Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
6 Jan.2013

Cha tôi - nhà thơ Nguyễn Bính

với giấc mộng trạng nguyên


NGUYỄN BÍNH HỒNG  CẦU
BNN blog 6.1.13

  


Cha tôi sinh ra ở làng Thiện  Vịnh (Vụ Bản) một vùng chiêm trũng nghèo khó đất Nam Định. Mới ba tháng tuổi,  cha tôi đã mồ côi mẹ. Gia đình túng thiếu gieo neo, ông nội tôi đành đi thêm  bước nữa, cay cực chồng cay cực. Xót các cháu sớm bồ côi bồ cút, anh ruột bà  nội, cha tôi gọi bằng cậu (tức ông Bùi Trình Khiêm, một nhà nho cuối mùa lỡ vận,  ông trút bỏ bút lông ngả theo Tây học và tham gia phong trào Đông kinh nghĩa  thục, bị mật thám Pháp bắt quản thúc tại nhà.Về lại quê ông mở trường dạy  học, trong số các học trò ông sau này có nhiều người tên tuổi đã đi vào lịch sử  như nhà sử học Đẩu Nam Trần Huy Liệu, nhà báo Hồ Xanh Nguyễn Thượng Cát…), ông  cậu đã đem anh em của cha tôi về nuôi dạy.

Tuổi thơ cha tôi gắn liền  với quê ngoại, thôn Vân đẹp và buồn tĩnh lặng như bức tranh thủy  mặc:

Thôn Vân có biếc có  hồng

hồng trong nắng sớm biếc  trong vườn chiều

đê cao có đất thả  diều

trời cao lắm lắm có nhiều  chim bay…

Đó là Con đê Ất Hợi chạy qua  làng, con đường liên huyện, hàng năm vào tháng giêng – ba, người ta trẩy hội Phủ  Giầy:

Trên đường cát mịn một  đôi cô

Yếm đõ khăn thâm trẩy hội  chùa

Gậy trúc dắt bà già tóc  bạc

Tay
lần tràng hạt  miệng nam mô

(Xuân  về)
Thật là một bức tranh xuân quê  đẹp và sáng tươi như cây lụa trắng, mẹ già chưa bán chợ đường xa. Nhưng  vào kỳ lũ lụt thôn Vân nổi lên như một ốc đảo giữa bốn bề trời nước mênh mông,  con đê Ất Hợi giờ như sợi chỉ mong manh thoi thóp quăng quật trong sóng cồn gió  xoáy. Kỷ niệm về quê ngoại thôn Vân, những vui buồn sướng khổ đã in đậm dấu ấn  trong ký ức cha tôi.
Ông Bùi  Trình Khiêm không chỉ là người thầy người mẹ truyền thụ cho cha tôi về văn  chương chữ nghĩa, lòng yêu nước thương nòi, thói đời tình người, ứng nhân xử  thế… Cha tôi may mắn sớm tiếp thu được nguồn học vấn uyên thâm từ người thầy của  mình, người đã có ảnh hưởng quan trọng trong suốt cuộc đời văn nghiệp của ông.  Vào thời vua Lê Cảnh Thống thế kỷ XVI, dòng họ này có người đỗ Tiến sĩ, nay còn  bia đá trong Văn Miếu, tiếp sau vẫn có Hương cống, Sinh đồ…
Trải mấy đời hiển  đạt vẫn giữ lấy nếp nhà, mở trường dạy học lấy kế sinh nhai. Phải chăng chính vì  xuất thân dính dáng ít nhiều đến dòng họ khoa bảng mà cha tôi luôn lưu giữ trong  thơ mình giấc mộng Trạng nguyên như lưu giữ giá trị tinh thần của dòng tộc, và  của cả một thời rực rỡ đã qua. Những Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, những  võng điều, lọng tía, vinh qui bái tổ… là khao khát ước vọng của bao đời, gốc rễ  hàng nghìn năm ấy đã hằn sâu trong tâm thức người dân Việt làm nên giá trị  truyền thống dân tộc của mấy nghìn năm văn hiến.

Thời trước, người đỗ Trạng  nguyên là người có học vị cao nhất, được nhà vua trọng dụng, ban cho quyền cao  chức trọng, vinh hoa phú quí, bổng lộc cao sang, làm vẻ vang gia đình dòng họ,  là niềm vinh dự tự hào của quê hương bản quán. Và có lẽ đó cũng là khao khát của  chính cha tôi nên tần số quan Trạng xuất hiện trong thơ ông khá đậm  đặc:

Quan Trạng đi bốn lọng  vàng

Cờ thêu tám lá qua làng  Trang nghiêm

….

Thế rồi vua mở khoa  thi

Thế rồi quan Trạng vinh  qui về làng.

(Quan  trạng)


Rõ ràng quan Trạng  đương trai

Vua cho chạy ngựa ba ngày  xem hoa

(Con nhà nho  cũ)


Quan Trạng tân khoa  tàn yến tiệc

Đi xem hoa nở mấy hôm  liền

(Xóm Ngự  Viên)

Mặc khác giấc mộng Trạng  nguyên ám ảnh không nguôi trong tâm tưởng cha tôi để rồi luôn day trở trong thơ  ông có lẽ còn vì: ông quá nghèo, sinh ra trong một gia đình nhà nho quanh năm  túng thiếu, làng quê khốn khó, lớn lên trong nỗi cay cực. Để có được bát cơm ăn,  quanh năm suốt tháng người dân quê tôi phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời,  cõng nắng gùi sương có khi phải đổi bằng tính mạng bởi sóng gió trên đồng lật  thuyền dìm chết người cứu lúa. Vào kì chiêm khê mùa thối, mưa trắng đất trắng  trời, xóa trắng mùa màng, đói mờ con mắt, cả trời đất chìm trong một màu xám  xịt. Đói kém hoành hành, dân làng phải tha phương cầu thực. Làng xóm tiêu điều  xơ xác. Cảnh thực là vậy, ảm đạm tang thương là vậy nhưng nơi đó là quê hương  ông, nơi bao đời nhau rún tổ tiên, linh thiêng nguồn cội, người sống người chết  quyện vào hồn cốt đất đai, ăn sâu bám rễ vào tâm hồn cha tôi. Ông đối mặt với  hiện thực cuộc sống đói nghèo, ảm đạm tù túng cố hữu của làng quê bằng sự cảm  thông máu thịt, yêu thương cháy bỏng, khát vọng khôn cùng, ước ao nuối tiếc một  thời thanh bình yên ả đã qua, một thời chỉ có thể có trong thơ ông mà  thôi:

“Thuở ấy làm sao thật  thái bình

Trai hiền bạn với gái  đồng trinh”

Đời say men rượu thơm hoa  rụng

Tràn những thơ ngây ngập  cảm tình.

(hoa với  rượu)

Hay:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới  bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi  đầy

Hội chèo làng Đặng đi  ngang ngõ

Mẹ bảo em rằng hát tối  nay…

(mưa  xuân)

Cảnh ấy tình ấy là mộng hay  là thực, là thực hay là mộng đây? Thực đấy và cũng là mộng đấy, hay nói cách  khác cha tôi đã đem cái phần mộng của hồn vía mình phả vào cảnh thực của đời.  Hình ảnh thực của một làng quê lam lũ nhọc nhằn bước vào thơ cha tôi hiển hiện  một cách đẹp đẽ, đằm thắm tươi sáng và thơ mộng, ông không kêu ca tán thán rên  xiết khổ đau. Với ông quê hương đó là những gì thiêng liêng tươi đẹp nhất.Những Tháng chạp hoa non  nở cánh vàng, hay hội làng mở giữa mùa thu/giời cao gió cả trăng như ban  ngày/ hồn anh như hoa cỏ may/ một chiều cả gió bám đầy áo em… và những  mưa xuân, mùa xuân xanh, chân quê… được sinh ra từ những cảnh tình  ấy. Đó là  khúc hát tâm tình ước vọng của người dân quê mà cha tôi là nghệ nhân  của họ đã chạm khắc bức tranh quê ấy bằng hai phần đời thực và hồn mộng của  mình. Từ cõi tâm linh của mình ông đã chạm vào cõi hồn quê, chạm vào cõi tâm  linh của người dân quê. Và cũng có lẽ vì vậy mà đông đảo bạn đọc đã đồng hành  cùng thơ ông suốt chiều dài năm tháng.

Trở lại thời xa xưa, trong  cái xã hội thuần nông như ở nước ta, thì chuyện học hành thi cử là con đường duy  nhất để lập nên công danh sự nghiệp. Và mỗi người ai có bổn phận nấy, trách  nhiệm xã hội phân công rõ ràng, người đàn ông - người chồng chuyên tâm dùi mài  kinh sử, sự nghiệp công danh, còn phụ nữ - người vợ sớm hôm tần tảo nuôi chồng  ăn học:

Một
quan là sáu  trăm đồng

Chắt chiu tháng tháng cho  chồng đi thi

Chồng tôi cưỡi ngựa vinh  qui

Hai bên có lính hầu đi  dẹp đường…

Tôi ra đón tận gốc  bàng

Chồng tôi xuống ngựa cả  làng ra xem.

(thời  trước)

Tất cả đều chung giấc mơ đổi  đời nhưng vào thời của cha tôi sự học hành đỗ đạt khoảng cách giữa mơ và thực  quá lớn không dễ gì với tới. Những gì trong đời thực không thực hiện được thì  chỉ có thực hiện được trong mơ ước, trong thơ. Và cũng chính vì khoảng cách quá  lớn giữa thực và mơ nên khát khao càng cháy bỏng, chắp cánh cho mộng ước bay cao  bay xa bù đắp sự thiếu hụt, sự không có của phần đời thực. Có lúc cha tôi mơ  thấy mình đi thi rồi đỗ Trạng được công chúa gieo cầu kén làm phò  mã:

Trong triều thi cử vừa  xong

Trạng nguyên tôi đỗ kiệu  hồng tôi sang

Quả kim cầu ở tay  nàng

làm sao lại ở giữa bàn  tay tôi…

(lạy giời cấm cửa rừng  mai)

Còn trong đời thực, cảnh  tình thực cha tôi đã gặp phải một tình yêu ngang trái bẽ bàng, gia đình bên nhà  gái không chấp nhận cuộc hôn nhân vì bên gia đình cha tôi nghèo, so với nhà gái  không môn đăng hộ đối, ông cám cảnh mình chua xót thốt  lên:

Mấy khoa thi chót thầy  ơi

Sao không thi đỗ để rồi  làm quan

Để rồi lắm bạc nhiều  vàng

Để cho con được lấy nàng  thầy ơi!

(nhà  tôi)

Thế rồi sao? Giấc mơ bao giờ  cũng huy hoàng tráng lệ, sự thật  hụt hẫng xót xa:

Đồn rằng đám cưới cô  to

Nhà trai thuê chín chiếc  đò đón dâu

Nhà gái ăn chín nghìn  cau

Tiền cheo tiền cưới chừng  đâu chín nghìn

Vậy là anh lái đò nghèo  không cưới được người mình yêu vì thói đời đen bạc trọng phú khinh bần.  Anh lái đò trở về với đời thực:

lang thang anh dạm bán  thuyền

có người trả chín quan  tiền lại thôi

để rồi một chiều kia có  người con gái khác đang tơ muốn sang thuyền anh qua bãi tước đay, anh lái đò đã  rất thực mà từ chối thẳng thừng với một lý do rất mộng:

sao cô không gọi sáng  ngày

giờ thuyền tôi chở đã đầy  thuyền mơ

con sông nó có đôi  bờ

tôi chưa đỗ Trạng, thôi  cô lại nhà.

Trải bao biến động dữ dội  của lịch sử, dân tộc ta chịu sự chi phối không nhỏ, sự chi phối ấy mang giá trị  cách mạng sâu sắc, nhưng kèm theo những giá trị mới mẽ được tạo lập, thì sự xáo  trộn những giá trị tinh thần của người xưa để lại là điều không thể tránh khỏi.  Giấc mộng Trạng nguyên trong thơ cha tôi càng là một bảo tàng lưu giữ giá trị  tinh thần truyền thống ngàn xưa đó.


N.B.H.C

Nguồn:  H
NV
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui