Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
15 Jan.2013

Danh dự với văn học

Nguyễn Hoàng Đức
NTT blog 15.1.13

Danh dự là gì? Có thể hiểu một cách đơn giản  trực tiếp nhất là: Tên gọi của một người trong giá trị. Trong tiếng Pháp người  ta vẫn nói “au nom de” – nghĩa là Nhân danh ai đó.
Khi nhân danh ai đó, chắc hẳn là phải cái danh  trong sáng, vinh quang, hay cái tên gọi chân thật của người ta. Một thằng kẻ  cướp nhảy ra chặn đường người khác, hô lên “Võ Tòng” đây, thì dù nó có giả trá  cỡ nào, cái tên “Võ Tòng” phải có thực, thì nó mới mong dùng tên đó để nhát mọi  người. Một kẻ lừa đảo nói to “nhân danh công lý”, cũng vậy, dù sao kẻ đó cũng  muốn mọi người được ám ảnh về một công lý thực.
Danh dự là thứ chói sáng nhất, ý nghĩa nhất,  sống còn nhất của con người, nhưng cũng chính vì thế mà khi bị ô danh, nó là lý  do mãnh liệt nhất khiến con người thấy mình không còn lý do để sống. Một văn hào  có viết “Tôi chưa thấy ai treo cổ vì đói rách, trái lại càng khổ sở thì người ta  càng khát sống, nhưng thấy rất nhiều chiếc cổ treo trên thòng lọng vì không tìm  ra ý nghĩa cho đời sống của mình”.
Nhiều học giả Trung Quốc đã  chính thức bàn về cái Danh. Họ cho rằng: cái bất hạnh nhất của con người là “vô  lại”. Vô lại giống như một tiếng vọng bay vào hư vô mà không có tiếng vọng lại.  Mấy cánh bèo trên mặt nước nhẹ thõm vật vờ trôi dạt mà không để lại vết tích gì  cũng là vô lại. Đám người sống không có danh vọng, không có lòng tốt, không giúp  ích đời được cái gì, vô dụng, cũng là cách: đám vô danh không cần gặp lại. Một  tình yêu chia tay, kẻ chia tay bỉ ổi đến mức bị bạn tình rủa xả không hề muốn  gặp lại, thì cũng là vô lại. Lúc đó vô lại đúng là nỗi bất hạnh nhất của thế  gian.
Người Việt có câu “trâu chết để da, người chết  để tiếng”, muốn nói rằng đã sinh ra ở đời thì từ con trâu đến con người đều có  vật hay danh để lại. Vậy mà một người vô danh – vô lại thì chẳng bất hạnh nhục  nhằn lắm sao. Vì thế con người nếu không lập công, lập danh, lập đức, quả là vô  tích sự!?
Người Trung Quốc cũng như Việt Nam háo danh  lắm. Trong tác phẩm nổi tiếng Thủy Hử kia, danh là cái cứu vớt người ta trong  mọi hoàn cảnh. Chẳng hạn khi Tống Giang bị trói vào cột buồm, bị những tên cướp  hạ thủ đến nơi liền lẩm bẩm than: “than ôi, Tống Giang lại chết uổng phí thế này  sao?” Đầu đảng cướp liền bảo “Khoan, chúng tôi có mắt mà không trông thấy núi  thái sơn!” Thế là Tống Giang thoát nạn. Còn vô số người nổi tiếng khác, cái danh  luôn đi trước dọn bàn ăn và chỗ ngủ cho họ.
Danh dự đã làm nên những tác phẩm thượng đỉnh  của người châu Âu. Người Hy Lạp quan niệm: đức tính đầu tiên là tính hiếu khách.  Hiếu khách tức là nhắm đến người khác, điều đó là danh dự đầu tiên của chủ nhà.  Đó vừa là lòng tốt vừa là danh giá. Ở Hy Lạp kẻ nào làm mất lòng khách thì là  nỗi sỉ nhục đầu tiên. Khi Paris cuỗm nàng Helen đi, người Hy Lạp cảm thấy mình  bị xúc phạm đã cất quân đi đánh Tơ-roa. Và Victor dù run sợ trước sức mạnh của  A-sin, chàng vẫn ra lệnh mở cổng thành để ra nghênh chiến vì danh dự. Tác phẩm  đồ sộ nhất của mọi thời đại Đông-ki-sốt, cho dù chàng hiệp sĩ ảo tưởng chỉ đấu  với cối xay gió, nhưng chàng cũng đã đấu hết lòng cho và vì danh dự.
Sau thời khai sáng, văn học châu Âu bỗng nhảy  vọt với bài toán của danh dự. Trước đó, khi bị xúc phạm những người đàn ông có  thể đấu kiếm, nhưng đó là những cuộc đấu không bình đẳng mà lợi thế luôn nghiêng  về nhưng kẻ cơ bắp hơn. Khi khẩu súng lục ra đời thì tương quan khác hẳn, người  yếu có thể đấu với người mạnh khỏe. Và một ý nghĩa mới đã nứt ra khi người ta  lần đầu tiên được thấy: danh dự đồng nghĩa với bình đẳng. Tại sao, dù anh có là  viên tướng hay thị ủy thành phố, ra đường, nếu anh xúc phạm tôi, tôi sẽ ném găng  đòi đấu với anh, nếu anh không đấu thì sẽ mất danh dự, còn nếu đấu tôi có thể hạ  thủ anh dù chỉ là cấp dưới của anh. Danh dự và bình đẳng còn có cơ hội leo cao  rất nhiều, khi người phụ nữ có thể cầm lấy khẩu súng đấu tay đôi với đàn ông. Và  lúc đó nàng đã lật ngược cả sân khấu bất bình đẳng của lịch sử. Ở Việt Nam là  một nơi rất phong kiến mà nàng còn dám ngâm nga :
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người
Nhưng quan niệm về danh dự giữa châu Á và châu  Âu rất khác nhau. Ở Châu Âu nói chung người ta có thể sống danh dự và trí tuệ  thuần khiết, nhưng ở châu Á, muốn lưu về ở ẩn thì trước hết phải vòng lên kinh  đô tráng tí men quyền hành cho bõ phẩm trật vua quan. Mấy ông ở ẩn, thấy vua  quan đi qua, liền lẻn ra nói vài câu khoe mẽ chữ nghĩa rồi lại lủi mất. Nói  chung, người châu Á thích kiểu khôn của Hàn Tín, chịu nhục chui háng hàng thịt  để tồn tại, sau rồi mười năm báo thù không muộn. Đó là cách đem danh dự đổi lấy  sự sống còn. Bọn Tống Giang kia, hào hùng vênh vang “thay trời hành đạo” một  thủa là vậy, cuối cùng cũng muốn điều đình để đầu hàng triều đình. Làm quan  trong triều, nhưng than ôi cái tục tằn thô lỗ của kẻ cướp vẫn còn, sau bị tiêu  diệt cả lũ thật đáng thương cho thứ giả anh hùng!
Nhà tư tưởng Thoreau của Mỹ nói: Nhà nước là  của dân chúng, nhà nước chỉ thích hợp với những giá trị bình thường của số đông,  chứ không bao giờ thích hợp với những gì cao cả, siêu việt. Người Việt có câu  “có cứng mới đứng đầu gió”. Đó là cách chết ngay còn hơn sống quì. Ở Việt Nam  nhà thơ Lê Đạt (?) đã từng coi đa số nhà văn của ta là “hèn đại nhân”. Tại Trung  Quốc một nhà phê bình có hạng của họ nói: một nhà văn trung bình của châu Âu đã  có thể chết vì bảo vệ ý tưởng của mình, nhưng tất cả nhà văn Trung Quốc thì  không có ai làm được vậy.
Văn học học Âu Mỹ thường xuyên có những câu thế  này:
-Một người phụ nữ nói với hàng xóm “tôi đi tìm  công lý!”
- Một bà già nói với một đứa bé trai ở chỗ hẹn:  “Là đàn ông thì đừng bao giờ lỡ hẹn”.
- Một bà ăn mày trong công viên nói với cậu bé:  “Đừng hứa nếu không chắc có làm được không!”
Những câu này ở văn học Việt Nam rất thiếu. Văn  học Việt nam thậm chí bới cũng không thấy cuộc đấu nào về danh dự, mà nói chung  người ta vẫn chỉ đấu để tranh ăn. Như vậy có phải: cây không có nhựa danh dự để  sinh trái danh dự. Các nhà văn của ta liệu có giống hội Tống Giang kia về đầu  quân cho triều đình để đòi lĩnh chức lĩnh quyền. Có người đã viết về nhà thơ Tố  Hữu rằng “nhà càng lộng gió thơ càng nhạt”. Tôi rất nể nhà thơ Lam Luyến khi chị  làm mấy câu thơ đại ý “chức càng cao thì thơ càng thấp”.
Nhà nước sinh ra là cần thiết, vì sinh ra để  quản lý. Nhưng quyền lực của nhà nước không phải là quyền lực của chữ nghĩa hay  sự vinh quang thuộc về chữ nghĩa. Nếu nhà tư tưởng Thoreau nói “nhà nước không  thích hợp với những gì cao thượng, chỉ thích hợp với quần chúng và thuế má”, thì  người Việt bảo “miệng quan chôn trẻ”. Nhà tư tưởng Italia, Machiavelli có nói:  Làm quan thì phải biết hứa hão liên tục, nếu thất hứa, thì phải tiếp tục hứa để  nuôi ảo tưởng và hy vọng, và không cần phải dằn vặt khi thất hứa.
Nhà văn Nguyễn Bá Dương, Trung Quốc có viết:  Người Âu Mỹ đi đâu họ cũng có sẵn một câu xin lỗi trên môi, ngược lại người  Trung Quốc xin lỗi rất khó khăn. Ngôn ngữ nào cũng lấy câu chào làm đầu, nhưng  câu chào ở Việt Nam khó lắm, đến mức người Việt phải nói “lời chào cao hơn mâm  cỗ”. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ Việt xuất hiện ở đâu là nghiễm nhiên chẳng cần  chào, thất hứa hay sai hẹn chẳng cần xin lỗi, cư xử theo cách quan trên hay ông  kễnh văn nghệ theo kiểu ta có được quyền thất hứa và không cần xin lỗi… Trời ơi  cái danh dự của thân chủ sáng thế tác phẩm mà chẳng bo giờ luyện tập thì làm sao  có? bao giờ người văn học Việt Nam mới có màn đòi thách đấu vì danh dự? Danh dự  đã thấp, thì đời sống và văn học đều lè tè cả thôi.
NHĐ 14/01/2013
Tác giả gửi cho NTT blog
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui