Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
11 Apr.2012
Bản nhạc buồn trên đồi Châu Ê
Vương Tâm
nxd.com 11.4.2012
(HNMO)- Theo bản vẽ tay của người quản lý bảo tàng, tôi tìm ngay  được đồi thông có hai ngôi mộ của vợ chồng nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị  ở Châu Ê, xã Thuỷ Bằng, ven đô Huế. Ngọn đồi này cách Lăng Khải Định  chừng 400m, với những hàng cây thông tăm tắp theo hàng lối và cao vút.  Càng lên cao gió càng dào dạt.
Tôi nghe như có tiếng u trầm vang lên. Hẳn là tiếng người đang than hoà  trong làn gió? Hương nhang phảng phất toả lan. Tôi vội rảo chân qua  những bậc đá bước lên, thì ra có một thanh niên đang quỳ trước mộ bà  Điềm Phùng Thị. Anh ta chắp tay và miệng nói những gì đó mà tôi không  thể nghe được. Những âm thanh nghẹn lại. Tôi đứng lặng trong một không  gian chông chếnh nỗi u hoài.
Trước mặt tôi bức tượng người bằng đá ong đỏ au trong ánh nắng, tĩnh  lặng phía sau hai ngôi mộ của vợ chồng bà. Thấy tôi đến, anh thanh niên  dong dỏng cao đứng dậy cúi chào, rồi im lặng bước đi. Tôi vội tiến tới  bắt tay, hỏi vài câu nhưng anh ta lấy khăn lau nước mắt rồi chỉ vào ngôi  mộ bà Điềm Phùng Thị, miệng thốt ra vài tiếng u ơ như muốn nói điều gì  đó, mà không thể diễn tả nổi. Tôi chợt nhớ ra có thể đây là một học trò  của bà trong những lớp điêu khắc cho người câm điếc ngày nào.
Tất cả bỗng tĩnh lặng. Gió như cũng đứng im. Tôi cúi đầu, chắp tay trước  mộ bà. Bức tượng người đá ong trên cao im lặng nhìn tôi. Dường như âm  thanh câm lặng ấy muốn thét lên điều gì đó. Có thể là những nỗi niềm còn  ẩn ức. Những suy tư cần chia sẻ. Những nỗi đau thầm kín đang sụt sùi  trong mộng ước cần giải toả của con người. Phải chăng đó chính là tín  hiệu phát ra từ ngôn ngữ điêu khắc của Điềm Phùng Thị. Sự trầm tĩnh của  đá nhưng lại lung linh như lửa vậy…
Chả thế mà đa phần tượng của bà đều xoay quanh mô tuyp khối “Im  lặng”, “Chắp tay”, “Cầu nguyện”, “Cổng hư vô cõi Phật”. Phải chăng mọi  điều đều xuất phát từ 7 miếng ghép xoay chuyển đầy biến ảo, đó là 7 “mô  đun” của bà liên quan đến cõi thiền đầy trầm luân. Phải chăng ngay từ  khi bước chân vào làng hội hoạ, bà đã từng bảo vệ luận án tiến sĩ ở Pháp  cùng với chồng về nha khoa, có cái tên “Tục ăn trầu”, cũng đã rất gần  với tư duy của ngôn ngữ tạo hình trên đá. Cái màu đỏ nồng ấm của trầu  cau khi hoà lẫn đá vôi đã hoà sắc trong từng bản nhạc trầm buồn trên  từng thớ đá. Có người nói tượng của bà là ký hiệu, hay bí ẩn, hoặc vô  ngôn cũng đều ánh từ màu đỏ thắm trên môi người ấy mà thôi.
.
Mộ bà Điềm Phùng Thị
Lại nữa có người nói 7 mô đun của bà là 7 mẫu tự, là 7 sắc cầu vồng, hay  7 nốt nhạc, đều đúng cả. Những sao lại u uẩn nỗi niềm là vậy, có thể  hình dung, trong cõi vô thường của đạo Phật, con số 7 lại thể hiện vạn  vật linh thiêng khi đức Phật vừa ra khỏi lòng mẹ. Ngài bước đi 4 hướng,  mỗi hướng 7 bước. 7 bước là chỉ quyền lực sáng tạo của con người khám  phá thế giới trí tuệ và tâm hồn con người khi hoà cùng vũ trụ…
Bà bước vào thế giới hội hoạ với nhiều điều lạ lùng, khi đã bước sang  tuổi 40 (năm 1960). Bà từng tốt nghiệp đại học Y khoa ở Hà Nội năm 1946,  rồi đi theo cách mạng làm việc cho đến năm 1948, thì sang Pháp chữa  bệnh. Sau đó bà tiếp tục học và bảo vệ luận án Bác sĩ nha khoa (học hàm  Tiến sĩ), năm 1954. Với những người thành danh như bà quả là khó lý giải  câu chuyện vì sao bà dứt hẳn lĩnh vực y khoa để dấn thân vào hội hoạ,  và bắt đầu ngay từ điêu khắc. Bà say mê đến nỗi, thời kỳ đầu bà còn  tranh thủ đúc tượng ngay trong nhà bếp, mỗi khi rời dao kéo ở phòng khám  trở về. Thậm chí có những đêm cảm hứng tuôn trào, để giữ giấc ngủ cho  chồng, bà còn ôm tượng vào phòng tắm để chau chuốt cho đúng ý tưởng mình  theo đuổi.
Rất có thể vào thời điểm này, biết bao ký ức của tuổi thơ sống dậy qua 9  năm lang thang theo cha, một quan lại thời nhà Nguyễn, nay đây mai đó  trên rừng núi Tây Nguyên. Đó là ấn tượng mạnh mẽ những bức tượng của  ngôi nhà mồ câm lặng, kỳ bí đeo đẳng suốt đời chẳng thể nào phai mờ. Có  thể đó là những đôi mắt yếu đuối u buồn của những cô bé nơi đất đỏ bazan  ám ảnh Phùng Thị Cúc thơ dại ngày nào còn ngơ ngác chia từng miếng bánh  cho bạn bè cùng lớp. Và cũng có thể ký ức đó là những người tù bị đày  ải nơi rừng thiêng nước độc này đã bao lần gục ngã dưới làn roi, viên  đạn của giặc Pháp. Rồi sau đó là những nấm mồ đất khô khốc, câm lặng  trên Tây Nguyên lộng gió mà cô bé Phùng Thị Cúc chứng kiến bao lần.  Chúng khắc sâu trong tâm trí bà khi mới 6 tuổi đầu trên miền rừng núi và  ám ảnh bà trong tình thương yêu đồng loại, cùng những nỗi đau của giới  cần lao nghèo khổ, bỗng trỗi dậy, qua những khối đá u trầm. Bởi bà cảm  nhận rằng những bức tượng câm lặng kia sẽ giúp bà chia sẻ với con người.
.
Cụm tượng của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị
 
Điềm Phùng Thị đã cầm búa và đục thay vì dao kéo phòng mổ như một thúc  giục từ cõi hư vô mà chỉ có trời biết và đất biết. Ngay cả đến sự lý  giải vì sao, vạn vật từ tay bà đều được mã hoá qua 7 mô đun, qua là sự  bí ẩn. Sinh thời bà có kể rằng, trong nhiều lần thu dọn xưởng điêu khắc,  nhiều mẩu gỗ, đá do các học sinh, hay bạn bè vứt đi sau ngày làm việc.  Đột nhiên, một ý tưởng chợt loé lên trong đầu bà; đó là sự sắp đặt, bố  cục thành biểu tượng, một cách tự nhiên. Bà tự nhủ, hãy tạo cách biểu  đạt khác với kiểu diễn tả khối tượng thông thường xem sao. Và thật đúng  như trời xui đất khiến. Bà đã trở thành một hiện tượng của nước Pháp chỉ  sau 5 năm theo đuổi điêu khắc, từ năm 1961 đến cuộc triển lãm cá nhân  đầu tiên vào năm 1966. Bà lấy tên chồng là Bửu Điềm để đứng danh cho  mình là một sự tri ân và thể hiện tình yêu thương của mối tình “Trầu  cau” thuỷ chung son sắt của mình, dù cho chẳng thể có con với nhau. Cái  tên Điềm Phùng Thị ra đời từ cuộc triển lãm này.
Để tiếp tục con đường sáng tạo mới, đối với bà, quả không dễ dàng gì  trên xứ sở nổi tiếng thế giới về điêu khắc này. Nhưng may thay, bà được  sự giúp đỡ của ông Raymond Cognait, một giáo sư và một nhà điêu khắc tài  danh của nước Pháp. Chính sự dấn thân hết mình và dưới sự khích lệ và  định hướng của người thầy, bà đã tìm ra ngôn ngữ riêng, với 7 mô đun kỳ  ảo của mình từ đây. Trong suốt 30 năm sau đó, bà làm việc cật lực và có  hàng chục triển lãm cho riêng mình, bày ở nhiều nước khác nhau và ngày  càng có nhiều tượng bán trên thị trường châu Âu. Đáng chú ý, tính đến  nay bà đã được Nhà nước Pháp mua tới 36 tác phẩm để bày tại công viên,  quảng trường, đường phố của thủ đô Paris. Phải nói đó là một kỷ lục của  một nhà điêu khắc nữ.
Chưa hết, tài năng và sự cống hiến hết mình của bà đối với nước Pháp và  thế giới, để lại kho tàng nghệ thuật có giá trị lớn, nên bà đã được ghi  danh vào “Larousse Nghệ thuật Thế kỷ XX Tranh và Tượng”, năm 1991. Đây  là một vinh dự cho bà cũng như của ngành hội hoạ nước nhà, bởi bà là một  trong hai hoạ sĩ nữ châu Á (hoạ sĩ còn lại là người Trung Quốc) được  ghi danh vào tự điển trên. Và chỉ ngay năm sau bà còn được bầu vào “Viện  Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật châu Âu”, trở thành nữ Viện sĩ  Thông tấn hiếm hoi của nước ta…
.
 
Nén nhang đã cháy gần hết, tôi bần thần nghĩ bao chuyện về con người tài  hoa và dịu dàng này, một đời cống hiến đã trở về cõi vĩnh hằng với nỗi  cô đơn vô thường. Bất ngờ có một nhóm sinh viên chạy ào lên đồi thông.  Đó là những chàng trai, cô gái trẻ trung, với những cặp mắt sáng ngời,  nhanh nhẹn nói cười. Họ lỉnh kỉnh với giá vẽ và những tấm toan vừa vẽ ở  đâu đó trở về. Tất cả sắp thành hàng thẳng trước mộ hai vợ chồng Điềm  Phùng Thị, rồi chắp tay khấn. Họ cầu những gì? Họ mong bà phù hộ cho  những gì? Tôi chả thể nào đoán được, nhưng tôi nghĩ đó là những đứa con  thân yêu của bà đã về với bà để chia sẻ và hy vọng.
Và trong những giấc mơ sáng tạo, biết đâu từ những mảnh ghép vô thường  của bà, chúng sẽ lại nghĩ ra một hình dung nào đó, mang hơi thở của trời  đất và nỗi đau của con người trên thế gian này. Lúc này tôi bỗng nhớ  đến những lời tâm sự của bà sau những cơn lên đồng trong sáng tạo: “Khi  sáng tác, tôi đã hạnh phúc, đã đau khổ. Tác phẩm điêu khắc đó bây giờ  không còn thuộc về tôi nữa. Tôi trao lại cho các bạn, hoặc đúng hơn nói  theo cách của Bissière, tôi trao tôi cho các bạn”.
Đọc và ngẫm mới hay bà đã đúng, khi tặng lại toàn bộ kho tàng nghệ thuật  của mình, gồm khoảng 1000 tượng và tranh, với các chất liệu khác nhau  cho nhân dân Huế vào năm 2001, trước khi mất (29-1-2002). Chính vì điều  này bà đã không hề cô đơn khi trở về với cát bụi. Bà không có con riêng  nhưng bà lại có tới hàng triệu người con chung của cộng đồng thương yêu,  kính trọng bà. Các chàng trai, cô gái vẫn thường đến với bà và đợi ngọn  gió vô thường ngân lên những giai điệu ngọt ngào. Họ vẽ bên cạnh bà. Họ  tạc tượng với bà trong những cơn say từng đêm, từng đêm, giống như bà  ngày nào, đổ những giọt mồ hôi và máu nơi đất khách quê người.
Huế - Hà Nội 03-2011
Vương Tâm

Bài đọc thêm:
Kỷ niệm lần gặp Bà Điềm Phùng Thị (1996)
Nguyễn Xuân Diện 
Tôi đến Huế lần đầu vào mùa hè năm 1996. Lần ấy là chuyến tham quan xứ  Huế. Cả đoàn nghỉ ở Khách sạn Hương Giang. Người hướng dẫn viên du lịch  cho đoàn là một cô gái Huế luôn mặc tà áo dài màu tím và tay cầm chiếc  nón Huế. Giọng cô dịu dàng, cử chỉ ân cần chu đáo. Cô nói, được làm  hướng dẫn cho đoàn cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là một vinh dự,  nhưng cô cũng rất lo lắng, vì các bác các cô trong đoàn đều là những nhà  chuyên môn, đều đọc được chữ Hán Nôm trên di tích, và nơi đoàn ở luôn  có các ông Phan Thuận An, Mai Khắc Ứng, Nguyễn Đình Thảng đến thăm.
Chuyến đi ấy, đoàn chúng tôi còn được dẫn đi thăm lăng Gia Long bằng  thuyền- lăng ở xa trung tâm nên ít đoàn đến thăm được. Cô dịu dàng lịch  thiệp, mà giọng Huế của cô thật dễ thương quá đi! Qua lời giới thiệu của  cô, chúng tôi biết cô là một người rất hiểu và yêu Huế. Gần kết thúc  chuyến du lịch, một bác trong đoàn hỏi thăm gia cảnh, mới biết cô tên là  Nguyễn Hữu Tường Loan - một cái tên thật đẹp. Cô chưa xây dựng gia  đình, nhưng người bạn trai và là người chồng chưa cưới của cô là Trần  Đức Anh Sơn! Àh! Ra thế! Trần Đức Anh Sơn thì tôi có duyên hạnh ngộ tại  Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 1995, và khi ấy đã được anh tặng cho  cuốn sách anh viết về Huế... 
Ngoài chương trình thăm với đoàn, tôi còn đi lẻ đến hai nơi là Nhà thờ  Sào Nam Phan Bội Châu ở Bến Ngự và nhà trưng bày Điềm Phùng thị. Thăm  nhà thờ Phan Bội Châu trong một chiều Huế nhiều mây, lọt vào giữa khu  vườn nhỏ bé với những hàng bia cũ, không khỏi chạnh lòng thương nhớ Hãn  Mạn tử tiên sinh. Một sự nghiệp chưa thành. Dẫu vấn biết câu: “Chớ đem  thành bại luận anh hùng”, nhưng Phan tiên sinh không đi trọn vẹn con  đường, cũng là điều đáng tiếc! 
Thăm nhà trưng bày Điềm Phùng thị, may mắn được gặp bà và được bà mời  dùng trà trong phòng khách. Khi biết tôi làm việc về ngành Hán Nôm thì  bà phấn chấn lắm, vì tượng của bà là được tạo nên từ bảy mẫu tự (modul)  chữ Hán. Bà ân cần trò chuyện với một cậu bé 26 tuổi là tôi và đưa đi  giới thiệu mấy tác phẩm bằng giấy và vải đang làm trong xưởng. Khi ra  về, bà lấy một catalogue ra và đề tặng tôi. "Gởi em Nguyễn Xuân Diện.  7/8/96" và chữ ký Điềm Phùng Thị.


Nhà trưng bày Điềm Phùng thị, mặc dù tọa lạc ở ngã ba và vốn là một tòa  biệt thự cũ, nhưng những lần sau đó, đến thăm thấy ngày một tàn tạ. 
Về sau, khi  có dịp công tác ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi may mắn   được tới chiêm bái Đài tưởng niệm Liệt sĩ của Hương Trà tọa lạc trên thị   trấn Tứ Hạ. Đài tưởng niệm này do Bà Điềm Phùng Thị thiết kế và giám   sát công việc thi công từ lúc khởi công. Bà coi đây là quà tặng của bà   đối với Huế.
Dưới đây là chùm ảnh Đài tưởng niệm Liệt sĩ huyện Hương Trà, do Nguyễn Xuân Diện chụp.








Một cán bộ tuyên giáo cho tôi biết, khi ấy công trình này được ông Nguyễn Khoa Điềm rất ủng hộ. Có ý kiến  một số cán bộ và nhân dân cho rằng công trình này khó hiểu đối với họ.  Nhưng may thay, các nhà tuyên giáo ở đây đã nói rằng, bà Điềm Phùng thị  là một nhà điêu khắc lỗi lạc, từng có 36 công trình tượng đài được dựng  trên khắp nước Pháp, bà lại có tấm lòng đối với quê hương và sự tri ân  đối với liệt sĩ quê nhà; vậy nay chúng ta chưa hiểu thì rồi chúng ta sẽ  hiểu. Và công trình này dựng lên là để muôn đời sau còn chiêm bái, vì  vậy nếu đời nay chưa hiểu hết thì đời sau, con cháu chúng ta sẽ hiểu  được. Đấy! Một ông tuyên giáo ở cái thị trấn bé teo mà ăn nói và hiểu  biết đến như thế đấy!
 Vậy là, ngoài các tác phẩm đang lưu trữ tại Nhà trưng bày Điềm Phùng thị  ở số 1 Phan Bội Châu, Huế thì Đài Liệt sĩ Hương Trà là tác phẩm lớn  nhất (về chiều cao, quy mô) mà Nữ sĩ Điềm Phùng Thị để lại cho hậu thế,  cho Thừa Thiên Huế! Và Hương Trà thật may mắn thay!

HN, ngày 7 tháng 4 năm 2011
Nguyễn Xuân Diện
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui