Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
7 Apr.2012
Nàng Dạ Minh Phượng
Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ

Đất ấy xưa thuộc làng Mỗ Tương, xa Thăng Long thành chỉ vài ba dặm, có nhà thế gia vọng tộc họ Nguyễn. Nhà cửa nguy nga tráng lệ, cất trên khu vườn um tùm cây trái, lại có dòng Nhuệ giang trong xanh lượn quanh.
Năm Tí, tháng Hai, giờ Hợi, chợt sấm sét như mùa Hạ, sáng rực cả góc trời. Sau lại mưa lớn, trôi hết dơ bẩn, gội rửa các con đường vào Thăng Long sạch quang. Trước đó ba ngày, tinh mơ có đôi chim đuôi dài, lông sắc rực rỡ bay vòng quanh làng Mỗ, hướng vào nhà nọ, kêu ba tiếng rồi bay mất. Có người bảo, đó là phượng hoàng, nữ hoàng của loài chim. Phu nhân Nguyễn đúng khắc có tiếng sét giật mình, trở dạ, sinh con gái. Người cha thấy thế, đặt tên con là Phượng, ban đầu định đệm Kim Dạ. Có khách trong thành Thăng Long về mừng, bảo, giờ Hợi mà có sấm sét là quang minh, bèn bảo đặt tên đứa trẻ Dạ Minh Phượng.  
Chỉ có một mụn gái, nên Dạ Minh Phượng được yêu chiều lắm. Đón thầy giỏi về dạy từ nhỏ. Phượng sáng dạ, cầm, kì, thi, họa hơn người. Thấm thoát mười ba tuổi lộ mày ngài, mắt phượng. Mười bốn đã như đóa hoa phù dung buổi sớm, tới mười sáu thì lộng lẫy kiêu sa. Da dẻ mịn trắng như phấn tuyết, má có sắc đào chín. Tóc óng tuyền đen thẳm, môi thắm. Khi nàng cười, sắc diện tươi tắn làm ai buồn mấy cũng tan biến. Lại trong hơi thở khi nàng ngủ có hương thơm kì lạ, vấn vít xung quanh. Một đồn mười, mười đồn trăm, Dạ Minh Phượng là người đẹp Thăng Long nức tiếng.

Bấy giờ trong đám tráng sĩ giang hồ ở Thăng Long có người lấy bút hiệu là Chung tử. Tử là người Tây Hồ, dòng dõi, trán cao rộng, mắt sáng, nói chuyện với ai luôn nhìn thẳng, như ánh lửa dội ra. Từ nhỏ văn võ toàn tài, rất có tiếng trong đám giang hồ. Nhưng không ra thi cử. Có người mang sự ấy ra hỏi? Tử đáp, bầy tôi quyền hơn cả vua là loạn. Kẻ sĩ có tư cách không thờ vua hèn, cũng chẳng nên theo lũ vô đạo, lấy quyền lực, mưu chước băm vằm chia chác cả non sông gấm vóc. Chung Tử có nhà cao cửa rộng của cha mẹ để lại, song thường sống trên mặt sóng Tây hồ cùng đám dân đánh cá, lấy vui trong tiêu du, yêu văn chương.

  

Một ngày thu, vua Lê mở hội hoa đăng. Tử đang nghỉ ở ven hồ, thấy ồn ào bèn bảo gia nhân chèo thuyền nan lẫn vào đám dân đánh cá.

  

Tháng Tám, vừa sập tối, sương ở đâu tràn lan, lãng đãng như mây khói trên mặt sóng. Cả trăm chiếc thuyền kết đèn hoa đủ màu từ Trấn Quốc rẽ đám sương khói hiện ra. Cùng thả ngàn ngọn nến trên các đóa hoa kết bằng giấy. Rồi trăng từ từ dâng lên, lỗng lẫy chiếu, làm mặt sóng nước lóng lánh như dát vàng, cảnh tượng thật thần tiên. Tử sai chèo thuyền nan sát đám thuyền lớn, chợt thấy một thiếu nữ có dáng hình thanh nhã, áo lụa bay phất phới trong gió, khuôn mặt khi tỏ lúc mờ, lẫn trong sương khói và ánh trăng phản chiếu từ mặt hồ. Càng tò mò lại gần. Thấy rõ người đẹp, mặt hoa da phấn lồ lộ dưới trăng, lập tức bị hút hồn, ngơ ngẩn. Tên gia nhân bảo, há chủ nhân không biết đấy là ai ư? Phải chăng là người đẹp Dạ Minh Phương? Chung Tử ướm hỏi. Tên gia nhân cúi đầu thưa: Dạ. Đúng! Thăng Long này có hai người đẹp nức tiếng, chả ai thua ai, thứ nhất là Ngọc Hân công chúa, sau là Dạ Minh Phượng. Người kia, ánh mắt sáng tươi chứ không lạnh, đẹp hơn cả ánh trăng, ắt là nàng. Chung Tử nghe vậy coi là duyên kì ngộ. Tình thơ rào rạt, ngặt dưới thuyền nan không sẵn bút giấy, bèn xé ngay đoạn tay áo, lấy mũi đoản kiếm trích máu, chấm ngón tay viết ngay bài thơ trên lụa trắng. Chữ Chung Tử thảo, thường khi vốn đẹp như phượng múa rồng bay, nay tuy chấm đầu ngón viết, trong trăng mầu máu tươi thắm nổi bật trên lụa trắng. Thơ viết Dạ Minh Phượng Thảo, tạm dịch như sau:

  

Trên hồ có trăng sáng

  

Ai ai cũng nhìn thấy

  

Trên thuyền có người đẹp

  

ánh mắt lay động cả Tây Hồ

  

Trăng ngàn thu chỉ có một

  

người đẹp đêm nay không có hai.

  

Đêm mới cho trăng kia đẹp mãi.

  

Ai cho người đẹp chẳng tàn phai?  

  

Đoạn giục gia nhân cặp gấp sát thuyền lớn, ở dưới kính cẩn thi lễ, hai tay đưa lên tấm lụa.

  

Ban đầu Minh Phượng giật mình, song định thần, thấy dung mạo người kia không tầm thường, lại chẳng có ý hại mình, bèn bảo thị nữ đón lấy. Đọc xong e lệ, tủm tỉm cười. Nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, tươi đẹp hơn bội phần. Chung Tử càng say đắm, thấy Phượng cười vậy, mừng khôn tả. Bấy giờ người cha từ mui thuyền chợt bước ra, Phượng vội dấu đoạn lụa vào tay áo. Thấy có chiếc thuyền nhỏ cặp sát, sinh nghi, bèn sai gia nhân lấy sào đẩy ra. Lại bắt con gái vào trong thuyền. Tử ngóng không thấy bóng giai nhân quay ra nữa, bèn bỏ dở lễ hội, quay thuyền về. Lòng không vui, như người vừa được của quý lại chợt mất. Gia nhân thấy thế nói, Thưa chủ nhân, tôi có thể giúp liên lạc với người đẹp. Công tử chớ buồn mà hại tới tâm can. Tử nhìn sóng bạc, rồi lại nhìn lên trăng sáng, đâu đâu cũng thấy mặt người đẹp. Đêm ấy lại mơ, bừng tỉnh giấc, viết thêm bài thơ Yêu xa, sớm sau sai gia nhân mang đi

  

***

  

Lại nói đất Thăng Long bấy giờ có Nguyễn Hữu Chỉnh là gia khách của Hoàng Ngũ Phúc. Miệng rộng, đầu to, mắt hổ nhưng luôn che dấu ánh mắt. Chỉnh gốc xứ Nghệ, văn võ nức tiếng từ nhỏ, đỗ Hương Cống khi 16 tuổi. Thường gọi là Cống Chỉnh. Điện đô vương Trịnh Cán một lần ghé nhà Phúc, thấy một người múa quyền ở vườn hoa sau nhà, khi như gió lướt, lúc chậm rãi rung chuyển tựa như ngàn cân chuyển dịch, biết là kẻ thượng thừa võ công, cho gọi lại. Chỉnh ứng đối lưu loát, tinh thông binh thư, Cán yêu lắm, bèn giao làm phụ chính, luôn giữ bên mình. Cán muốn Chỉnh làm tôi, gắn kết lâu dài, bèn có ý tìm vợ ở Thăng Long cho. Phúc mách, Nam Thăng Long có Dạ Minh Phượng là người đẹp. Cán nói với Chỉnh: “Quân tử xa nhà nên có ái thiếp ở gần“. Thực ra Chỉnh đã có vợ trong Nghệ, thấy nói Dạ Minh Phượng đẹp lắm, thuận ngay. Sau đêm Hội hoa đăng, chọn ngày tốt, Cán trước nhờ bà mối bắn tin, sau sai gia nhân mang lễ lớn tới nhà Phượng chạm ngõ. Ở Hội hoa đăng trên Tây Hồ, cha Phượng biết con gái đã tới tuổi gả chồng, nay thấy quân sĩ, gia khách nhà phủ chúa, vừa sợ vừa mừng, lại cho là ý trời, nhận lời ngay.  

  

Nói về Minh Phượng, từ khi được bài thơ trên mảnh lụa tay áo, nhìn nét chữ sắc máu tươi rói trên lụa trắng, cảm động lắm, cất kĩ, đêm ngày về mang ra đọc lại vài lần. Người hầu gái biết, không dám nói, chỉ tủm tỉm. Ngày Cán cho người tới chạm ngõ nhà Phượng, cũng là từ sớm Phượng lên kiệu vào Thăng Long dạo chơi. Tên gia nhân của Chung Tử thấy, cũng theo sát, nhưng không sao lại gần được vì hai bên kiệu kẻ hầu bao quanh. Chợt nhận ra mặt người hầu gái đêm nọ đứng bên Dạ Minh Phượng trên thuyền, đang theo sau kiệu, bèn sáp lại nói nhỏ: Phiền cô nương, có thơ của chủ tôi muốn nhờ. Có hậu tạ! Nói rồi vén tay áo lộ nén bạc với phong thơ của chủ mình. Lại nói, nếu sau có hồi âm, xin tới Thê Húc! Tiểu nữ thấy nét mặt gia nhân của Chung Tử khôi sáng, khẩn thiết, giọng nói chân thành, cũng cảm mến. Nói, tình cốt nhờ duyên, sao lo lót ô trọc thế! Trả lại nén  bạc, nguýt một cái rồi đưa tay nhận phong thơ, trở lại kiệu, lén đưa cho chủ. Dạ Minh Phượng lập tức mở đọc. Bài thơ ý tứ, câu chữ dung dị, nhưng rõ là khởi phát từ trái tim si mê, làm Phượng cảm động. Vốn nhậy cảm và thông minh, đoán người nhà Chung Tử còn quanh quất đâu đây, bèn tiện bút đề vài chữ trên khăn tay: Ai làm được cho người đẹp mãi? Chàng ư? Rồi trao cho lại cho tiểu nữ. Người hầu gái biết ý, cầm lấy đi ngay tới Thê Húc. Tên gia nhân sau khi trao được thư của Tử rồi, nay thấy người hầu gái kia quay lại, mừng lắm. Cứ nhìn trân trân người hầu nhỏ nhắn, khuôn mặt mỹ miều. Tiểu nữ thấy vậy, cười, giục, không đi phạt ngay hai nén bạc bây giờ. Gia nhân của Tử lắp bắp cảm ơn rồi nhẩy phắt lên ngựa phóng gấp về Bắc Tây Hồ.  

  

Dạ Minh Phượng giữa trưa mới quay kiệu về nhà. Cha thấy con về, cho gọi tới nói, đã nhận lời chạm ngõ của Cống Chỉnh. Dạ Minh Phượng bấm độn, bảo tì nữ: giờ này, Ngọ phá Tí. Thở dài. Song vốn hiếu thuận, không dám trái ý. Chỉ cúi đầu, chẳng nói chẳng rằng, lùi gót lui về phòng. Thường ngày, sớm sớm Phượng vẫn hay tới chùa gần đó tìm nơi an ngộ. Nhà sư trụ  trì chùa thấy Phượng sớm ấy nét mặt không tươi như mọi khi, vẻ u buồn khác thường. Hỏi chuyện, thương cảm, nói: “Tâm hồn vốn không xiềng xích nào cương tỏa, còn phần xác, nếu muốn, ta có thể dạy con phép giữ chân thân.“ Phượng mừng lắm, xin học ngay. Vốn thông tuệ khác người, sau ba ngày, đã có thể tự biến mình cứng đơ như cây gỗ, hồn khí thoát khỏi thân xác.

  

Mùa xuân năm sau, y hẹn, sau hai lễ lớn nữa, Chỉnh mang xe hoa tới rước Phượng, tưng bừng làm lễ cưới ở Thăng Long.

  

Đêm động phòng, Chỉnh sai chuẩn bị chăn gối sang trọng. Vào, thấy vợ mới cưới chờ sẵn,  đầy phòng hương sạ thơm khác thường, không nói gì, chồm lên như hổ đói chiếm đoạt thân xác Dạ Minh Phượng. Kì lạ sao, xoay xỏa thế nào mà Chỉnh vẫn không sao thỏa mãn như với người đàn bà khác. Chỉnh là anh hùng cái thế trong thiên hạ, đâu dễ thua ai. Tức lắm. Ban đầu  toan rút gươm chém phắt cho xong. Song bấy giờ trăng vằng vặc chợt chiếu qua cửa lớn, soi tỏ khuôn mặt mỹ nhân như đang thiêm thiếp mộng, bèn chùng tay kiếm.

  

Chỉnh vốn quyền biến, tư chất rất thông minh, tự hiểu, mình nghiệp lớn chưa đâu vào đâu, nay giết người cũng chỉ thỏa giận cuồng phút chốc, không lợi ích gì mà có khi lại bị tụi Phúc, Cán chê cười, coi thường không đáng mặt đàn ông. Lộ ra, lại thành chuyện đàm tiếu ở Hoàng Thành, chi bằng lấy cái tình lâu dài khuất phục, bèn thu áo đi ra.

  

***

  

Chung Tử sau khi nhận khăn có đề thư của mỹ nhân, giữ như báu vật bên mình, mấy lần gửi thư nữa qua mà chẳng có hồi âm. Ngày Chỉnh làm lễ rước dâu, gia nhân thấy, về kể với Chung Tử. Tử hỏi, khi ấy sắc diện nàng ra sao? Đáp: Vẫn như đóa hồng vừa mở cánh. Hương nguyên! Lại hỏi, sắc khí thế nào? Đáp: Ánh mắt chẳng nồng ấm như đêm nao gặp gỡ với chủ nhân trên Tây hồ. Buồn và lạnh! Tử không hỏi nữa, ngửa mặt lên trời xanh, giữa sóng Tây hồ than: Hết thảy trên đời này đều khát khao chiếm đoạt cái đẹp, ai biết sự đẹp sinh ra vì ai và, chỉ thực sự dành cho người tri kỉ! Cường quyền, tiền bạc mua được nhiều thứ, có khi chiếm được cả thiên hạ, song đâu dễ chiếm được lõi hồn mỹ nhân như Dạ Minh Phượng. Nói xong, hai bàn tay nắm hai bên thuyền làm cả chiếc thuyền kết từ cật tre già vót chuốt, trám chắc bằng sơn, chét khẳm bằng nhựa trám như muốn gãy tan.  

  

Tên gia nhân thấy thế bảo, chủ nhân tài cao, đâu kém gì Chỉnh! Bấy nay nhờ bè cánh mà Chỉnh có quyền uy, giờ lại chiếm mỹ nhân của Thăng Long này. Đàng trong nghe nói có Nguyễn Huệ, tài, trí, dũng hơn người, bậc minh chúa, nên tìm tới nhận làm vây cánh mà trả cái hận này. Chung Tử nghiêm mặt bảo, chính nhân lấy đại nghĩa làm trọng. Kẻ nào vì việc riêng, nhuộm máu kiếm đao, có thắng cũng đời đời tiếng xấu. Từ đấy, lại đêm ngày tiêu dao trên sóng Tây hồ, không lên bờ nữa. Tuy nhiên không sao gạt được bóng hình người đẹp. Nhất là những ngày rằm. Những khi ấy, bóng hình Dạ Minh Phượng cứ chờn vờn từ tâm tưởng mà bay trên sóng nước, mây bay, giữa sương khói Tây hồ. Rồi tràn ra thơ trên mặt giấy, trước sau hai tám bài nữa.  

  

Năm 1782, Nhâm Dần, Thăng Long có loạn. Trịnh Tông binh biến lật đổ Trịnh Cán. Chỉnh bấy giờ đang trấn ở Nghệ An, nghe tin, giật mình, tính: Trịnh Tông biết mình từng cậy nhờ, gắn kết với Cán nhiều năm nay, giậu đổ ắt bìm leo. Nghĩ, ba sáu chước, chỉ còn đường theo Tây Sơn. Trước khi đi, lén về Thăng Long, gặp Phượng, bảo: “Nàng thu xếp nhanh theo ta vào đàng trong! Nay mai mộng vương bá thành, ta đưa nàng làm chính cung!“ Phượng hỏi: “Chính cung có cho thiếp bất tử không?“ Chỉnh im lặng. Phượng lại nói: “Ba trăm nay, binh đao suốt. Nước Nam này như miếng thịt ngon mà chia năm sẻ bẩy. Trong Hoàng Thành thì hết chúa này tới chúa khác làm cái nạn kiêu binh. Đến ngọn cỏ cũng nát không mọc nổi, nói chi tới thân thiếp vốn mong manh. Nếu thực lòng yêu, xin chàng cùng thiếp tìm nơi xa quyền thế dơ bẩn. Còn cứ cuốn mãi theo vòng quyền lực, lúc mạnh thì có lúc suy, e khi ấy cũng không che chở cho thiếp nữa. Vả lại, mẹ thiếp giờ đang hấp hối, thiếp nỡ lòng biền biệt lúc này

  

Thực ra, Chỉnh yêu người đẹp lắm. Song hoàn cảnh bấy giờ, quân tướng Trịnh Tông như tảng đá lơ lửng trên đầu Chỉnh. Chỉnh tựa như hổ đói trước miệng có lợn lớn, rắn mang bành trước mũi có ếch tươi, chuột béo, tiếc nuối vô cùng vẫn phải bỏ đi. Nghe Phượng nói vậy, nghiến răng, phi mạnh mũi kiếm xuống đất mà bảo, sau đừng ân hận! Đoạn, một mình một ngựa đêm ngày theo đường hiểm, nhằm hướng Nam đi.

  

Nhạc thấy Chỉnh tới, như được ngọc quý. Nhạc có  con rể là Vũ Văn Nhậm, vốn là dân lục lâm thảo khấu, võ nghệ tuyệt đỉnh, không ưa Chỉnh, nói: Chỉnh đa mưu như thần, quỷ quyệt không lường, kẻ thay chủ dễ như thay áo, thì dung Chỉnh như dưỡng ong tay áo. Nên giết đi, một là trừ họa sau này, hai là có thủ cấp Chỉnh để hòa hiếu với Bắc Hà. Thư nhàn mặt Bắc khi này, mới đủ sức mạnh dành cả phương Nam. Nhạc nghe, lưỡng lự. Huệ cười bảo: “Chính có lần nói rằng, nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đi rồi trong nước trống không! Mất Chỉnh, phía Bắc còn lo gì mà phòng bị? Với lại, trong lũ ta có ai như Chỉnh, thuộc Bắc Hà như bàn tay mình? Nay mai dùng, như mũi giáo bén, đâm đâu thủng đấy. Khi việc xong rồi, Chỉnh có giỏi cũng chỉ như con chó săn đầu đàn, há sợ chi? Nay cứ giữ lấy, sau dùng.“ Chuyện tới tai Chỉnh. Không nói gì, cười nhạt, bàn tay nắm lại bóp vụn chén tống sành  trong tay. Rồi vẫn cắn răng phục vụ anh em Nguyễn Nhạc.

  

Huệ đúng là kẻ nhìn xa rộng hơn lũ Nhạc và Nhậm! năm 1786, nhà Tây Sơn thắng lớn quân Xiêm ở đằng trong, quân sĩ khí thế như triều dâng. Chính liền hiến kế sách: “Bắc Hà bấy nay như nhà nát. Dột từ nóc dột xuống, mục từ cột mục lên. Bọn vẫn xưng là kẻ sĩ đa phần hẻn nhát, tham lợi nhỏ, chỉ ngày đêm kèn cựa, xem lạc thú như chó chực cứt; song lại kiêu ngạo, hay tự ái, khi bị tổn thương thì liều chết như chó dại. Cứ đánh ào ra Bắc Hà không lí do, lũ ấy tụ thành bầy đàn, cũng nguy hiểm. Muốn lấy Thăng Long, trương cao cờ nghĩa Phò Lê diệt Trịnh, thì ít hao binh tổn tướng.” Huệ mừng, sai Chỉnh làm tướng tiên phong.

  

Nhờ thông thổ, biết từng sở đoản sở trường của từng tướng sĩ Bắc Hà, nên Chỉnh đánh đâu được đấy. Huệ phút chốc chiếm Thăng Long như lấy khăn trong túi. Lại sau đó, mai mối cho Nguyễn Huệ kết duyên cùng Ngọc Hân công chúa. Huệ nhờ thế thu phục kẻ sĩ, ổn định Bắc Hà. Công tích vậy, làm thanh thế Chỉnh hơn xưa bội phần.

  

Nguyễn Huệ thắng nhanh ở Bắc, lại có uy thế với tôn thất nhà Lê, tin tiệp báo về Huế. Nhạc giật mình, ra Bắc ngay, bắt Huệ theo về đàng trong cho dễ bề khống chế. Huệ đành giã từ đất Bắc, bất ngờ kéo quân đi, mang theo công chúa Ngọc Hân lui về Thuận Hóa, để đắt Bắc cho Chỉnh.  

  

Bên Huệ, Chỉnh bấy nay như chim bằng bị trói cánh, nay một mình một cõi, tha hồ tung tác. Nói với tâm phúc rằng, cốt nhục còn nghi ngờ nhau thế, thì phận tôi đòi mong chi sự chân thành của anh em Nhạc, Huệ. Nói xong ngửa mặt lên trời khằng khặc cười.  

  

Năm Trịnh Bồng làm loạn định phế Lê Chiêu Thống. Có người cấp báo, Chỉnh kéo quân về Hoàng Thành phù Thống. Phút chốc loạn quân tan tác. Giết cả nhà Trịnh Bồng. Lại liên tục truy lùng quét sạch bọn Nhưỡng, Tế, Cơ, bầy tôi cũ của nhà Trịnh. Máu đỏ Thăng Long. Chỉnh mặc cho Thống trả hận Lê với Trịnh bấy nay, đốt sạch cung thất nhà Trịnh. Hoàng Thành chập chờn trong lửa đỏ, khói đen ba bốn ngày chưa tắt.

  

Chỉnh đi tới đâu, gươm trần đầy máu. Vua tôi Lê Chiêu Thống sợ Chỉnh như cọp dữ, dăm dắp. Chỉnh đắc ý, coi Thống như trẻ ranh. Chỉnh sai quân đắp lũy thêm cao ở sông Thanh Quyết, tích lương thảo, chiêu mộ dũng sĩ, luyện tập binh lính, rõ ý tứ cát cứ từ Ninh Bình trở ra. Có người can: "Nhạc thì không kể! Nhưng Nguyễn Huệ thực quả không thường! Tóc quăn, da sần, mắt như chớp sáng, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm có thừa(1) làm binh sĩ dưới trướng ai ai cũng khâm phục, trung thành, nên ngàn quân Huệ bằng mười vạn quân kẻ khác. Người như thế, tướng quân không biết ư?" Chỉnh vỗ đầu, nheo mắt hổ, không nói gì, sai người mang thư tới Hoàng Thành giục Lê Chiêu Thống cử sứ sang Trung Hoa dâng biểu nhận làm chư hầu…

  

Một ngày Thu. Trời Thăng Long xanh văn vắt. Chỉnh uống rượu, hạ bút đề bài phú dài, có đoạn:

  

Chước bảo thân, oai dấu Hoàng công

  

miền Bắc Hà lại tìm nơi ấp Phượng...(2)

  

Khi ấy, bỗng nhớ Dạ Minh Phượng nôn nao. Sai đưa xa giá, lọng vàng, kiệu tía về Mỗ Tương. Đất Bắc sau bao ngày loạn lạc, nhà nông có bao tráng đinh đều bị xung vào lính. Ruộng vườn xanh tốt xưa, phần nhiều cỏ dại, cây xanh ngún lên như gò hoang.Về Mỗ Tương, chẳng còn nhận ra đâu là nhà họ Nguyễn thế gia vọng tộc xưa bên Nhuệ giang. Hỏi ai, cũng không ai biết mỹ nhân ở đâu.

  

Thực ra, Dạ Minh Phượng ở cách nhà cũ không xa. Năm Trịnh Bồng làm loạn, cướp phách nổi lên như ong. Một ngày, chẳng biết quan quân hay cướp tràn vào gia thất nhà Nguyễn, cướp sạch châu báu, những đồ có giá trị, rồi châm lửa đốt. Có kẻ nói rằng, chân tay cũ của nhà Trịnh biết Phượng là vợ của Chỉnh nên giả cướp làm vậy. Cũng kẻ bảo, thời loạn, cướp và quan như nhau cả! May mắn sao, đêm ấy Phượng làm lễ siêu thoát cho cha vừa mới mất nên thoát chết. Ngày Chỉnh mang kiệu võng về, nhà sư và Phượng đều trông thấy.

  

Dạ Minh Phượng nói, thiên hạ sắp vào tay Chỉnh rồi chăng? Nhà sư bảo, y phục phải xứng kì đức! Chỉnh chỉ là tướng Tây Sơn, nay dùng đồ tượng của bậc vua chúa, người có đức sao vậy? Không có đức, chỉ có uy, tham danh vọng như thế, thì bình thiên hạ được ư? Thiện tai, thiện tai! Dạ Minh Phượng không nói gì, quay lại dưới tượng Phật tâm thành niệm.

  

Mọi chuyện Bắc Hà tới tai Nguyễn Huệ. Huệ nói: Đã tới lúc phải giết chó rồi! Năm Đinh Mùi, tháng 11, gió Bắc hanh khô làm ngọn cỏ cũng chết. Huệ sai bọn Nhậm, Sở lấy vạn quân tiến ra Bắc. Nhậm thạo dùng thủy quân, tới chiến tuyến Thanh Quyết, nửa đêm chọn hai trăm người bơi lặn giỏi bí mật lấy hết thuyền to, pháo lớn của Chỉnh, tựa đà nước kéo sang bờ Nam. Sớm sau tự thân đốc quân quyết san phẳng chiến tuyến của Chỉnh. Chỉnh mất thuyền, pháo, ra sức chống đỡ mà không được. Chạy về Thăng Long, mang Thống ngược lên phía Bắc. Nhậm bấy nay rất ghét Chỉnh. Thường nói, một rừng không có hai hổ, truy kích đến cùng. Thực ra Chỉnh không thua kém gì Nhậm, mưu cơ biến hóa không lường, có phần hơn Nhậm, song bấy giờ Bắc Hà như nhà rỗng, như cái xe sắp đổ, bầy tôi giúp Chỉnh cũng là lũ vô tích sự, nếu so với  tụi Ngô Văn Sở bấy nay vốn quen trận mạc, nên Chỉnh có tài giỏi tới mấy, cũng như chim bằng gãy cánh, chạy miết. Cũng là số trời đã định! Chỉnh có con ngựa chạy cả ngàn dặm không mỏi, bữa ấy tự nhiên tới Bắc Giang thì khập khiễng, như què một chân. Chỉnh cầm cự một hồi cho Thống chạy thoát. Nhậm thúc ngàn kị binh vây quanh, quăng lưới bắt sống được cả người lẫn ngựa. Đem về Thăng Long sai buộc chân tay vào tứ mã xé xác. Nói: "Phơi thây thằng giặc Chỉnh cho chó tha, quạ rỉa." Lại sai quân sĩ canh ngặt, không cho ai lấy xác để “Bắc Hà nhìn vào mà kinh". Chỉnh toàn thân bị tứ mã kéo căng hết cỡ, sắp bị phanh ra bốn mảnh rồi, đau đớn tới khôn cùng, vẫn không kêu rên một tiếng. Lính quất giục ngựa kéo liên hồi. Phựt, xác Chỉnh xé ra, đứt làm bốn mảnh, máu phụt cao vài thước. Thủ cấp văng ra phía Bắc. Mắt hổ trợn ngược phun máu thành tia. Râu ria, tóc tai dựng đứng, miệng vẫn lẩm bẩm chửi rủa Nhậm. Nửa đêm ấy, bỗng quạ ở đâu bay về nhiều lắm. Có bầy quạ trắng kết thành vòng tròn lơ lửng trên Hoàng Thành. Tiếng quạ kêu quà.. quà...ai oán mấy ngày!

  

Mưa dầm, gió lạnh, rồi chợt nắng dữ một ngày, khiến xác thân Chỉnh thối rữa, bốc mùi xú uế ngập cả phố phường Thăng Long. Hầu gái của Phượng ghé qua, từ bên ngoài vẫn nhìn rõ ruồi nhặng bu từng đám đen đặc, vòng về báo với chủ.  

  

Dạ Minh Phượng nghe hầu gái kể lại, dầu không yêu Chỉnh, vẫn cả đêm trằn trọc. Than rằng: “Xấu xa mấy cũng là chồng ta, nhất là người ái mộ ta. Bấy nay ai hiểu Chỉnh? Ngay cả ta cũng không biết rõ! Có phải nuông thú đâu mà làm ngơ khi thân xác đau khổ như vậy, huống chi cái hình thái Chỉnh khi ấy, kiêu hùng thế, song hẳn tâm hồn nát tan, đau đớn lắm, chết còn ngậm hận? Tiếc là liễu yếu đào thơ. Giá như biết được Chung Tử ở đâu?“ Đứa hầu gái nghe thấy, bấy giờ quỳ xuống nói, việc này cần gì tới Chung Tử! Dạ Minh Phượng hỏi, ai có thể giúp ta? Kẻ kia bịn rịn, e ấp, thưa: “Trưa nay chàng tới.“ Nói xong lấy ngựa đi gấp về Bắc Tây Hồ. Thị nữ về, Dạ Minh Phượng trông thấy người đàn ông đi sau giật mình, nhận ra ngay tâm phúc của Chung tử. Kìm lòng lại, hỏi han qua loa về Chung Tử vài câu, bàn ngay về việc mang xác thân Chỉnh về. Việc thành, hỏa táng, sai chôn cất bí mật ở đâu không ai rõ.  

  

Sớm sau thấy mất xác Chỉnh, Nhậm bực lắm. Muốn trừng phạt toán quân canh gác xác Chỉnh, có người rỉ tai: “Quan tâm tới mấy mảnh thịt hôi thối kia, phải là cốt nhục hay môi răng! Chỉnh không có ai ruột thịt ở Thăng Long, thương xót Y, chỉ có thể là người vợ cũ.“ Hỏi, ai? Đáp: Dạ Minh Phượng. Nhậm lại hỏi, đẹp không? Đáp, bẩm, Phượng là thứ đẹp nhất trong kì vật nên chiếm ở Thăng Long. Xưa Chỉnh chiếm mà không dùng được. Nay tướng quân  nên  bắt tụi kia lấy công chuộc tội, phải nhọc công truy tìm bằng được. Nhậm nghe vậy, thuận ngay. Ngay đó, sai chỉnh đốn Đại La, đắp thành cao lên mấy thước. Đúc ấn tín như vương chúa một cõi, vơ vét lương thảo khắp nơi. Có kẻ nói, Nhậm lại theo vết xe đổ của Chỉnh rồi.  

  

Mùa Hè Mậu Thân, 1788, mấy tên quân truy tìm Dạ Minh Phượng lùng mãi mà Phượng vẫn như bóng chim bay trên trời, vệt cá bơi dưới nước. Một tên trong bọn nghĩ tới nghĩ lui, đóng giả hành khất, lê la khắp hang cùng ngõ hẻm. Một ngày, thấy một tiểu nữ xinh đẹp, dáng dấp sang trọng, từ Thăng Long đi về hướng Tây, bèn theo chân, phát hiện ra ngôi chùa nơi Minh Phượng tá túc. Nhậm mừng lắm, sai quân vây chùa bốn mặt, gọi cửa. Nhà sư trụ trì ra, thấy binh sĩ đầy sát khí, bèn đóng chặt cửa chùa, giục Phượng trốn ngay. Dạ Minh Phượng lúng túng chạy ra sau chùa. Hầu gái thấy nguy cấp, biết khó thoát, bèn lấy châm trích máu viết ngay vào lòng bàn tay một hầu gái nhỏ khác. Bé gái kia hiểu ý, ra sau chùa, luồn qua lỗ chó chui, thoát, đi miết tới Tây Hồ. Quân sĩ phá cửa xông vào, cứ thả sức chém, giết tất cả sư sãi, bắt được hầu gái và Phượng. Giải hai người ngay về trại Nhậm. Minh Phượng vào, vừa ngẩng mặt lên, Nhậm đang trên ghế vừa uống rượu xong, sắc khí tươi hồng, bỗng lạnh toát. Người đẹp Thăng Long như có sức mạnh huyền bí, biến Nhậm như hóa thành tượng đá, mắt trân trân, không chớp. Có tên tâm phúc của Nhậm thấy thế, vội lấy quạt đập vào vai. Nhậm tỉnh phắt. Võ Văn Nhậm vốn là lục lâm thảo khấu đàng trong, võ công cao siêu, thu ngay lại thần khí. Bụng nghĩ, nghe thiên hạ đồn Dạ Minh Phượng người đẹp của Thăng Long quả không sai. Lấy chồng vài năm vẫn giữ được trinh tiết là chuyện lạ! Nhậm bấy nay như con hổ thả hoang, lại bị cái bí ẩn làm cho càng tò mò, thèm khát. Cười cười, cợt cợt, tự xuống cởi trói, sai tắm gội sạch sẽ, đem ra nhà sau trại. Không giết vội! Để đấy! Cũng đêm ấy, ở Tây hồ, Chung Tử chợt tỉnh giấc, thấy lòng dạ nôn nao. Từ thuyền nghe lên bờ rõ tiếng người rầm rì, bèn cầm kiếm ra khỏi thuyền. Nhìn kĩ, hóa ra tên gia nhân của mình đang bên một bé gái chưa tường mặt bao giờ. Gia nhân thấy Chung Tử xuất hiện, lăm lăm kiếm trong tay, sợ hãi quỳ xuống. Chuyện vỡ lẽ, hóa ra bấy nay có mối tình giữa tâm phúc của mình với hầu yêu của Dạ Minh Phượng. Bắt bé gái kia mở lòng tay, thấy có chữ Cứu viết bằng máu. Ngần ngừ chưa nghĩ ra kế sách nào. Tên gia nhân bảo, xin cho kẻ hèn này đi gấp, kẻo muộn! Chủ nhân cứ ở nhà, xin bảo trọng. Chung Tử lấy làm xấu hổ! Lấy khăn cũ của Phượng xưa tặng, buộc cô tay, xách kiếm đòi đi ngay. Cũng không đi ngựa, hai thầy trò lấy thêm vài người gan dạ trong đám bạn đánh cá và ba cái thuyền nan, xuôi theo lạch bơi thẳng vào Thăng Long. Bấy giờ Thăng Long sông ngòi chằng chịt tận Cầu Gỗ, Bờ Hồ. Tới cách trại Nhậm chừng nửa dặm, để thuyền lại, lên bờ. Cũng không khó lắm, Chung Tử và tên gia nhân giết lính canh, đem Phượng và người hầu gái nhằm hướng thuyền chờ sẵn. Có đám lính đi tuần đêm của Nhậm phát hiện đuổi theo, bật hồng, đốt đuốc sáng trưng. Tới bờ lạch nọ, quân sĩ Nhậm cận sát bọn ChưngTử. Tử hai tay hai kiếm chém phứa được dăm tên đi đầu, giục tên gia nhân đem Phượng và thị nữ xuống thuyền gấp. Trên bờ đám binh sĩ thấy một mình Chung Tử oai khí lẫm liệt, chỉ thấy một vòng sáng lòa, không hề thấy đường kiếm đâu nữa, biết là gặp anh hùng, sợ hãi dừng lại. Bảo nhau đồng loạt bắn tên xuống thuyền như mưa bấc. Tử vừa lùi, vừa lấy thân che cho người đẹp, song kiếm gạt tên rơi lả tả xuống đầy quanh Phượng. Mọi người lên thuyền cả rồi, Tử mới nhẩy theo, giục chèo gấp! Không may một mũi tên trúng vai. Tử mất đà, rơi ngay xuống sông, thuyền nan cứ theo đà vun vút lao đi. Lính bâu xuống, trói nghiến, mang Chung Tử về trại Nhậm
Mậu Thân, tháng 6, đêm ấy, trăng vằng vặc chiếu trắng cả Thăng Long. Nhậm không hề biết Nguyễn Huệ nghe bọn Sở, Lân mật báo việc Nhậm choán quyền bấy nay, đã lấy ngàn quân khinh kị, không kể đêm ngày bí mật áp sát Hoàng Thành.
Đám binh sĩ giải Chung Tử về bẩm Nhậm. Biết có biến, nửa đêm không kịp mặc áo dài, giận dữ cầm gươm, ra xem kẻ nào cả gan vào giải thoát người đẹp. Bấy giờ mũi tên bắn ngập sâu vào vai, máu ra ướt đỏ áo lụa, Chung Tử vẫn không hề tỏ ra đau đớn, ngẩng cao mặt nhìn kẻ vừa giết Chỉnh và bắt Dạ Minh Phượng. Nhậm quát, xem gan mày to thế nào mà dám vào trại ta. Chung tử nhoẻn miệng cười, không sợ hãi đáp trả: “Giết Chỉnh là việc của cầm thú tranh nhau làm tôi tớ, chỉ có ngươi mới tàn nhẫn như thế; còn cứu Dạ Minh Phượng, người đẹp của Thăng Long này, thì nếu không có ta, sẽ có cả vạn dũng sĩ trời Bắc Hà khác. Chỉ có kẻ mù lòa mới tưởng Bắc Hà cạn kiệt anh hùng! Nhậm sấn tới kề gươm sắc vào cổ Tử: Mày không sợ chết ư? Tử thản nhiên: Chết thì chẳng ai muốn, song trên đời này có hai cái chết chả sợ. Chết cho mỹ nhân đệ nhất Thăng Long là cái chết cũng đáng giá! Sợ gì! Nhậm điên lắm, muốn cứa phăng cổ kẻ phá đám kia, nhưng nghĩ tới việc Dạ Minh Phượng đã được cứu thoát, bèn nói: Mày biết Chỉnh chết thế nào rồi, vậy cho mày sống thêm ít nữa, chờ ta bắt được Phượng về, để nhìn mày bị tùng xẻo ra sao. Nói rồi sai ném Tử vào hầm tối.
Lại nói ngàn quân kị của Nguyễn Huệ, ngậm tăm đi mấy đêm ngày tới Thăng Long, liền bao vây nhà Nhậm tứ bề, đồng loạt bật pháo hiệu soi sáng như ban ngày. Nhậm còn thao thức, giật mình bật dậy, đã thấy chục võ sĩ từ đâu ào tới trói nghiến. Cũng là lúc gà gáy báo canh Năm. Sớm tinh mơ, Nhậm đã bị giải tới sảnh lớn. Nguyễn Huệ oai phong lẫm liệt tọa trên cao, hai bên là các bọn Ngô Văn Sở, Trần Quang Diệu, Hoàng Văn Lợi, Ngô Thời Nhậm, Bùi Thị Xuân đứng hầu. Nhậm một mực kêu oan, xin Huệ tha chết. Ngô Văn Sở sang sảng kể tội Nhậm. Bọn trí giả sở tại chầu dưới hai bên thềm, xưa gặp Nhậm như ếch trông thấy rắn hổ mang chúa, bấy giờ lại nhao nhao bới tội. Huệ chau mày, lắng nghe tất cả, chưa định luận gì, lại thấy tiểu tướng tuần cảnh giải vào một người đàn bà dáng dấp rất phong nhã cùng vài gia nhân theo sau. Hỏi, tâu rằng, đám này là dân sở tại, quỳ từ sớm tới giờ bên ngoài, khẩn thiết xin gặp Bắc Bình Vương. Bấy giờ Ngô Văn Sở mới ghé tai Huệ mách, đây là người đẹp Thăng Long vừa thoát khỏi tay Võ Văn Nhậm. Nguyễn Huệ nhìn xuống, thấy rõ người đàn bà khuôn nhan, sắc diện tươi tốt như hoa cỏ mùa xuân, lỗng lẫy như Hằng Nga giáng thế. Lại thấy cả hai hàng nước mắt chảy dài mà vẫn không che hết sắc đào trên đôi má. Giật mình. Động lòng. Tự bấm lòng huyệt ngón cái, hỏi có việc gì oan ức? Bấy giờ Dạ Minh Phượng tay ngà gạt lệ, giọng nhẹ nhàng kể, nói việc mình trở thành vợ Chỉnh ra sao và, việc bị Nhậm bắt muốn hại mình thế nào. Lại nói rõ, trong nhà Nhậm nay có giam Chung Tử “là dũng sĩ có thừa, vừa liều mạng giải thoát cho thân thiếp“ Đoán chừng Huệ lắng nghe, Dạ Minh Phượng bình tĩnh hơn, lau lệ khô, đứng thẳng, dõng dạc nói: “Kẻ tiểu nữ hèn mọn vô dụng này xin chết thay cho Chung Tử, dầu vạc dầu, hay phanh thây cũng không dám oán thán, chỉ cần Chung Tử được sống.“ Bọn thị nữ, gia nhân theo sau cũng dập đầu xin chết thay Tử. Nguyễn Huệ nghe vậy tò mò, nói với bọn tùy tướng hai bên: Tưởng Bắc Hà, sau Chỉnh, cạn kiệt anh hào. Nữ nhi đẹp nhường kia còn không tiếc mạng sống, thì Thăng Long này không thể xem thường. Nói rồi, truyền lệnh vào ngục tối đưa Chung Tử lên xem mặt. Chung Tử trên vai vẫn còn mũi tên, nửa áo lụa bấy giờ nhuộm đỏ tươi sắc máu, nhưng bước chân vẫn ngay ngắn. Kính cẩn thi lễ. Huệ thấy vậy khen, kẻ này xứng đáng được mỹ nhân liều thân. Lại truyền lôi Nhậm ra sau nhà, sai võ sĩ Hoàng Văn Lợi: “Xẻo ngay dái thằng Nhậm, làm gương cho những kẻ khác!“  Lợi kéo Nhậm ra vườn sau, rút đoản kiếm cắt phăng. Vừa ném ra cỏ, lập tức có con chó vằn lớn, như con hổ ở đâu lao tới đớp lấy dương vật của Nhậm nhai sống. Lại há miệng đỏ như chậu máu, khoe răng chua chúa như răng hổ hà vào mặt Nhậm một cái. Nhậm đau đớn lắm, vẫn nom rõ, kinh sợ than: Chỉnh đấy ư? Rồi gục xuống chết ngay.
Việc Huệ tha Chung Tử, có kẻ là sĩ phu Bắc Hà theo hầu Huệ thưa: “Tha cho Tử, e là khuyến khích tụi Bắc Hà chống lại công quyền. Dầu Nhậm có tàn bạo, xấu xa vẫn là quan sở của Tây Sơn bao quản Thăng Long“.  Huệ mắng rằng, Chung Tử phẩm giá, khí chất hơn người. Hỏi kẻ sĩ Bắc Hà, mấy ai dám bảo vệ cái đẹp. Vua chúa vừa dơ gươm dọa tụi ngươi đã sợ hãi, run rảy; nói, viết rặt lời phụ họa, ai nói lời gan ruột? Lại nói với Sở, cho người tới Tây Hồ tìm Chung Tử mà cất nhắc sử dụng.

Chung Tử thấy Sở đến, lên bờ thi lễ rất kính cẩn, sai người bầy tiệc lớn trên hồ, rượu ngon, cá tươi, sâm cầm béo, khoản đãi rất hậu, song cáo lỗi, từ chối ra làm phó cho Sở. Có kẻ tiếc cho Tử không biết cơ hội ngàn năm, bảo, xưa ông nói, không theo vua hèn, tôi phản, nay Nguyễn Huệ Bắc Bình Phương vẫn chưa xứng cho ông thờ ư? Chung Tử bảo, chưa có công tích gì với non sông, mới thấy người dứ chút lợi quyền, ham hố nhận ngay, cũng là thứ chả ra gì, sau Vô tăm tích mà thôi.

  

***

  

Năm Mậu Thân, sau khi trừng phạt Nhậm, Huệ trở về miền Trung, giao Thăng Long cho tụi Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhậm. Mùa đông năm ấy, lấy cớ giúp Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị mang 20 vạn quân vượt ải Bắc. Bọn Sở, Nhậm thấy quân Nghị đông như kiến cỏ, lui về tuyến Thanh Quyết chờ Nguyễn Huệ.  Quân Thanh tiến vào nước Nam như vào nơi không người, chiếm Thăng Long. Nghị vốn cẩn trọng. Tiền quân xuống tận Hà Nam, nhưng đại bản doanh Nghị vẫn ở Thăng Long. Cũng biết tiếng Huệ dùng binh như thần nên dừng lại ở đó, không vào sâu đất chết, lại xây dựng một hệ thống đồn trại kiên cố bảo vệ trại chính của mình. Tại tiền đồn Ngọc Hồi, danh tướng nhà Thanh là Đề đốc Hứa Thế Hanh, được Nghị tin cậy giao trấn giữ. Hanh giỏi cả công, thủ thành trì, dùng pháo lớn khá hay, ngày đêm bắt lính không mệt mỏi tuần canh, lại sai đào hào sâu thêm, cắm chông dầy đặc. Ngọc Hồi đúng như pháo đài, lá chắn chắc chắn cho Nam Thăng Long. Hanh hàng ngày rung đùi, uống rượu ngon, phao tin, chờ Huệ tới nghiền nát thành cám bã.

  

Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh tiến vào, biết thời cơ đã tới, lập tức kể tội tụi Thống, xưng hoàng đế. Quang Trung - Nguyễn Huệ lễ trời đất ở Phú Xuân. Chia quân ra 5 đạo, đêm ngay tức tốc hành quân ra Bắc, thề quét sạch bóng quân Tôn Sĩ Nghị. Tới Tam Điệp, Quang Trung hội quân với bọn Sở, Nhậm. Bấy giờ quân sĩ cũng mỏi mệt, Huệ cho ăn Tết trước, lại hẹn binh sĩ ăn Tết lại ở Thăng Long, song thực ra cũng chưa biết đánh đâu trước.

  

Năm ấy sương mù dày đặc. Sớm sớm Quang Trung ra bờ sông Hồng, thấy tự đâu xuôi về mấy trăm chiếc thuyền nan. Cờ hiệu phấp phới. Sai bắn pháo hiệu hỏi quân sĩ ở đâu! Thuyền nan đi đầu có cờ hiệu rẽ sương đi vào. Thấy trước mũi thuyền có tráng sĩ, bên cạnh là một kiều nữ áo hồng phấp phới. Có người nhận ra bảo, đính thị là Chung Tử tráng sĩ và người đẹp Dạ Minh Phượng. Trời hừng tỏ, mặt sông tan sương, nhận rõ đám thuyền sau rặt bọn áo nâu quần vải. Khí giới toàn câu liêm, tầm vông mà đội ngũ rất tề chỉnh. Quang Trung xuất thân từ sông nước, rất tường thủy binh, thấy thế biết là có tướng tài chỉ huy, khen. Cho vời tới.

  

Chung Tử lên bờ, đi sau là Dạ Minh Phượng với 28 kì nữ, áo quần diễm lệ, sắc nước hương trời, đâu thua kém gì đám cung phi của các bậc vương giả. Hỏi: Xưa ở Thăng Long, ta cho Sở tới mời, ngươi từ chối, nay có duyên chăng? Tử quỳ đáp: “Xưa với Thăng Long, hoàng đế mới chỉ là khách. Chủ và khách không là nước lửa, nhưng chủ thì không theo khách được. Nay quân Thanh tới rày xéo Thăng Long, Hoàng Đế không còn là khách của Thăng Long nữa. Chung Tử này là thịt máu của Thăng Long, xin tới  đây làm tôi cho minh lý. Nguyện mang cái đáng chết thứ hai để giúp Hoàng Đế một phen. Có cả đây Dạ Minh Phượng, cũng là kì nữ của Thăng Long, xin đừng nghi ngờ lòng thành này.“ Bấy giờ Dạ Minh Phượng tiến lên trước, dâng áo bào tía, thêu rất hoa mỹ hai rồng vàng hai bên, nói là của làng thợ bậc nhất kinh kỳ, ngày đêm vất vả mà làm. Đám áo vải cũng khuân từ thuyền lên, lương thực, gà lợn, nhiều như núi đặt trước hoàng đế. Quang Trung cả mừng, nhận, cùng nhau thu binh về trại. Quân sĩ Quang Trung đang ăn Tết trước, song vẫn mỏi mệt sau hành binh tức tốc. Dạ Minh Phương phất tay ra hiệu, 28 kì nữ Thăng Long xênh nhạc vang lừng, lướt ra trên bãi cỏ xanh như bầy tiên nữ xuống hạ giới, cùng nhau hát múa một điệu xứ Bắc rất lạ, tay lại có trầu xanh, cau têm cách phượng dâng mời, làm quân sĩ chợt tan hết mệt nhọc, tiếng cười ròn tan, trong suốt. Sắp vào trận mà ai ai cũng tưởng như đi hội.

  

Nguyễn Huệ bấy giờ mới quyết đánh Ngọc Hồi trước. Nhổ cái đinh cho cửa rộng mở mà vào Thăng Long. Hứa Thế Hanh phòng bị sẵn, nhưng không biết Quang Trung đã áp sát.

  

Nhìn vào Ngọc Hồi quân sĩ tề chỉnh, gươm súng sáng lòa, chông dầy, thành cao. Quang Trung thừa biết Hứa Thế Hanh là bậc đại tướng nhà Thanh. Lại ở thế mèo rình chuột, phép binh, kẻ trong đồn lũy một chọi trăm người. Bèn điều trăm thớt voi tới, chọn trong quân lấy ngàn dũng sĩ gan dạ, dao ngắn dắt lưng. Quyết chiến đêm ấy. Chu Tử xin làm tướng đội binh quyết tử, lại thưa với Nguyễn Huệ rằng: Ta có ngàn người quyết thắng là thắng giặc 99 phần rồi. Nhưng Hanh trong lũy cao, hào sâu, tên súng dầy đặc, nếu không dùng mưu thì thiếu cái phần lẻ còn lại, mà bảo đảm toàn thắng trận này. Xin Hoàng đế hoãn tử chiến chậm một vài ngày. Thần biết, hữu sông Hồng là đầm Dạ Trạch, có nhiều lau sậy, cho quân sang lấy kết lại với rơm mà làm lá chắn cho mạng sống ngàn tráng sĩ phá thành. Nguyễn Huệ cả mừng. Chung Tử sai ngàn chiếc thuyền nan Tây Hồ chở binh sĩ sang mạn hữu sông, len lỏi vào đầm, một ngày lấy đủ lấy cơ man nào sậy, cho đan làm xương, kết rơm và bùn đất Hồng Hà. Cứ 10 dũng sĩ một lá chắn nâng cao như tường cơ động. Lại sai tụi đánh cá cùng nông phu quanh vùng, bất kể già trẻ, gái trai, đốt lửa, bắn pháo, hò la bên ngoài Ngọc Hồi, như có vạn vạn binh sĩ rùng rùng chuyển quanh làm Hanh không biết thế nào mà lần. Nguyễn Huệ chờ có thế, sớm ấy đốt pháo lệnh, tự thân cưỡi voi cùng 1000 tay dao và trăm thớt voi làm thành mũi nhọn thọc sâu. Quân Thanh bắn tên ra như mưa bấc đều mắc vào khiên lớn của Chung Tử. Hanh là đại tướng không nao núng, cho bắn súng Điểu thương. Lại thấy nhân có gió Bắc, dùng ống phun khói lửa ra. Khói đen tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam phú chốc sắp rối loạn.(3)

  

Tình thế bất lợi, Dạ Minh Phượng bên ngoài trên đài cao, nhìn thấy. Hô lớn, ta là Dạ Minh phương Nam há sợ gió Bắc. Phất tay áo, kì lạ thay, lập tức có con gió Nam cực lớn nổi lên, thổi hết lửa khói về phía quân Hanh. Chung Tử đi đầu ngàn dũng sĩ, cứ thế cận chiến. Quang Trung cũng thúc voi vào giữa trận. Quân Thanh rối loạn. Đề đốc Hứa Thế Hanh bị Chung Tử chém chết tại trận. Ngọc Hồi tan, không một tên lính Thanh chạy thoát.

  

Ngọc Hồi mất, làm Thăng Long như cửa trống, không then. Quang Trung phá tan Đống Đa, Sầm Nghi Đống thất thần cứa cổ tự sát, đánh vài trận nữa, làm Tôn Sĩ Nghị hoảng loạn bỏ chạy. Quân Thanh qua cầu tre sông Hồng lại bị Chung Tử lấy ngàn thuyền nan Tây Hồ bao quanh, dùng tên thu được ở Ngọc Hồi bắn như mưa. Binh sĩ Nghị phần lớn trúng tên, rơi xuống sông mà chết nửa, số hoảng loạn xô nhau chạy làm gãy cả cầu tre qua sông. Đám cứu viện nhà Thanh cho Nghị, đang tiến vào biên ải nước ta nghe tin tự tan.

  

Quang Trung tiến vào Thăng Long, chiến bào mặc trên người nhuốm đen thuốc súng. Bốn phía Thăng Long rực lửa. Đang vui vẻ, thấy Dạ Minh Phượng ôm mặt khóc. Giận mà gặng hỏi, thắng lợi lớn như thế, có công của nhà ngươi và Chung Tử, cớ gì mà làm nhỏ lệ làm ba quân nghi ngờ? Dạ Minh Phượng, chỉ bốn phía Thăng Long còn khói lửa ngút trời, thưa rằng: “Thăng Long từ đời Lý vốn là nơi của rồng, phượng hội tụ. Là linh khí của trời Nam. Vậy mà cả ba bốn trăm năm nay, chiến tranh không khi nào nguôi. Thân thiếp sinh ở đây, là hương đất ở nơi đây, song thực ra cũng là tụ hội cây cỏ vạn vật phương Nam. Cũng như trăm họ bấy nay mang mọi tinh túy trăm miền về Thăng Long mà làm nên văn vật Thăng Long, xiêm y, hồn cốt của mọi triều đại. Trăm họ nước này theo Hoàng đế bấy nay làm nên sức mạnh, trong diệt Xiêm, Bắc diệt Nghị, làm tan cả cứu viện nhà Thanh, bình thiên hạ, thống nhất giang sơn, đều là nông phu. Nông phu vốn mềm như cây cỏ, thiếp thì như hoa cỏ. Khi nước cần thì liều chết, cỏ và hoa đều làm lửa, chứ chẳng ai mong đợi lửa khói, để mỗi khi chinh chiến, nhà tan cửa nát. Đến Hoàng Thành cũng lớp lớp hoang tích, tro bụi đè từng triều đại lên nhau. Cái ước mơ của nhà nông là bình an và lúa thóc đầy bồ, nên có câu mang sở cầu bao đời nay: Thăng Long phi chiến địa. Thần thiếp cùng Chung Tử, hai người con của Thăng Long này, đâu mong gì sau chiến thắng? Chỉ mong Hoàng Đế ơn mưa móc cho trăm họ, giữ cái vẻ đẹp của Thăng Long an lạc thái bình. Mà sự an lạc, gốc rễ là đừng quên trăm họ nông phu!

  

Quang Trung nghe xong, lập tức xuống voi, đỡ Dạ Minh Phượng dậy.

  

Sau chuyện này, năm 1789, Quang Trung đã ban bố Chiếu khuyến nông (3a) nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang. Đồng thời ra lệnh bãi bỏ nhiều thứ thuế công thương nghiệp nặng nề trước đây, mở rộng việc buôn bán làm ăn cho trăm họ ở Thăng Long là từ nhờ cẩu khẩn của Dạ Minh Phượng.

  

***

  

Sau ngày ấy, không thấy sử sách nào ghi hết những việc trên của Dạ Minh Phượng. Cũng không ai biết chính xác Dạ Minh Phượng và Chung Tử cùng hai người gia nhân sau chiến thắng quân Thanh ở Thăng Long ở đâu, về đâu.

  

Có người kể, Chung Tử và Dạ Minh Phượng sau đó về Tây Hồ lập ra các làng Nghi Tàm và Nhật Tân chuyên trồng hoa. Hoa Đào Nhật tân quanh nơi Dạ Minh Phượng ở, có sắc và hoa đằm thắm dị thường mỗi khi xuân về, không nơi nào bằng. Sau hai người đi đâu không rõ. Chuyện chả biết hư thực ra sao, nhưng nhà sử học Dương Trung Nam, khi khai quật Hoàng Thành vừa rồi, có tìm thấy một hài cốt táng mộ thuyền ở trong tầng đất, xiêm y đài các. Xác lập là người nữ, bàn tay còn ôm trên ngực cuốn sách. Mang về chiếc máy của Bộ công an đọc các văn bản kín, thấy trong sách có có ba mươi bài thơ đề tặng, có bài Dạ Minh Phượng Thảo và một bài văn xuôi tôi chép cả ra trên.

  

Lại ở Mỗ Tương, đầu xuân Nhâm Thìn này, phát hiện ra cái miếu cổ, sau thờ Phật tượng gỗ thơm, gian trước thờ thần nào đó, chỉ có 4 bức tượng ngày đêm phủ vải điều che kín. Hỏi dân sở tại, không ai rõ vì sao chỉ đúng Tháng Hai, giờ Hợi, năm Tí mới mở vải che ra làm Lễ. Tượng bằng đất, phủ sơn ta màu huyết dụ, hai người nam nữ bên nhau. Trái lại có kẻ nữ xách giỏ, phải có người dắt ngựa. Dưới đế quần thể tượng này, thấy hai từ chữ nôm: Biết ơn. Không rõ, có phải đây là nơi thờ Chung Tử và Dạ Minh Phượng cùng hai gia nhân của họ chăng?

  

Nhâm Thìn – Bạch Đằng bến.- N.V.T.

  

Chú thích:

  

1-Theo sách của Hoa Bằng

  

2- Trích Phú Nôm của Nguyễn Hữu Chỉnh, tác giả nhuận sắc cho hợp cảnh hợp người.

  

3-3a- Theo Hoàng Lê nhất thống chí.

.
  

  

  

  

  

  

  

  
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui