Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
31 Dec.2012

VŨ ĐÌNH RẠNG, PHI CÔNG

BẮN  RƠI B.52 NĂM 1971 SUÝT

BỊ KHAI TRỪ KHỎI ĐẢNG

NĂM 1972, ÔNG TỪ CHỐI

DANH HIỆU ANH  HÙNG

TẶNG VÉT NĂM 2010

VŨ ĐÌNH RẠNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN BẮN RƠI B 52: SỐNG SÓT Đà LÀ HẠNH PHÚC, BÙI NGÙI CHI MỘT CHÚT DANH
PVD:NET 31.12.2012
-Dù  ngay lần đầu tiên phi công Vũ Đình Rạng đối mặt đã bắn trọng thương B-52 vào  ngày 20/11/1971, tuy nhiên chiến công này đã không được ghi nhận ngay và khiến  cho ông suýt bị khép vào tội “nhụt ý chí, không hoàn thành nhiệm vụ, không đủ  tiêu chuẩn đảng viên.”
- Anh hùng Vũ Đình Rạng sợ cái gì nhất?! “Sợ lịch sử ghi  không đúng người đúng việc” – ông nói. Để những sự sai trái đừng làm méo mó suy  nghĩ của các thế hệ sau. Còn thế hệ sau đánh giá thế nào, đó là việc mà lớp đi  trước không thể nào can thiệp...
- Với Vũ Đình Rạng: “Hạnh phúc là đã sống sót, chiến công  là của chung đồng đội và toàn dân tộc. Còn danh không toại cũng là chuyện xưa cũ  rồi”?!
-  Được biết, ông Rạng cũng trong diện được phong anh hùng đợt cuối của lứa phi  công anh hùng ngày ấy, nhưng ông đã từ chối. Nghe đâu vì chi phí ăn đứt cả năm  tiền cho thuê cửa hàng ???
  
Người đầu tiên bắn rơi B-52 là phi công Vũ Đình  Rạng, đúng một năm trước cuộc chiến “Điện Biên Phủ trên  không”
Người đầu tiên bắn rơi  B-52 là phi công Vũ Đình Rạng, đúng một năm trước cuộc chiến “Điện Biên Phủ trên  không”
Năm  1971, hạ gục B-52 là mục tiêu hàng đầu của Quân chủng Phòng không – Không quân  nhằm ngăn chặn các bước leo thang của Mỹ khi sử dụng sức tàn phá ghê gớm của mẫu  máy bay ném bom chiến lược này đổ vào tuyến đường huyết mạch Trường Sơn tại  Quảng Bình, Vĩnh Linh…
Chỉ riêng việc xuất  kich trong đêm, lầm lũi bay tầm thấp trên địa hình rừng núi phức tạp, rồi quay  về hạ cánh xuống những đường băng lỗ chỗ hố bom đã là một hành động phi  thường.
Ông  Rạng vẫn nhớ như in ngày 20/11/1971, lần đầu tiên đối mặt với B-52. Rút kinh  nghiệm từ lần tiếp cận B-52 vào tháng 10 trước đó, sở chỉ huy B8 đã đề ra chiến  lược, đánh đêm và dùng một MIG 21 bay nghi binh ở độ cao 8.000-10.000m vòng  quanh Tân Ấp, đèo Mụ Dạ rồi vòng về Nội Bài hạ cánh để đánh lừa radar của Hạm  đội 7, tin rằng MIG của Bắc Việt không còn khả năng cất cánh. Quả nhiên, phi đội  B-52 đã chủ quan, ung dung bay vào mà không sử dụng bất kỳ tín hiệu gây nhiễu  nào.

Khi  chiếc MIG 21 nghi binh hạ cánh lúc 7 rưỡi tối, một tiếng sau, trạm radar 41  thông báo phát hiện một đội 3 chiếc bay B-52 theo đội hình “bàn tay xòe” ở Tây  Savanakhet (Lào) khoảng 100km.
9  giờ kém 15, Vũ Đình Rạng âm thầm cất cánh, bay từ Anh Sơn (Vinh) vào Tân Ấp (Hà  Tĩnh) trong tầm thấp và tạm thời cắt đứt liên lạc với chỉ huy, không bật radar  để tránh bị phát hiện. Bay thấp trong đêm, địa hình phức tạp lại không được bất  kỳ trợ giúp nào từ sở chỉ huy đã là một hành động anh hùng của phi công trong  đại đội đánh đêm ngày ấy và nhờ kỳ tích này mà Vũ Đình Rạng có thể tiếp cận được  B-52.
Khi  còn cách máy bay địch khoảng 70km, lúc này sở chỉ huy mới nối liên lạc, chỉ đạo:  bỏ thùng dầu phụ, tăng lực... Chiếc máy bay phóng vút lên, rút ngắn khoảng cách.  60km, 45km, 15km… 11km.
Khi  còn cách máy bay địch khoảng 70km, lúc này sở chỉ huy mới nối liên lạc, chỉ đạo:  bỏ thùng dầu phụ, tăng lực
“Bật  radar” - sở chỉ huy lên tiếng. Sỹ quan dẫn chính lệnh cho phi công tăng tốc độ  lên 1.400km/h. Do cao độ MIG 21 vẫn thấp hơn tốp bay của địch 500m, Vũ Đình Rạng  quyết định kéo cao, lấy chiếc B-52 bay đầu tiên làm mục tiêu (cách 11km, chiếc  cuối cách 6km). Ngay sau khi mục tiêu lọt cự ly 5km, Vũ Đình Rạng ấn nút bám  sát, tiến vào vùng ngắm ổn định, cho phép phóng tên lửa.
“Tên  lửa bên trái đầu tiên rời bệ phóng, nổ trùm một bên động cơ B-52, ngay sau đó,  tôi kéo cần lái bay lên cao, thoát ly chiến thuật” - ông Rạng kể lại. Khi vừa  lên cao nhìn xuống, ông lại phát hiện ra một chiếc B-52 khác trên lưng vẫn còn  có đèn nhấp nháy, liền lập tức bổ nhào phóng nốt quả tên lửa còn lại ở cự ly  2km, rồi yên tâm về hạ cánh khẩn cấp tại sân bay Anh  Sơn.
Trong  chiến tranh, khi ngồi vào buồng lái, ranh giới giữa sự sống cái chết là một vết  cắt sắc ngọt nhưng trong đời thường, thì không phải cái gì cũng rõ ràng như vậy.  Quả tên lửa bên trái của MIG 21 đã bắn trọng thương chiếc chiếc B-52H. Do mẫu  máy bay được cải tiến đường dầu liệu riêng biệt cho 8 động cơ nên vẫn lết về đến  được Đông Bắc Thái Lan rồi buộc phải hạ cánh khẩn cấp tại Nakhom-Phanom. Sau đó  chết hẳn
Khổ một  nỗi, trận đánh trong đêm ngày 20/11 đó, tin tức hoàn toàn không được đưa tin  trên đài BBC và các đài “địch” khác như mọi khi, kết quả là thành tích này đến  tận năm 1973 mới được ghi nhận “nhỏ giọt” qua tài liệu lấy lời khai của chính  phi công Mỹ đã lái chiếc B-52H xấu số kia. Lúc này, người ta mới nhớ lại rằng  sau trận đánh ấy, B-52 đã ngừng toàn bộ hoạt động suốt một thời gian, tạo điều  kiện vô cùng thuận lợi cho đường 559 vận chuyển an toàn.
Ông Rạng cũng trong  diện được phong anh hùng đợt vét vào năm 2010 cho lứa phi công anh hùng ngày ấy,  nhưng ông đã từ chối.
Về bản  chất, chiếc B-52H kia cũng bị tính là “hạ gục”, nhưng nó thiếu mất hình ảnh một  khối sắt bị bắn cháy bừng bừng trên bầu trời Việt gây hiệu ứng mạnh mẽ. Đấy là  cái điều mà phi công Phạm Tuân đã có được một năm sau đó. Chưa hết, trong hoàn  cảnh thông tin thiếu thốn và nhận thức có giới hạn, Vũ Đình Rạng còn suýt bị  khai trừ khỏi Đảng trong đợt chỉnh đốn đầu năm 1972 với những lời truy kết  “không hoàn thành nhiệm vụ”, “nhụt ý chiến đấu”, “tư cách đảng viên cần phải xét  lại”!
“Nếu  có kinh nghiệm và bắn thêm một quả tên lửa vào chiếc máy bay đó, thì câu chuyện  đã khác. Đến khi được công nhận kết quả, thì tôi vẫn được trao Huân chương chiến  công hạng 3” - ông Rạng cười bình thản. “Dù vậy, ngay lúc đó, tôi vẫn tin mình  đã làm hết sức, thậm chí đã làm đúng giáo trình chiến thuật nên chưa bao giờ  thấy hối tiếc”. Giáo trình nào cũng đòi hỏi hạ được địch và bảo toàn mạng sống.  Hy sinh không phải là điều được khuyến khích.
Năm  nay ông Vũ Đình Rạng đã 67 tuổi, sống đủ với đồng lương hưu thượng tá 8 năm nâng  lương mà không được phong hàm đại tá và chút tiền cho thuê mặt trước căn nhà  trên phố Lê Trọng Tấn (Hà Nội) làm cửa hàng sửa chữa xe máy. “Hạnh phúc là đã  sống sót, chiến công là của chung đồng đội và toàn dân tộc. Còn danh không toại  cũng là chuyện xưa cũ rồi” - ông Rạng chia sẻ.
Được  biết, ông Rạng cũng trong diện được phong anh hùng đợt cuối của lứa phi công anh  hùng ngày ấy, nhưng ông đã từ chối. Nghe đâu vì chi phí ăn đứt cả năm tiền cho  thuê cửa hàng. Dù sao, thêm một danh hiệu cũng chỉ là việc thêu hoa trên gấm.  Trong cuộc chiến ấy, có người nào không phải là anh  hùng?
Khi  người viết chia sẻ với ông nỗi sợ giữa thời bình ngày nay so với ngày đó vừa  manh mún vừa… đa dạng biết bao. Từ vặt vãnh như sợ mất cắp, sợ dùng phải hàng  Tàu mắc bệnh ung thư đến sợ cả những thứ xa xôi ở tận ngoài biên giới hải đảo…  “Còn người anh hùng Vũ Đình Rạng sợ cái gì nhất?! “Sợ lịch sử ghi không đúng  người đúng việc” – ông nói. Để những sự sai trái đừng làm méo mó suy nghĩ của  các thế hệ sau. Còn thế hệ sau đánh giá thế nào, đó là việc mà lớp đi trước  không thể nào can thiệp.

-----------------------------
VŨ  ĐÌNH RẠNG: NGƯỜI ĐẦU TIÊN CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM BẮN TRÚNG B-52

Sinh  ra trong một làng quê nghèo ở Thái Bình, Vũ Đình Rạng vẫn thường nói đùa rằng:  “Chẳng  hiểu thế nào, tôi sinh vào đúng năm 1945 – năm có bao nhiêu người chết đói mà  tôi vẫn khỏe mạnh và thậm chí còn khỏe mạnh hơn người”  .

Phi công MiG-21 Vũ Đình  Rạng.
Tuy  gia đình không phải giàu có gì, nhưng mấy anh em Vũ Đình Rạng vẫn được bố mẹ cho  đi học. Vậy mà có lần anh suýt bỏ học, vì thấy người anh cùng đi học với mình bị  thầy phạt đánh đòn. Rạng cảm thấy rất nản, coi đi học như là ‘sự hành xác, chẳng đem lại kết quả gì,  rồi cuối cùng cũng chỉ cày với cấy mà thôi’. Nhưng rồi cuối cùng sau một năm  nghỉ học ở nhà cày cấy bố mẹ động viên Rạng nghĩ lại và anh đi học  tiếp.
Với  Vũ Đình Rạng, từ việc đi học tới việc học lái máy bay, tới việc trực tiếp chiến  đấu đều là những việc không phải tự anh mơ ước, ấp ủ mà đều là khách quan đưa  lại. Năm 18 tuổi, người ta vận động anh đi bộ đội anh bảo:
-  Thưa các anh, không phải tôi không muốn đi, nhưng lúc này cả hai anh trai tôi  đều đi bộ đội, chỉ còn cha mẹ già, các anh cho tôi hoãn lại chứ tôi không  trốn.
-  Nhưng mặt trận bây giờ rất cần người. Quân số cũng đã chốt. Không thể hoãn  được.
-  Thôi được, các anh không cho hoãn thì tôi đi.
Vũ  Đình Rạng đã đi bộ đội trong hoàn cảnh như thế và đầu quân vào Sư đoàn Dù 305.  Vào Sư đoàn này được hai năm thì năm 1965 trong đợt khám sức khỏe, anh đã trúng  tuyển đi học Không quân ba năm bên Liên Xô (cũ) cùng với một số đồng đội… Anh là  một trong số rất ít người được lựa chọn ra từ 120 người trong danh sách học sơ  cấp ban đầu. (trong số đó có cả Vũ Xuân Thiều, Phạm Phú Thái).
*
Khi  về nước Vũ Đình Rạng được phân công chuyên bay đánh đêm. Anh nhận nhiệm vụ bay  đánh đêm với tâm trạng không thích thú lắm vì trên thực tế đánh đêm rất khó, đòi  hỏi kỹ năng cao. Vả lại người ta đánh ban ngày có nhiều cơ hội lập thành tích,  chứ mấy ai lập được thành tích ban đêm. Hơn nữa đánh đêm toàn phải cô đơn một  mình… Nhưng nhiệm vụ đã được cấp trên giao, anh vẫn vui vẻ chấp  nhận.

Cấp  trên chỉ thị: “Đồng chí có nhiệm vụ vào chiến trường Khu 4, chi viện cho chiến  trường trong cuộc chiến tranh hạn chế. Miễn là cậu vào phục kích ở đó. Nếu cất  cánh mà không đánh được, thì cũng coi như “dọa” cho B-52 biết rằng vẫn còn có  MiG-21 luôn sẵn sàng chiến đấu để cho chúng phải quay đầu lại. B-52 không thể  như một nỗi kinh hoàng mãi được”.
Đặc  điểm của sân bay ở Khu 4 thường là ngắn hẹp, nên đòi hỏi kỹ thuật bay của phi  công phải rất cao, ở đấy nếu bay cao sẽ bị tên lửa ở Hạm đội của Mỹ ở ngoài biển  bắn liền, còn nếu bay thấp thì sẽ bị va vào núi Đại Huệ hoặc dãy núi Trường Sơn,  vô cùng nguy hiểm.
Ở  chiến trường Khu 4 còn phải di chuyển liên tục, có lúc không thể phân biệt nổi  đâu là địch, đâu là ta. Bay từ ngoài Bắc vào không có chỉ huy, không có liên  lạc, bởi vì chỉ cần chúng phát hiện bằng sóng điện từ có máy bay của ta vào là  chúng sẽ cho F105 hoặc F8 đánh chặn ngay. Vũ Đình Rạng và đồng đội phải tìm  đường bằng cách nghĩ xem mình đi được mấy phút rồi, mấy phút là sẽ đến đâu… Kể  cả khi mưa, gió cũng vẫn phải cất cánh. Kể cả khi biết trong điều kiện như thế  có thể đi sẽ không.  Nhưng nhiệm vụ là trên hết, không nghĩ đến tính mạng của  mình, anh đã cùng với Đinh Tôn luôn trong tư thế sẵn sàng như vậy.
Như  thường lệ, 5 giờ hôm ấy (20.11.1971) Vũ Đình Rạng và Hoàng Biểu được lệnh cất  cánh từ Nội Bài vào Khu 4. Hoàng Biểu thì hạ cánh ở sân bay Vinh, còn anh thì ém  ở sân bay Anh Sơn. Đến 7 giờ 30 phút tối thì Hoàng Biểu báo động cấp 1. Cất cánh  lên được vài phút, thì Hoàng Biểu bị địch phát hiện. Chỉ huy lệnh:
- Kéo  cao lên nữa! Để cho địch biết là có MiG đang hoạt động!.
Hoàng  Biểu lên được một lúc nhưng sợ không tránh được nên đã quay ra. Bọn Mỹ mất mục  tiêu cũng quay lại Thái Lan. Đến lúc 20 giờ 40 phút bọn chúng cho rằng mối đe  dọa với B-52 đã hết nên quay lại.
Tại  Sở Chỉ huy Trung tâm Tư lệnh Đào Đình Luyện trao đổi nhanh với Phó tư lện Binh  chủng Trần Mạnh cho Vũ Đình Rạng xuất kích. Anh cứ theo chế độ đã định sẵn mà  bay dọc trên đỉnh Trường Sơn vượt qua Keo Nưa. Lúc này từng tốp B-52 vẫn tiến  vào, chiếc MiG-21 của Rạng  bay về phía Tây Hà Tĩnh và giãn cách rất tốt. Khi  cách mục tiêu 80 ki-lô-mét anh được Đại úy dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho  vứt thùng dầu phụ để máy bay tăng lực, linh hoạt hơn.
Vậy  là bây giờ mục tiêu chỉ còn cách 60 ki-lô-mét, anh yên trí cải hướng bám sát mục  tiêu vì dẫn đường Lê Thiết Hùng đã lên tiếng thì chỉ có trúng. Đường bay của  Rạng áp dần vào gần trùng với tốp B-52. Lúc anh kéo lên độ cao 9  ki-lô-mét thì  mục tiêu chỉ còn cách 15 ki-lô-mét. Điều kiện để phóng tên lửa rất khả quan.  Theo lệnh chỉ huy yêu cầu anh bật ra-đa. Trên thực tế khi nhận được lệnh xong  thì mục tiêu chỉ còn chừng 11 ki-lô-mét. Anh vừa lấy độ cao, vừa phải lấy thăng  bằng nhằm vào chiếc số Hai mà bỏ qua chiếc số 1 vì cự ly quá gần không thể nào  ngắm bắn kịp. Nhìn vào màn hình, mục tiêu rõ mồn một, hình ảnh lên rất đẹp, còn  có 2 ki-lô-mét nữa thôi, Vũ Đình Rạng bóp cò phóng một quả tên lửa. Nó lao vút  về phía trước. Một chớp nổ lóe lên, lửa bùng ra từ một bên cánh B-52 rồi tắt  ngấm. Anh thoát ly ngay và khẳng định đã trúng mục tiêu, chính xác còn hơn bài  huấn luyện rất nhiều.
Ở độ  cao 9 ki-lô-mét, anh nhìn về phía bên phải trên lưng chiếc B-52 có phát đèn tín  hiệu gì đó giống như bên hàng không dân dụng. Vì vẫn còn một quả tên lửa nên anh  lại chờ tiếp cận gần 2 ki-lô-mét phóng nốt. Nhưng lần này đường bay hơi vòng,  anh không chắc có trúng hay không. Bắn xong, anh lập tức lao vun vút trong màn  đêm tối đen quay về sân bay Anh Sơn.
Cách  sân bay Anh Sơn 5 ki-lô-mét, Vũ Đình Rạng thả càng hạ cánh, yêu cầu toàn bộ sân  bay tắt hết đèn. Đúng như dự đoán của anh, vừa mở cửa buồng lái máy bay bước ra  thì đã nghe thấy rất nhiều tiếng máy bay tiêm kích của địch ở trên đầu. Nếu cứ  để đèn trên đường băng sáng trưng như lúc đầu, thì e rằng toàn bộ sân bay sẽ bị  đánh phá  và không còn một mống người.
*
Đêm  hôm ấy, Vũ Đình Rạng không tài nào ngủ được vì vừa thoát khỏi cái chết trong  gang tấc. Anh đã vừa làm được việc vô cùng khó khăn, chưa một phi công Việt Nam  nào làm được là đã bắn trúng B-52. Phó tư lệnh Quân chủng Đào Đình Luyện biết  anh chưa ngủ nên đã cho người gọi anh lên để nghe anh kể hết những tình tiết của  trận đánh. Ông bảo:
-  Sáng mai, trực thăng sẽ đưa cậu về sở chỉ huy Yên Thành để rút kinh nghiệm với  chuyên gia. Chuẩn bị tinh thần nhé!
Bẵng  đi một thời gian, đầu năm 1972 trong một cuộc họp chỉnh đốn Đảng, chính ủy Chu  Duy Kính nói với anh:
- Các  anh ấy đi đánh về có gì đều nói hết, riêng cậu có vấn đề gì khúc mắc, hay dao  động, sợ đi đánh thì cứ mạnh dạn trao đổi. Hoặc nếu chưa nói được thì sẽ để thời  gian cho cậu suy nghĩ .
- Tôi  nói thật, các anh ấy đi đánh ngày dễ dàng lập công liên tục. Tôi nhận nhiệm vụ  đánh đêm cũng rất muốn lập công chứ – Vũ Đình Rạng nói – Nếu đã sợ chết, thì tôi  đã không thường xuyên xuất kích kể cả những ngày gió mưa. Đã là phi công được  Nhà nước cho đi học, về nước chiến đấu tôi chỉ mong muốn được chiến đấu và lập  công, sao lại nói tôi “dao động”?
- Cậu  cứ suy nghĩ cho kỹ, nếu cậu khó nói thì cứ nói với chính trị viên. Còn nếu cậu  không nói ra thì nhiệm vụ sắp tới sẽ phải xem xét lại khi giao cho cậu – Chính  ủy Chu Duy Kính lạnh lùng.
- Báo  cáo chính ủy, tôi là phi công, là đảng viên, nhiệm vụ cấp trên giao tôi luôn cố  gắng làm tròn. Còn nhiệm vụ sắp tới có giao cho tôi hay không là tùy cấp trên. –  Vũ Đình Rạng đỏ mặt.
- Cậu  không dao động, sợ chết thì sao trong lần gặp B-52 hồi tháng 11 năm ngoái (1971)  cậu chỉ bắn có một quả tên lửa rồi quay về? Sao không bắn liền hai  quả?
-  Việc tôi bắn một quả đầu tiên trúng B-52 nhưng chỉ làm nó bị thương đã được rút  kinh nghiệm với các chuyên gia. Theo lý thuyết dù có bắn hai quả liền thì hiệu  quả cũng chỉ đến thế – Vũ Đình Rạng bắt đầu run lên vì giận.
-  Thôi được. Cậu không phải nói bây giờ. Hãy suy nghĩ thật chắc chắn trong một  thời gian nữa – Chính ủy Chu Duy Kính gằn giọng.
*
Tất  cả các phi công hôm đó chỉ biết im lặng trước thái độ của Chính ủy, ngoại trừ  tôi*. (Vũ Đình Rạng bắn B-52 bị thương chạỵ về Thái Lan, khi họp Đảng bị Chính  trị viên hỏi: “Tại sao người ta đi bắn rơi mà lần nào cậu đi cũng về không? Cậu  là… tư tưởng sợ chết, không can đảm…”.
Mặc  dù, hồi đó ở sân bay U-đom (Thái Lan) người Mỹ đã thừa nhận chính chiếc B-52 này  đã bị bắn rơi bởi phi công Vũ Đình Rạng của Việt Nam. Thế nhưng Vũ Đình Rạng lần  ấy vẫn bị kỷ luật nặng, suýt khai trừ khỏi Đảng. Mãi sau này vào cuối những năm  70, qua rất nhiều lần ý kiến của các Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó… yêu cầu  chính trị viên phải là những phi công bay giỏi, như thế mới có sự thông cảm và  có thể lãnh đạo tư tưởng tốt cho phi công. Cũng nhờ đó, tình cảm của phi công  với chính trị viên mới dần dần cởi mở hơn).
Cuộc  họp kết thúc đã lâu mà Vũ Đình Rạng vẫn chưa hết buồn, anh không ngờ chỉ vì việc  anh không bắn liên tục hai quả tên lửa vào chiếc B-52 hôm ấy mà b â y giờ anh  phải chịu sự nghi ngờ của cấp trên.
Vào  thời điểm này phía ta thường nghe tin từ đài BBC, hàng tháng trời nghe ngóng  nhưng một tin ngắn về một chiếc B-52 của Mỹ bị rơi hay thậm chí bị thương cũng  không thấy gì. Rất có thể người Mỹ vì sĩ diện đã im thin thít không dám  nói gì.  Nhưng việc Vũ Đình Rạng bắn bị thương B-52 đã khiến cho bọn chúng hoảng sợ phải  ném bom ngoài mục tiêu. Những khu vực trọng điểm như Lùm Bùm,  Tà-le-phu-lan-nhich hay Xê-pon một thời gian dài bộ đội vận tải rất vui mừng yên  tâm làm nhiệm vụ.
Về  sau này, vào năm 1999, thiếu tá Không quân Mỹ trong lần gặp cựu dẫn đường Lê  Thành Chơn để viết về những trận đánh ông đã tham gia ở Việt Nam có kể  lại:
Vào  trung tuần tháng 11 năm 1971, một chiếc B-52 đã bị bắn thủng thùng dầu, cháy  nhưng không dập được nên đã hết dầu phải hạ cánh bắt buộc trên sân bay Nathom  Phanrom (Thái Lan). Chiếc B-52 bị thương rất nặng sau đó được tháo ra chở vể  Utapao rồi bỏ đó” .
Trong  cuốn “MiG-21 units of the Vietnam  war” (Những chiếc MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam) của Istvan Toperczer  cũng có đoạn viết:
Air  force commanders picked verteran Mig- 21 pilot Dinh Ton to take part in the  action, for they believed his vast experience would allow him to cope with the  poor weather conditions that plagues the area. On one of his early flight his  departed from Noi Bai at 1700 hours then recovered at Dong Hoi to refuel. Taking  off again at 1900 hrs, he headed for Roure 9, but the Americans had by then  become aware of his flight and pulled all of their AC-130s out of the area for  good.
VPAF  missions against the B-52s met with less success in the first  half of 1971,  however, so several air force officers were sent to Mu Gia Pass to observe B-52  attack pattern both during the day and at night. In September of that year,  radar units were sent to Ba Don, in Quang Binh province, and to Vinh Linh to  track B-52 activities.
On 4  October, commanders of 921st sent Dinh Ton to Đong Hoi, from where he would go  “hunting” B-52s. The pilot took off after sunset, but the USAF crews were  effectively jamming all communications in the area and he had to fly without  ground radio contact. Dinh Ton soon found two b-52s in front of him, but judged  the situation unsuitable for caombat and diverted to Tho Xuan.
On 20  November, two more Mig- 21s were sent to Vinh, and another jet to Anh Son. At  2.000 hrs that same day, B-52s were reported 60 ki-lô-mét to the north of Xam  Nua. Pilot Vu Dinh Rang was about to become the first fighter pilot within the  VPAF to intercept a B-52s.
At  2046 hrs he scrambled from Anh son airfield, and once aloft he was informed by  groumd control that his three targets were 100 ki-lô-mét away. He dropped his  fuel tank and climbed to 10,000 mét, and at a distance of 15 ki-lô-mét, Vu Dinh  Rang switched on his radar and applied full throttle. At eight ki-lô-mét he  fired an AAM at one of the B-52s, anf as he brock away from his attack, he  spotted another bomber in front of him. Vu Dinh Rang launched his second  missile, and at 2115 hrs he landed at Anh Son. There, he was told that the first  b-52 had been damaged and had to make an emergency landing in  Thailand.
The  attempt to shoot down B-52s, as well as an increased movement of North  Vietnamese troops towards the south, prompted President Richard Nixon to warn Ha  Noi that bombing strike would re-commence if such activities continued. As part  of this threat, fighter-bombers started penetrating North Vietnamese airspace  once again, and on 18 December the VPAF struck back then Le Thanh Do and Vo Si  Giap downed F-4Ds 66-0241 and 65-0799 of the 432nd TRW.
The  air war in Vietnmese was about to reach a dramatic climax
Bản  dịch:
Chỉ  huy lực lượng Không quân Việt Nam chọn MiG-21 thí điểm Đinh Tôn tham gia chiến  dịch, vì họ tin rằng kinh nghiệm của anh sẽ cho phép anh ta đối phó với các điều  kiện thời tiết xấu trong khu vực hoạt động. Lúc đầu anh này cất cánh từ Nội Bài  lúc 17 giờ sau đó hạ cánh tại Đồng Hới để nạp nhiên liệu. Lúc 19 giờ anh cất  cánh trỏ lại. Người Mỹ nhận thấy nguy hiểm khi Đinh Tôn xuất hiện nên đã kéo tất  cả những AC-130 của họ ra khỏi khu vực nguy hiểm để bảo toàn lực  lượng.
Trong  thời gian nửa đầu năm 1971, Không quân Việt Nam đối phó với B-52 khá thành công,  vì vậy một số sĩ quan quân lực đã được gửi đến Mu Gia Pass để quan sát các kiểu  tấn công của B-52 cả ban ngày và ban đêm. Trong tháng chín năm đó, các đơn vị  ra-đa được gửi đến Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh  để theo dõi B-52 hoạt  động.
Ngày  04 Tháng Mười, chỉ huy của 921 cử Biên đội của Đinh Tôn tới Đồng Hới để các phi  công sẽ đi “săn” B-52. Các anh này đã cất cánh sau lúc hoàng hôn, nhưng quân đội  Hoa Kỳ đã gây nhiễu rất hiệu quả tất cả các liên lạc trong khu vực này khiến cho  anh đã bay mà không liên lạc được với đài phát thanh mặt đất. Đinh Tôn sớm phát  hiện ra hai chiếc B-52 ở phía trước, nhưng anh đánh giá tình hình không thích  hợp để tấn công liền chuyển hướng đến Thọ Xuân.
Ngày  20 tháng 11, thêm hai chiếc MiG-21 được gửi đến Vinh, và máy bay phản lực khác  tới Anh Sơn. 20 giờ cùng ngày, B-52s đã được phát hiện 60 ki-lô-mét về phía bắc  của Xam Nua. Phi công Vũ Đình Rạng trở thành phi công máy bay chiến đấu đầu tiên  của Không quân Việt Nam đánh chặn B-52.
Lúc  20 giờ 46 phút, Vũ Đình Rạng cất cánh từ sân bay Anh Sơn. ở trên trời, anh được  sở chỉ huy mặt đất thông báo rằng ba mục tiêu cách anh 100 ki-lô-mét. Anh vứt  thùng dầu phụ và kéo lên độ cao 10.000 mét và ở khoảng cách 15 ki-lô-mét Vũ Đình  Rạng bật công tắc ra-đa của mình, chuẩn bị sẵn sàng công kích. Lúc chỉ còn cách  8 ki-lô-mét anh bắn một quả tên lửa trúng một trong những chiếc B-52 rồi tìm  cách thoát, lúc đó anh đã phát hiện một máy bay ném bom ở phía trước. Vũ Đình  Rạng phóng tên lửa thứ hai của mình, và lúc 21 giờ 15 phút anh đã hạ cánh tại  Anh Sơn. ở đó, anh đã nói rằng lần đầu tiên chiếc máy bay B-52 đã bị bắn trúng,  và hư hỏng nặng phải hạ cánh khẩn cấp tại Thái Lan.
Những  nỗ lực bắn hạ B-52, cũng như  quyết tâm ngày một tăng của quân đội Bắc Việt Nam  hướng về phía nam đã nhắc nhỏ cho  Tổng thống Richard Nixon như một cảnh báo,  nếu như ông ta cho ném bom Hà Nội sẽ bị  Không quân Việt Nam đánh trả một cách tương tự như vậy. Đó sẽ là mối đe dọa lớn  khi máy bay Mỹ thâm nhập Không phận Bắc Việt Nam. Quả đúng không sai, ngày 18  tháng 12 năm 1972 Lê Thành Đô và Võ Sĩ Giáp đã bắn hạ hai chiếc F4D số hiệu  66-0241 và 65- 0799 của TRW.
Thời  điểm này, những cuộc không chiến tại Bắc Việt Nam đã trở nên đầy kịch  tính.
(Bản  dịch của Thủy Hướng  Dương).
Ghi  chú: Chương này được trích từ cuốn Chúng tôi và Mig 17 (trang 225) xuất bản tại  nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2009. Cuốn sách ra mắt công chúng tại Bảo tàng  Không quân (171 Trường Chinh – HN) do Tác giả Thủy Hướng Dương ghi chép theo lời  kể của Anh hùng phi công Lưu Huy Chao và đồng đội của ông
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui