi sĩ là những bài thơ “ rút ruột đẻ  ra”, những bài thơ “chân quê” nói về cái “tôi trữ tình”của tác giả, “cái tôi”  muôn thuở kiếm tìm, khao khát của con người ! Thơ Nguyễn Bính nói với tôi nhiều  điều tâm đắc về sự được mất trong thơ. Trong một bức thư gửi bạn Trọng Miên năm  1939, Hàn Mặc Tử đã viết rằng:” Bởi muốn cho Loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ ở Thế  gian này - nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời-  Chúa Trời bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn có một định mệnh tàn khốc theo  riết bên mình. “Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý”. Thi sĩ rơi xuống cõi đời bơ  vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình...”. Điều đó đúng với  Hàn Mặc Tử và đúng cả với Nguyễn Bính !
Nguyễn Bính lại đồng hành với tuổi  trẻ hôm nay và sẽ còn đồng hành với nhiều thế hệ lứa đôi mai sau. Thi sĩ ơi, thi  sĩ là người cô độc, nhưng thơ mãi mãi là bạn đồng hành cùng trái tim con  người.

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui