Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
9 Jun.2012

hậu Chí Phèo (tiếp theo V) Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Truyện   
  Lớn | Vừa | Nhỏ

Phạm Thành: Hậu Chí Phèo và Dư luận, phần VI: Thuốc thần  làng Vũ Đại (tiếp theo phần V).

Từ  xưa, làng này gọi là làng Ốc. Đến thời ông Nam Cao mới đổi tên thành làng Vũ  Đại. Từ hồi cách mạng thành công đến nay, làng Vũ Đại vẫn là làng Vũ  Đại.
Võ  Đức Bá, thường gọi là lão Bá, là người hay chữ có tiếng ở làng Vũ Đại. Nghe nói,  từ thời Tây, lão đã đọc thông viết thạo Eng-Lich, Phờ-răng-xe, và cả  Lăng-lủng-trẻo nữa.
Nhưng  đã hơn mười năm nay, tủ sách của lão để cho lũ nhện tự ý giăng tơ. Hơn mười năm  nay, lão bỗng dưng mang bệnh. Bệnh lão là bệnh gì? Thực, dân Vũ Đại không được  tường tận cho lắm. Chỉ cùng nhau xác nhận: Gặp ai, lão cũng giương mục kỉnh ra  nhìn, và thỉnh thoảng mở miệng cười mà không thành tiếng.
Nhưng,  dân Vũ Đại thật cũng không mấy ai ngờ, một ngày kia, bệnh lão khỏi  hẳn.
Dù  khi lão còn điếc, tai lão đục, mắt lão mờ, dân làng Vũ Đại vẫn thừa nhận gia thế  lão thuộc loại danh giá nhất. Thời cách mạng này, con lão: đứa giáo viên, đứa kỹ  sư, đứa sinh viên đại học; còn thằng con trưởng của lão thì khỏi nói: đại tá,  bác sĩ quân y.
Hồi  lão đổ bệnh, con cái lão chạy chữa ghê lắm. Thuốc đông, thuốc tây, điện tâm đồ,  ướp khô, ướp lạnh, châm cứu Đông, Tây y kết hợp, thôi thì đủ cách, đủ trò. Dân  Vũ Đại nghĩ: "Con cái lão tận tâm, tận lực như thế, có tứ chứng nan y cũng phải  sợ mà đi". Ấy thế mà bệnh của lão cứ không khỏi. Lạ thế, cứ như đài, báo cho  biết thì cái bệnh của lão có "nan y" gì? Thế mà, từ nhà ra trạm xá, lên bệnh  viện huyện, bệnh viện tỉnh, đến cả trung ương, rồi lão lại trở về nhà, bệnh tình  vẫn không thuyên giảm.
Vậy,  lão mắc bệnh gì? Thằng con trưởng, đại tá, bác sĩ quân y từng chữa bệnh cho hàng  trăm người, đã từng moi óc, moi tim hàng trăm người, nói rằng: lão rối loạn thần  kinh, lục phủ ngũ tạng bất ổn định. Nói gọn lại là lão rối loạn cơ địa. Để cho  dễ hiểu, thằng con trưởng giải thích thêm: đại khái bệnh của lão như bệnh của gà  bị mắc tóc. Muốn cho gà khỏi bị mắc người ta không thể gỡ từng cái tóc ra khỏi  chân gà, mà thường  phải dùng dao, hoặc  kéo cắt nó đi. Lão Bá cũng đang bị mắc như vậy. Nhưng lão Bá là con người, dùng  dao, dùng kéo cắt mổ cái mớ bòng bong ấy, rồi sau đó mới sắp xếp lại thì còn gì  là người. Bởi vậy, y học đành bó tay. Với lại, lão Bá già rồi, có thấy được,  nghe được, nói được cũng thế thôi. Con cái cứ chăm sóc lão cho tốt vào là trọn  chữ hiếu rồi. Con hàng đàn, cháu hàng đống, lo cho cả, sợ gì!
Thế  là mấy chục năm nay lão mang bệnh ở trong người. Mắt lão vẫn mở đấy, nhưng lão  có thấy gì không, cũng không mấy người dám chắc. Miệng lão vẫn cười đấy, nhưng  có ai nghe rõ tiếng cười của lão không, cũng không mấy người dám chắc. Một đồn  mười, mười thành một trăm, một trăm thành một triệu rằng: Đã từ lâu, lão Bá bị  điếc, bị mù, bị câm.
Thế  rồi, một hôm, lão Bá đang ngồi trước hiên phía Đông hóng mặt trời, bất ngờ nghe  có tiếng reo ầm ĩ từ ngoài đình dội vào. "Chuyện gì thế? Làng Vũ Đại vài chục  năm nay có ầm ĩ như thế nữa đâu!". Tiếng reo càng gần lại và hình như đang tiến  về phía ngõ nhà lão. "Đúng rồi!" - lão thầm khẳng định. Khi tiếng reo và đám  đông đến gần nhà lão, theo thói quen, lão giương mục kỉnh ra nhìn. Lão thoáng  thấy một con lợn bị cạo trọc đầu, đang lắc lư trên chiếc xe bò. "Hì! Hì! Lạ  thế!" - Lão muốn phì cười. Lão muốn cười thật. Bọt mép trên miệng lão bắt đầu  phì ra. "Hừ. Hết trò. Thật hết trò. Xe bò chở thóc, chở phân bây giờ lại chở lợn  trọc đầu đi đâu thế này? Xe bò để bò kéo, bây giờ lại người kéo thay bò. Hết  trò! Thật hết trò! Tức cười thật!" Và cổ họng lão lục bục, khúc khắc  ho.
Vợ  lão, người đàn bà nhân hậu, theo thói quen đến ghé miệng vào tai lão thì  thầm:
- Cụ  Chí bị đấu đấy.
-  Cái... cái... gì? - Tiếng lão Bá nghèn nghẹn.
- Cụ  Chí bị đấu đấy- Vợ lão nhắc lại.
-  Đấu... đấu - Lão Bá nấc lên
- Ông  nghe đài, đọc báo suốt ngày mà không thấy à?
-  Thấy... thấy... cái gì?
- Cái  gốc, cái cành gì đó! Đài nói bấy lâu nay mà!
-  Đài... đài nào?
- Đài  Vũ Đại chứ còn đài nào? Ông Võ Đức Nội đánh đổ cụ Chí đấy.
Lão  Bá như bị lò xo ép lâu ngày, đứng phắt dậy, tay chém chém vào không khí, miệng  lầm bầm:
-  Đáng kiếp cho tay Chí. Thế chứ! Thế chứ! Cái lão mọt dân ấy. Lẽ ra hắn phải bị  đánh đổ từ lâu rồi mới phải. Được! Được lắm! - Thế rồi nước mắt lão Bá chảy tràn  xuống hai gò má từ lúc nào. Lão cười. Những sợi râu bạc của lão bần bật rung  lên.
Vợ  lão cũng cười theo. Rồi tiếng cười của bà đột ngột ngừng lại. "Đúng. Ta vừa nghe  lão nói". Bà ngạc nhiên tới cao độ. Bà vừa chạy ra cổng, vừa reo ầm  lên:
- Ới  làng Vũ Đại ơi! Ông nhà tôi nói được rồi. Nói được rồi!...
Trước  sự mừng vui quá mức của bà vợ, lão Bá phải vội vàng gạt lệ, đứng dậy, quát với  theo:
-  Bớt, bớt cái mồm lại. Bà tưởng lâu nay, tôi mù, tôi câm, tôi điếc đấy  hẳn?
Tin  lão Bá nói được, nghe được lan nhanh khắp dân làng Vũ Đại. Nhiều người vui với  tin này. Nhưng vui nhất vẫn là dòng họ Bá của lão Bá. Niềm vui như niềm vui  chiến thắng. Bao nhiêu thuốc thang không khỏi. Thế mà tự nhiên lại nói được,  nghe được, nhìn được. Thế mới gọi là người chứ. Là người, ngoài tứ khoái ra,  phải nói được, nghe được, thấy được, rồi đánh giá, bình luận phải, trái, trước,  sau, hơn thiệt... Ngược lại, chỉ biết ăn cho đầy bụng, nặng cân béo tốt; mặc cho  lịch sự, hào nhoáng khoe "mẽ" với đời, thì chỉ như cái giá khoác áo, hoặc cái  túi đựng cơm, mai sau đều chết đi cả, phí phạm công sinh thành lắm.
Họ  nhà lão điện tứ phương cho con cái lão. Thế là, những đứa con chí hiếu lục đục  kéo về. Sự kiện này, chắc có liên hoan to. Đúng. Họ Bá có liên hoan to. Nội,  ngoại, thân thích xa, gần, bè bạn thân sơ đều có thiếp mời đủ mặt. Đến tay Chí  mà lão Bá ghét cay, ghét đắng cũng được mời nữa là...
Tay  Chí lúc đầu cũng không muốn đến. Nhưng thằng trưởng, đại tá, bác sĩ quân y đến  tận nhà mời, tay Chí không thể không đến. Tay Chí tức, không phải vì lão Bá xưa  nay chẳng xem tay Chí ra gì, mà còn hiện nay, con cháu làng Vũ Đại cứ xì xào bàn  tán, cho rằng: tay Chí bị mất chức nên lão Bá mới nói được.
Có  chén, cuộc liên hoan đã vui lại càng thêm vui.
Khi  người ăn đã no, uống đã say về vãn, thằng con trưởng, đại tá, bác sĩ quân y mới  đi giày đinh đến trước mặt lão Bá, cung kính:
-  Thưa bố! Bố có thể cho biết, vì sao bố bỗng dưng nói được không ạ?
Lão  Bá cười khà khà. Đại tá vòng tay trước ngực có ý đợi câu trả lời. Thấy lão Bá  lại đưa tay cầm chén rượu và nhẹ nhàng đưa lên môi, đại tá giục:
-  Thưa bố! Vì sao bố lại nói được?
- Cái  tay Chí. Cứ hỏi cái tay Chí...
Tay  Chí cùng ngồi mâm với lão Bá, nghe thế phản ứng lại liền:  
- Sao  lại hỏi tôi? Bệnh ông, ông khỏi, sao lại hỏi tôi?
Lão  Bá thấy thế lại càng cười mạnh, chòm râu bạc trên cằm càng rung mạnh hơn. Đại tá  vẫn giục:
- Có  phải cái điện châm và bài thuốc "cải bặt, quy ngôn" của con ngày trước, bây giờ  mới ngấm không ạ.
- Anh  cứ hỏi cái tay Chí ấy. Làng Vũ Đại ai mà không đồn ầm lên.
Tay  Chí nghe thế, mắt trợn lên, dằn chén rượu xuống giữa mâm, gay gắt:
- Tôi  đéo vào liên hoan nhà ông nữa. Uống chén rượu mừng ông mà cứ tức anh ách. Bệnh  ông, ông khỏi. Tôi biết đếch gì. Sao lại hỏi tôi? - Nói rồi, cụ Chí quay ngoắt  người về phía sau, thả chân xuống giường tìm dép. Thấy thế, râu lão Bá lại càng  rung dữ hơn.
- Ấy,  ấy..., chờ đó, - Lão Bá xua tay - ngồi lại, tôi nói đây. "Dẫy (Dĩ) dân vi bản".  Mi làm lãnh đạo mà bấy lâu nay mi ngu. Mi cứ tưởng mi là nhất ở cái làng Vũ Đại  này. Mi cậy cái thâm niên lãnh đạo của mi. Mi hãy xem dân tình...
-  Này. Lão Bá - Tay Chí cướp lời - Ông định nói tôi thế nào thì ông cứ nói toạc ra  đi. Đây đếch biết cái "Dẫy (Dĩ) dân vi bản. Nhất cứ vi sư, bán cứ vi sư" là cái  củ khoai gì. Dù sao thì cái thằng trưởng, thằng hai, thằng ba nhà ông cũng là  tay tôi phê duyệt...
-  Đúng đấy, bố ạ - Đại tá đế vào - Nhà mình được như thế này công bác Chí đây lớn  lắm ạ. Bố cứ nói toạc ra. Con là con nhà lính cũng thích thế.
Như  bị gáo nước lạnh dội vào người, lão Bá ngồi lặng đi. Lão giương mục kỉnh lên  nhìn chằm chằm vào đại tá. Lão nói với đại tá, giọng rầu rầu:
- Cả  anh cũng như tay Chí này sao?
- Con  cũng thích thế. Bố cứ nói toạc ra, chúng con biết, để còn...
-  Toạc. Toạc - Lão Bá như gầm lên, hùng hồn. - Mấy chục năm xa tao, mày quên "Dẫy  (Dĩ) dân vi bản" là cái gì à? Tàu nói à? Tây nói à? Không đâu! Cụ Nguyễn Bỉnh  Khiêm, cụ Nguyễn Trãi chẳng nói sao? Mày thích bố mày nói toạc. Tao nói toạc cho  mày hiểu một lần nữa. Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Dân là gốc, là  cái cơ sở. Khi gốc đã mục thì cành lá tươi xanh làm sao được? Phải biết cái gốc  của người nó ở đâu. Nói toạc. Mày muốn tao nói toạc, tao nói toạc đây? Cái thằng  Chí đây - lão Bá chỉ thẳng tay vào mặt cụ Chí - nếu không có "Dẫy (Dĩ) dân vi  bản", thì hắn còn đè dầu, cưỡi cổ dân làng Vũ Đại tới bao giờ nữa?
Trong  khi lão Bá nói, tay Chí cũng chỉ cười cười. Đến khi lão Bá chỉ thẳng tay vào  mặt, thì tay Chí cũng lại cười mạnh hơn. Đến nỗi, chiếc dép nơi chân hắn xỏ,  định đi về nhà, bị tung lên và bất ngờ rơi vào giữa mâm rượu, nơi tay Chí và lão  Bá đang ngồi. Cùng lúc tay Chí ngoái cổ lại, tay cũng chỉ thẳng vào mặt lão  Bá:
- Lão  Bá chớ có mừng vội. Mắt lão đã nhìn được, hãy xem cái gì đây? - Nói rồi, tay Chí  xòe ngay ra một tờ giấy tới sát mặt lão Bá. Thuận mắt, lão Bá giương mục kỉnh ra  nhìn. Một tờ giấy đỏ có dấu của công an gọi lão Võ Đức Nội lên trụ sở. Mặt lão  Bá biến sắc, giọng run run:
- Gọi  lão Võ Đức Nội lên để làm gì?
- Lên  để chịu tội vu cáo tôi, chứ còn làm gì nữa - Mặt tay Chí vênh lên.
- Vu  cáo ai? - Giọng lão Bá tắc nghẹn.
- Vu  cáo tôi, chứ ai? Tôi bị nó vu cáo là mọt dân, là cường hào mới. Huân chương tôi  còn, Đảng tôi còn, thế mà dân Vũ Đại dám láo, bảo tôi là cường hào mới, là mọt  dân. Đừng thấy tôi nghỉ chức rồi mà mừng. Bí thư, chủ tịch bây giờ cũng nơi bàn  tay tôi đào tạo mà ra cả. Những đứa đi kiện, rồi có ngày. "Con kiến mà kiện củ  khoai". Sức chi...
- Bao  giờ thì Võ Đức Nội bị bắt? - Lão Bá hỏi lại tay Chí.
-  Ngay ngày hôm nay - Tay Chí khẳng định.
Lão  Bá chừng như vẫn chưa tin ở đôi mắt mờ đục của mình, đưa giấy cho đại tá xem, và  hỏi:
- Có  đúng không đại tá?
-  Theo giấy này thì đúng đấy bố ạ.
-  Trời ơi!... Trời đất ơi! Tôi nhầm!!! Tôi nhầm rồi!!!
Lão  Bá khóc rống lên như một con trâu đang bị cắt tiết. Từ miệng lão một cục máu  hồng trào ra. Đang ngồi xếp bằng tròn trên chiếu rượu, lão Bá ngã gục mặt vào  giữa mâm rượu. Kính lão đập vào bát canh, vỡ tan. Một số mảnh vỡ chọc vào mi mắt  lão. Lão bất tỉnh nhân sự ngay. Con cái lão vực ngay lão dậy. Tay Chí thấy thế,  bỏ dép chạy thục mạng ra ngoài cổng. Đêm tối như mực, tay Chí vẫn chạy ra đúng  cổng, mất hút. Lũ chó nhà lão Bá chưa kịp sủa lên một tiếng.
      
Cấp  cứu suốt đêm thâu, lão Bá dần dần tỉnh lại. Nhưng một ngày, hai ngày, ba  ngày..., mắt lão vẫn không chịu mở ra. Thỉnh thoảng thằng con trưởng đại tá, bác  sĩ quân y lại phải banh mắt lão ra xem con ngươi lão còn tụ hay đã tán. Cũng từ  đó, miệng lão lại im bặt trở lại.
      
Lại  thuốc thang các kiểu, lại châm cứu các trò, nhưng mắt lão vẫn cứ nhắm, miệng lão  không nói được nửa lời, một tay, một chân và một nửa người lão không cử động  được. Lão bị bán thân bất toại.
      
-  Thật khổ! - Vợ lão than thở - Chỉ tại cái tay Chí mà ra, tranh luận mà ra cả!  Mười năm bỗng dưng nói được. Nói được, bỗng dưng lại im bặt - Bà nấc lên - Khổ  cái thân ông - Bà mếu máo nói với thằng con trưởng:
      
- Con  ơi, hay là nhà mình có động mồ, động mả gì? Để mẹ dọn lại cái bát hương, mời  thầy cúng tới. Nói rồi, bà đưa tay lên với cái bát hương. Thằng con trưởng thấy  thế, quát:
      
-  Cúng, cúng cái gì? Mẹ chỉ độc nghĩ chuyện vớ vẩn.
      
Bà Bá  nghe tiếng quát thì giật mình. Cái bát hương thờ tổ tông đang cầm trên tay bất  ngờ rơi xuống nền nhà vỡ tan.
      
Đại  tá, ngay lúc ấy, thoáng thấy lão Bá hình như có giật mình. "Kỳ vậy! Hay là nhà  mình có động mả thật!. Mời thầy cúng đến cúng thử xem? " - Tay đại tá, bác sĩ  nghĩ vậy trong tư thế bần thần, đứng lặng. Rồi bất ngờ, đại tá đưa tay lên sờ  vào ve áo. Ở đó có gắn quân hàm với hai gạch bạc và bốn sao trên nền đỏ. "Nhà  mình trí thức cả, cúng bái còn ra thể thống gì?". Đại tá kiên quyết không cúng  bái. "Nhưng tiếng động đã làmâlõ Bá giật mình, ta thử chữa bằng tiếng động xem  sao". Đại tá bảo mẹ:
      
- Mẹ,  đưa cái nồi đất ra đây cho con.
      
Mẹ  đại tá run run, hỏi lại:
      
- Nồi  đất nào?
      
Đại  tá:
      
- Nồi  đất, cái của gia bảo của nhà ta ấy.
      
Mẹ  đại tá chưa hiểu đại tá cần nồi đất gia bảo của bà, chồng bà, của cả dòng họ nhà  bà để làm gì. Nhưng bà vẫn vào trong buồng lấy ra.
      
Đại  tá bình tĩnh cầm chiếc nồi đất trong tay, giơ lên cao rồi dứt khoát ném mạnh  xuống nền nhà. Tiếng nồi đất vỡ, vang lên độc một tiếng "bụp".
      
Lúc  đó, chính đại tá nhìn thấy đôi tai lão Bá hình như có rung rung và đôi mắt có  nhay nháy. Đại tá không hề biết mẹ đại tá lúc đó đang tan nát cõi lòng. Lòng bà  cũng đang "vụn" ra như chiếc nồi đất gia bảo. Nó không phải của đời bà, vợ chồng  bà, nó là của ông cụ, ông kỵ, ông tổ, ông tiên, đời đời, lớp lớp của dòng họ  Bá.
      
Đại  tá bảo mẹ:
      
- Mẹ  ơi, cái lư hương đồng mắt cua của nhà ta đâu?
      
Đại  tá không nghe thấy tiếng mẹ trả lời. Đại tá ngước mắt lên nhìn mẹ và thấy mẹ  đang khóc. Đại tá ngạc nhiên, an ủi mẹ:
      
- Nhà  ta chẳng động đất, động nước gì đâu. Có thể con sẽ chữa khỏi bệnh cho bố bằng  cách dùng âm thanh tác động vào thính giác của bố. Mẹ thấy không, cái bát hương  vỡ, tai bố rung, mắt bố nhay nháy; cái nồi đất vỡ thì tai rung và mắt nháy mạnh  hơn; cái âm thanh của cái lư hương đồng phải to hơn, mắt bố không chỉ nháy và  tai không thể chỉ rung rung.
      
Mẹ  đại tá sụt sịt:
      
- Anh  là bác sĩ, anh hơn tôi, chứ tôi thì biết gì.
      
Nghe  mẹ nói thế, đại tá vững tin hơn, đưa tay lên bàn thờ lấy cái lư hương đồng mắt  cua. Đại tá dứt khoát:
      
"Choang"  - Tiếng lư hương đồng mắt cua va xuống nền gạch.
      
"Choang"  - Lại một tiếng nữa.
      
"Choang"  - Lại một tiếng nữa.
      
"Choang"  - Lại một tiếng nữa.
      
"..."  - Tiếng nữa
      
"..."  - Tiếng nữa.
      
Đại  tá đánh vật với cái lư hương đồng mắt cua cho tới khi nó chỉ còn là cục đồng  mang hình thù kỳ quặc. Mồ hôi đại tá túa ra. Nhưng bệnh câm, liệt của lão Bá vẫn  chưa có dấu hiệu thuyên giảm cơ bản. Lúc lư hương đồng mắt cua "choang choang"  nện xuống sàn nhà, toàn thân của lão Bá chỉ rung lên, giần giật như một người bị  tai nạn xe máy, hoặc ô tô đang giẫy chết. Đại tá đứng lặng suy nghĩ. Mẹ đại tá  đứng trong buồng ra nói với đại tá:
      
- Con  ơi. Con lấy cái mâm đồng với cái dùi sắt mà gõ có hơn không?
      
Đại  tá như tỉnh ra.
      
-  Đúng! Mẹ mang mâm đồng ra đây cho con.
      
"Pheng...  pheng... pheng... pheng... pheng... pheng..." - ba tiếng một, dùi sắt trên tay  đại tá gõ liên hồi, mắt đại tá chăm chú nhìn vào lão Bá. Lạ chưa, như nghe được  âm thanh thúc giục, toàn thân lão Bá rung lên theo nhịp gõ.
      
Đại  tá thấy có hy vọng. Dùi trên tay đại tá gõ liên hồi. Nhưng gõ mạnh và nhanh đến  mấy, thân lão Bá cũng chỉ rung rung, không ngồi bật dậy được. Đại tá mệt lử, mồ  hôi chảy ròng ròng trên má. Đại tá ngồi bệt xuống đất, hai lỗ mũi thi nhau "phì  phò". Đại tá suy diễn: "Nhất định lão Bá chưa thể chết được. Nhưng chẳng lẽ cứ  duy trì sự sống của lão Bá bằng những âm thanh chói chang liên hồi, sức đâu? Của  gia bảo lấy đâu cho đủ? Bỗng đại tá đứng phắt dậy. Đại tá có sáng kiến  mới:
      
- Mẹ!  Con bắn súng lục qua tai bố thử xem. Nếu tiếng mâm đồng làm cho bố rung toàn  thân, thì nghe tiếng súng lục, nhất định bố phải ngồi dậy được.
      
Nói  rồi, khi mẹ đại tá mới chạy ra đến bậu cửa đã nghe thấy tiếng súng lục nổ:  "đoàng, đoàng, đoàng".
      
Đúng  như đại tá, bác sĩ quân y dự đoán, lão Bá trong khi hốt hoảng đã ngồi bật dậy và  mắt lão hé mở, miệng lão ú ở nói một tiếng gì đó. Nhưng khi tiếng súng đã biệt  tích vào không trung, lão Bá lại ngã ngửa đánh "uỵch" xuống giường. Mắt lão lại  nhắm lại. Miệng lão lại câm. Bán thân vẫn bất toại.
      
Đại  tá thay mấy bộ quần áo, mấy đôi giày mà mồ hôi vẫn túa ra, ướt đẫm cả áo lẫn  giày. Đại tá vẫn quyết tâm tăng cường độ âm thanh lên mức cao hơn  nữa.
      
Sau  một thời gian chuẩn bị, lão Bá được đặt trên chiếc võng "Trường Sơn" và khiêng  tới trận địa pháo. Tại trận địa pháo, lão Bá được binh lính vực dậy và đặt nằm  trên chiếc giường bạt, rồi đẩy tới tọa độ của đạn pháo rơi và nổ.
      
Sau  khi lệnh cho pháo thủ kiểm tra các khâu an toàn cho lão Bá, đứng lên bục chỉ  huy, giơ cao ngọn cờ lệnh, đại tá dõng dạc hô:
      
-  Bắn!
      
-  Bắn!
      
-  Bắn!
      
Những  viên đạn pháo véo véo vút đi rồi nổ long trời lở đất. Mọi người đến xem vội vạng  bịt tai lại. Đại tá cũng phải bịt tai lại, nhưng mắt đại tá vẫn chăm chắm nhìn  tới lão Bá. Đại tá thấy lão Bá ngồi bật dậy và miệng mở ra, hét thật to: "Cứu,  cứu, cứu...". Mừng quá! Pháo thủ reo lên và đồng loạt rời khẩu pháo cùng đại tá  xô đến bên lão Bá! Nhưng, lạ thật! Khi mọi người chạy đến nơi thì lão Bá lại bất  ngờ đổ xuống. Qua một hồi khám xét, đại tá thất vọng. Đại tá quỳ xuống đất, chắp  tay lạy bố:
      
- Đến  đại bác mà bệnh bố cũng không khỏi. Thưa bố! Chỉ còn nguyên tử, may  ra...
      
Lão   Bá được đưa trở về làng Vũ Đại trong bệnh tình nguyên có từ đêm vui. Đối với đại  tá, ngày về vui bao nhiêu thì ngày trở lại đơn vị lại buồn bấy nhiêu. Nhưng,  biết chữa bệnh cho lão Bá bằng cách gì, và ai chữa được?
      
Đứa  con út của lão Bá, sinh viên khoa văn năm cuối cùng, là người duy  nhất

không  có mặt ở nhà trong thời gian xảy ra các sự kiện trên. Lúc nhận điện về nhà liên  hoan, anh đang bận học để thi môn cuối cùng. Khi mọi người đã đi hết, anh mới về  tới nhà. Nghe mẹ kể lại toàn bộ sự việc, anh nửa tin nửa ngờ. Nhưng, ý chí chữa  cho lão Bá khỏi bệnh của anh cũng sục sôi không kém ngài đại tá.
      
Khác  với cách chữa bệnh của đại tá, anh sinh viên đã xâu chuỗi lại toàn bộ sự kiện.  Và theo phương pháp lần tìm ( truy nguyên) của triết học Mac- Lenin anh đã lần  tới cái "nút" của căn bệnh. Anh phán bệnh: "Bố anh nói trở lại được là do một  đầy tớ có hạng của làng Vũ Đại bị đánh đổ. Nhưng rồi, chính hắn đã làm cho ông  thất vọng. Ông không những bị mù, bị câm, bị điếc trở lại mà bệnh tình còn tăng  thêm: bán  thân bất toại. Anh nghĩ, bệnh của bố anh phải có thuốc đặc biệt thì mới chữa  khỏi được.
      
Anh  quyết chí lên rừng tìm thuốc. Bắt đầu anh đi tìm thuốc ở các loại cây phong lan.  Nhưng rồi anh nhận ra, tuy phong lan là loại cây sống nhờ gió, nhưng chúng đều  có gốc. Anh lần tới các loại cây tầm gửi khác. Nhiều lắm! Chúng mọc chi chít  trên cả thân lẫn gốc những cây đại thụ. Nhưng cũng như phong lan, chúng cũng có  gốc, tuy là gốc bám và sống nhờ ở cây khác. Thất vọng, anh khái quát: "Trên đời  này không có cây nào lại không có gốc. Không có gốc, chúng sống bằng gì?". Anh  đành quay về nhà mà lòng buồn rười rượi.
      
Một  đêm trăng sáng, anh đi loanh quanh trong khu vườn, lòng man mác nhớ tới kỷ niệm  tình yêu ngày nhỏ, từ một lối mở nhỏ, nơi bờ rào cúc tần. Tự nhiên lòng anh vang  lên lời thơ buồn: "Người xưa đã vắng rồi, ơi bờ rào cúc tần ơi!".
      
Rồi,  theo phản xạ không định trước, anh đưa tay bứt lấy một chiếc lá nơi bờ rào, vò  nát nó trong tay. Sau đó, anh đưa lên mũi ngửi: "Ôi! Sao lá cúc tần năm nay  hăng xè thế này? Anh xòe bàn tay ra nhìn. Dưới ánh trăng mờ,  anh nhận ra trong lòng bàn tay anh không phải là cúc tần, mà là những sợi tơ  hồng đỏ. Anh đưa mắt nhìn lướt trên bờ rào cúc tần. "Ôi chao! Sao chúng nhiều  thế này". Tơ hồng kết thành từng mảnh dầy, đè nặng trĩu trên bờ rào cúc tần.  Những cây cúc tần, thân xanh, lá xanh, cố cụm lại với nhau chống đỡ, nhưng cũng  không chịu đựng nổi sức đè nặng của những mảnh tơ hồng. Thuận tay, anh lần tìm  gốc của tơ hồng. Anh vô cùng ngạc nhiên thấy tơ hồng là loại cây không gốc. Anh  giật mình nhớ ra loại tơ hồng này chuyên sống nhờ trên thân thể của loài cây  xanh. Chúng hút tinh chất của cây xanh mà ra nhành ra thân. Lòng anh như reo  lên: "Thuốc đây rồi!" Anh vội lao vào nhà tìm sách. Dưới ánh trăng, anh mở sách  thuốc ra tìm. Mừng quá! Tơ hồng không những là loài cây không gốc mà còn có tác  dụng chữa bệnh thần kinh cho người. "Bố mình bị liệt thần kinh chứ còn gì?  "

Lặng  lẽ suốt thâu đêm, anh cắt toàn bộ tơ hồng trên bờ rào và kéo hết chúng vào trong  sân. Sáng đến, anh dùng dao thật sắc băm chúng vụn ra thành từng đoạn. Sau đó  anh đem chúng phơi héo, rồi rang vàng hạ thổ, sắc cho lão Bá uống. Lạ kỳ chưa!  Chỉ trong vòng mười ngày uống thuốc, bệnh câm, mù, điếc của lão Bá biến mất hẳn.  Lão Bá ngồi dậy, đứng lên, đi lại, ăn nói như người bình thường.
      
Đấy  là một ngày tháng nóng. Mặt trời ban mai mới ló ra đã rực rỡ, gay gắt. Nắm tay  người con út, rưng rưng, lão Bá gào lên:
      
- Hỡi  mặt trời! Muốn "Dĩ dân vi bản" thì tơ hồng trời cho phải băm nhỏ cho bàn dân  thiên hạ uống cái đã. Kẻo không... Kẻo không... Rồi hai bố con lão Bá ôm ghì  nhau mà cười, mà hát, mà rằng:
      
Cây  tơ hồng không trồng mà mọc
Vòi  tơ hồng vòi dọc vòi ngang
Ngó  sang hàng xóm mách rằng
Tơ  hồng không gốc thuốc trời đã ban.

Nghe  tin lão Bá khỏi bệnh, cả làng Vũ Đại ngạc nhiên lắm! Cả làng kéo đến xem lão Bá  chữa bệnh bằng thuốc gì mà "thánh" thế? Lão Bá quen tính nửa đùa, nửa thật nói  với mọi người rằng: "Chữa bằng thuốc đè bờ rào". Hỏi thêm lão: "Thuốc đè bờ rào  là thuốc gì? Lão Bá chỉ cười không nói. Có người làng Vũ Đại suy ra cây không  gốc là cây tơ hồng. Nhưng phán đoán này bị cả làng vặn lại: "Cây tơ hồng không  thể là vị thuốc thánh như vậy!". "Vậy, cây đè bờ rào là cây gì?". Lão Bá cho  biết thêm: "Cây đè bờ rào thuộc loại cây không có gốc". Cả làng Vũ Đại ồ lên:  "Đích thị là cây tơ hồng rồi". Nhưng rồi vẫn có người vặn lại: "Cây không gốc ở  trên đời này thiếu gì, đâu phải chỉ mình cây tơ hồng. Cây tơ hồng không thể  "thánh" như vậy được".
      
Một  người nữa nói: "Nếu lão Bá chỉ uống độc mỗi cây tơ hồng mà khỏi bệnh, thì tôi  cam đoan rằng, cây tơ hồng nhất định là cây thuốc thần, thuốc  thánh".
      
Cả  làng Vũ Đại lại ồ lên! Họ không thể tin như thế được. Lão Bá cậy mình nhiều chữ,  hay đùa thiên hạ, chắc hắn ám chỉ tơ hồng với con người chi đây? Tơ hồng nhất  định không thể thánh như vậy được.
      
Tay  Chí thấy dân đem tơ hồng đùa vui với lão Bá trong lòng không khỏi lo buồn. Đối  với hắn tơ hồng là một vị thuốc độc
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui