Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
2 Apr.2012

NGUYỄN HUY CANH : Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Thể loại khác   
  Lớn | Vừa | Nhỏ
TUYÊN NGÔN CỦA ĐỜI SỐNG HAY KHÁT VỌNG ĐA NGUYÊN LUẬN ( Phần kết )
Nguyễn Huy anh
Cử nhân Triết học
III. Không gian  và thời gian
            Vì  không có sự lựa chọn đúng đối tượng nghiên cứu của mình, vì những quan niệm sai  lầm về thế giới nên cũng dẫn chủ nghĩa duy vật hiện đại tới những kiến giải lệch  lạc về hình thức tồn tại của nó, về thời gian và không gian của thế giới hiện  thực.
            Thời  gian biểu thị quá trình nhanh, chậm của sự biến đổi của sự vật. Sự vật trôi đi  từ quá khứ- hiện tại và tương lai. Ngày, giờ, năm, tháng là những đơn vị đo  khoảng dài ngắn của thời gian.
            Còn  không gian là nói tới độ to nhỏ, cao thấp, khoảng cách giữa các vật.  
Chúng ta phải nói  ngay rằng đây là không, thời gian của vật lý học khi nó nghiên cứu về sự vận  động và biến đổi của các vật ở lĩnh vực thực tồn Bản chất.
            Thế  giới hiện thực, như chúng ta đã trình bày ở trên, do đó không, thời gian của nó  nhất thiết phải có mặt của ý thức hiểu như là hiện tượng thế giới, nhờ đó  Tồn Tại mới xuất hiện ra như thế này hay thế kia, nghĩa là cái bộ phận, là những  cái hữu hạn nhờ đó thế giới mới có tính không-thời gian. Sự có mặt của ý thức  cũng có nghĩa đó là sự tham gia của đời sống thực tiễn con người.  
            Chúng  ta hiểu thời gian nói lên sự lâu (chóng); trình tự trước- sau của Hiện thực và  chúng ta cảm nhận nó thông qua tốc độ biến đổi của đời sống chúng ta cũng như  đời sống xã hội.
            Thời  gian sẽ như ngừng lại, trôi đi chậm chạp nếu các đồ vật quanh ta, cách thức mà  chúng ta sản xuất hầu như không thay đổi từ năm này qua năm khác trong nhiều  nghìn năm. Đây cũng là nét đặc trưng của thời gian ở con người phong kiến, thời  đại phong kiến. Đó là sự kéo dài quá khứ trong hiện tại, còn tương lai như không  bao giờ tới.

            Thời  gian đối với họ sẽ không trôi theo một hướng từ quá khứ -> hiện tại ->  tương lai mà chỉ có như một vòng tròn: quá khứ-> hiện tại-.> quá khứ. Ngày  nay con người hiện đại đã biết đến tương lai trong những dự án, những kế hoạch  và trong những hành động hiện thực hóa của họ. Thời gian đã có tính tuyến tính.  Đó là nét đặc trưng của thời đại chúng ta chăng? Tuy nhiên với con người hiện  đại, với không ít cuộc đời, không ít hữu thể, thời gian với họ còn được khám phá  theo chiều cách phi tuyến tính: quá khứ bị xóa bỏ, bị lên án, bị cắt bỏ và cần  phải cắt bỏ như một gánh nặng, một sự phi lí; tương lai thì không bao giờ đến.  Cuộc sống, đó là hiện tại. Chỉ có hiện tại thôi. Điều này đã trở thành triết lí  về đời sống của họ: Sống hết mình, hưởng thụ hết mình những gì đang có do bố mẹ  đem lại, hoặc do cơ chế này đang tạo ra; hoặc hôm nay còn đang cười nói với cuộc  đời ngày mai đã bất ngờ phải vào nhà giam bóc lịch. Một ngày mai không hề có với  Y: giờ này còn đang trên đường đây đó, phút chốc một hiểm họa khó lường xảy đến  dù Y có được cảnh báo, được chuẩn bị. Y đã không còn có mặt trên trần thế; những  ngày qua Y sống trong sự say sưa của thắng lợi bởi nhờ kinh doanh đã đưa Y từ  một công chức hạng trung trở thành tỉ phú. Nhà cửa, đất đai, tiền bạc ùn ùn chảy  đến. Sàn giao dịch chứng khoán bất ngờ tụt dốc thảm hại, Y không ngờ tới. Y  không còn gì cả, chỉ còn lại nơi trại giam, bệnh viện tâm thần, hay cái chết chờ  Y .Chúng ta hiểu đó là tính dễ vỡ của thời gian ở con người hữu  thể
    … Ngày, giờ,  năm, tháng là những đơn vị đo của thời gian vật lý, nó không phải là đơn vị đo  của thời gian thực hiện (hay gọi là thời gian triết học) nhưng giữa chúng không  có sự tách biệt nhau. Chúng ta vẫn dùng nó như một đại lượng ám chỉ sự trôi đi  nhanh hay chậm của thời gian hiện thực mà chúng ta sống trong  đó.
            Nếu  thời gian biểu thị tốc độ biến đổi của hiện thực, thì không gian biểu thị sự  rộng hẹp của thế giới trong quá trình phát triển thông qua hoạt động thực tiễn  của con người và cũng như thời gian, thông qua hoạt động đó Y sẽ cảm nhận được  rõ nhất tính không gian của đời sống hiện thực.
            Như  chúng ta nói ở trên, thế giới trở nên ngày một phong phú tính quy định chính là  nhờ vào những hoạt động thực tiễn của con người.
            Sự  phát triển phong phú của đời sống tinh thần và của các tiện nghi, đồ vật, công  cụ sản xuất và cách thức mà con người tiến hành sản xuất nói lên không gian của  thế giới này càng mở rộng và đa chiều.
            Con  người đặt chân tới đâu, hoạt động thực tiễn của mình vươn tới đâu thì không gian  được mở rộng tới đó. Ngược lại những hoạt động sản xuất, giao tiếp của con người  bị cản trở, bị ngăn cấm, bị chiếm đoạt thì khi ấy Y cảm nhận rõ nhất những giới  hạn,những đổ vỡ, và những khoảng trống có thực của không gian.  
            Hoạt  động của con người nói chung ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực: Hoạt động  sản xuất ra đồ vật, hoạt động văn hoá, hoạt động giáo dục, giao tiếp... tôi gọi  mỗi hoạt động đó là một chiều của không gian. Con người phải đặt mình vào các  chiều không gian đó. Khi đời sống và hoạt động của Y được diễn ra, thực hiện  trong các chiều kích đó: Chúng ta bảo không gian của Y là ổn định.  
            Con  người phong kiến, xã hội phong kiến có một không gian chật hẹp, đơn chiều, ổn  định, ít đổ vỡ (*).
<!--[if  !vml]--><!--[endif]-->            Không  gian con người hiện đại (hữu thể) đa chiều và mở rộng nhưng lại xuất hiện nhiều  yếu tố bất ổn, bất định, ngẫu nhiên, không ngờ được, nhiều khoảng trống xuất  hiện, không gian có thể bị co hẹp lại, bị bẻ gãy vụn ra (giống như thời gian)  vào bất cứ lúc nào. Đây là nét đặc trưng của thế giới hiện đại.  
            (*)  Dĩ nhiên khi xã hội cổ xưa lầm vào thời kỳ khủng khoảng trầm trọng thì không  gian của thế giới hiện thực cũng thường bị bẻ gãy, bị đổ vỡ, cuộc sống của con  người khi ấy trở lên mong manh và nhiều bị kịch.

Phụ  chú
Hiện tượng trong  chủ nghĩa duy vật hiện đại
            
Việc tìm hiểu các  sự vật, tìm hiểu bản chất của thế giới, theo lẽ thông thường, tư duy của chúng  ta bắt đầu từ các hiện tượng. Từ hiện tượng, được chúng ta nhận thức bằng cảm  giác. Một quá trình nhận thức diễn ra sau đó dẫn chúng ta dò tìm đến bản chất,  đến nguồn gốc phát sinh ra các hiện tượng đó.
            Hiện  tượng được chúng ta nói đến ở đây là gì? Trước hết nói đến các hiện tượng tự  nhiên như sự sống của cây, hạt mưa rơi, độ ẩm không khí, gió..        
            Hiện  tượng được tư duy triết học quan niệm như thế nào? Chúng ta bắt đầu từ Kant.  Theo ông, hiện- tượng- thế- giới được tạo bởi từ hai nguồn gốc. Nó có sự kết hợp  từ “Vật tự nó, do Vật tự nó biểu hiện ra” Nhưng cái này chỉ là cái  gì đó còn lộn xộn, không hình thù, không màu sắc. Theo ông nó chỉ là chất liệu  và phải nhờ có ý thức tiên nghiệm (và trước đó là không - thời gian, một hình  thức của tồn tại có tính chất tiên thiên ) nó mới hiện ra là hiện- tượng- thế -  giới. Nghĩa là thế giới mới như thế này hay thế kia.
            Nói  cách khác, nhờ có ý thức tiên nghiệm mà hiện tượng mới xảy ra, diễn ra trong  không gian và thời gian theo đó các quy luật của giới tự nhiên mới hình thành.  
            Như  vậy hiện- tượng- thế- giới, theo Kant, bản thân nó có hai phẩm chất, diễn đạt  theo cách nói của chúng ta là vật chất và tinh thần. Ở đó vật chất được hiểu như  mặt ngoài, như là cái vỏ còn tinh thần như là linh hồn bên trong, là động lực,  là sức sống, là bản chất của chúng.
            Nhưng  sự kết hợp này là lỏng lẻo, chứa đựng nhiều mâu thuẫn không lý giải được ngay  trong bản thân hệ thống triết học của ông. Dù là thế nào, trên quan điểm lịch sử  chúng ta cũng phải thừa nhận việc phát hiện ra hai tính chất trong hiện- tượng-  thế- giới của ông là một giá trị lớn lao.
            Kế  thừa tư tưởng triết học của ông về tính hai mặt của hiện tượng, Hêgel đã phát  triển một cách triệt để. Theo ông, vật tự nó của Kant là thừa. Ông đã cắt bỏ cái  đuôi đó đi để đến một kết luận: các hiện tượng tự nhiên và xã hội chỉ Tồn- tại-  khác của ý niệm tuyệt đối, là sự chuyển hoá, hoá thân, tha hoá của ý niệm sau  khi đã trải qua giai đoạn phát triển đầy đủ trong bản thân nó.  
            Như  vậy, đối với Hêgel, cũng như Kant, các ông đã nhìn thấy rõ tính hai mặt của  hiện- tượng- thế- giới: vật chất là hiện tượng chứa đựng trong bản thân nó, đồng  nhất, thống nhất trong bản thân nó hai mặt đối lập: tính bản chất (tức ý niệm  tuyệt đối) và tính bề ngoài- tức là tính vật chất.
            Dựa  trên việc thừa nhận tính tinh thần của hiện tượng, các ông đã giải quyết được  vấn đề khả năng nhận thức được của tư duy đối với Tồn tại, với hiện tượng (dĩ  nhiên là trên quan điểm duy tâm).
            Chủ  nghĩa duy vật hiện đại hiểu như thế nào về hiện tượng? Cái xanh, cái đỏ, cái  bàn, hạt mưa rơi được hiểu là hiện tượng vật chất và vật chất là bản chất của  chúng. Trong chúng không có tính tinh thần, ý thức nào.
            Tinh  thần không phải là một tính quy định của hiện tượng đó. Đúng là tinh thần không  chứa đựng ở trong cái xanh, cái đỏ, cái bàn, hạt mưa rơi, gió thổi. Nhưng làm  thế nào thông qua hoạt động thực tiễn mà tư duy con người có thể trở thành hình  ảnh chủ quan của thế giới khách quan? Làm thế nào mà tư duy chúng ta có được sự  phù hợp với các hiện tượng đó?
            Chúng  tôi khẳng định rằng, trong tính hiện thực, tinh thần là một tính quy định (cố  hữu) của Hiện tượng. Nói đầy đủ hơn ý thức, tinh thần mới là hiện- tượng- thế-  giới.
            Đánh  mất tính ý thức của hiện tượng, trong hiện tượng, chủ nghĩa duy vật hiện đại đã  bỏ qua hiện tượng thế giới (và do đó cũng là thế giới) trong tư duy lý  luận của mình.
            Có  thể nói, Chủ nghĩa duy vật hiện đại là tư duy về một thế giới không có thế giới,  về con người không có con người. 50 năm qua ta đã đi dưới “ngọn đuốc soi đường”  như thế, nên ta chỉ thấy sự tối tăm, sự sa đoạ, sự thống trị và cái ác tràn đầy.  
            Cái  xanh, cái đỏ, cái vàng mà chúng ta vẫn gọi là hiện tượng vật chất, về thực chất  chúng không bao giờ là hiện tượng  mà chúng chỉ là những mặt, những bộ  phận hợp thành của Tồn tại, của vật chất, tức là của bản chất.  
             Trong “Tuyên ngôn  của đời sống” chúng tôi quan niệm rằng thế giới  ban đầu là Tồn Tại thuần  tuý.
            Qua  biến đổi trong bản thân nó, Tồn Tại thuần tuý đạt đến trình độ tự biểu lộ  mình qua cái Khác, Tồn- Tại- khác. Đó là ý thức, là tinh thần.  
            Ý  thức,tinh thần, là tồn- tại- khác của vật chất. Nhờ biểu hiện mình qua ý thức mà  Tồn Tại mới trở thành Bản chất, tức là thế giới mới hiện mình ra như thế này hay  thế kia.
            Hiện  mình qua ý thức và bằng ý thức, thế giới mới là cái xanh, cái đỏ, cái vàng, hạt  mưa rơi.
            Ý  thức, tinh thần chính là cái bề ngoài, cái hiện tượng của thế giới nhờ đó Tồn  Tại mới xác định mình, quy định mình như là cái xanh, cái đỏ, cái vàng ấy.  
            Chủ  nghĩa duy vật hiện đại đã quan niệm rằng ý thức là sản phẩm của quá trình nhận  thức chủ quan của con người về thế giới thông qua hoạt động thực tiễn.  
            Nhưng  thực ra, trong một chừng mực nào đó chúng ta có thể và cần phải nói rằng con  người không phải kẻ nhận thức thế giới mà chính là Tồn tại, là Thế giới tự lộ  ra, tự mở ra, tự nhận thức bản thân mình, nhận thức những mặt, những thuộc tính  của mình thông qua con người: con người là kẻ mang Hiện- tượng- thế- giới.  
            Vì là  biểu hiện ra của vật chất (khi vật chất đã đạt tới trình độ cao. Bộ óc con người  là dẫn chứng cho trình độ đó), nên giữa hiện tượng và bản chất vừa khác nhau mà  vừa đồng nhất, thống nhất.
            Nói  cách khác, ý thức là hiện- tượng- thế- giới, trong tính hiện thực của mình nó  chứa đầy tính vật chất (1)
            Về  mặt bản thể học, tính thống nhất giữa vật chất và ý thức là ở tính xác định của  Tồn tại và sự khác nhau giữa chúng là ở tính không- tồn- tại của ý thức.  
            Nếu  xét theo quá trình nhận thức sự đồng nhất giữa chúng là ở tính khách quan và sự  khác nhau là ở tính chủ quan.
            Xưa  nay chúng ta vẫn có quan niệm đồng nhất tính chủ quan với ý thức(ý thức, nghĩa  là cái chủ quan) nhưng ý thức như vừa trình bày, nó phải là sự thống nhất của  hai phẩm chất: khách quan và chủ quan.
            Nhờ  có tính khách quan mà ý thức mới có khả năng phù hợp với Tồn tại ; mới có khả  năng, như chúng ta vẫn thấy xưa nay là thâm nhập được vào tồn tại, cải biến tồn  tại(thông qua hoạt động thực tiễn)
            Xét  trên quan điểm của bản thể học, điều đó chẳng qua là sự chuyển hoá qua lại, sự  phủ định lẫn nhau, là cuộc đấu tranh giữa bản chất và hiện- tượng- thế- giới mà  thôi.
            Không  có tính chủ quan của hiện tượng thì không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa ý thức  và tồn tại.Nhưng cũng phải thấy rằng không có tính đồng nhất, tức là tính khách  quan- vật chất thì mọi ý thức của chúng ta, mọi tri thức của chúng ta về thế  giới là đều là giả (2).
             Hiện - tượng- thế- giới, dĩ nhiên ban đầu phải do Tồn tại sinh ra, là biểu  hiện trực tiếp của tồn tại, do đó nó còn gắn chặt vào tồn tại, phụ thuộc  nhiều vào tồn tại. Qua quá trình phát triển lâu dài hàng nghìn năm về sau, hiện-  tượng- thế- giới- mới có được sự tồn tại độc lập.Nhờ khả năng này mà về sau hiện  tượng thế giới được sản sinh ra như từ hai nguồn gốc: Từ bản chất, tức là từ  lĩnh vực của Tồn tại và từ trong bản thân nó, tức là trong quá trình nhận thức.  
            Chính  vì như tự vận động, tự biến đổi trong bản thân nó, nên không phải lúc nào ý thức  cũng đồng nhất với tồn tại, nghĩa là không phải lúc nào và ở đâu nó cũng mang  vào trong mình phẩm chất vật chất- khách quan. Chủ quan, duy ý chí, xa rời Tồn  tại là sức mạnh nội tại của nó nhưng cũng là điểm yếu, chính nó đã tạo ra hiện-  tượng- thế- giới giả. Chủ nghĩa nhất nguyên triết học là những hiện  tượng giả như thế.

             (1)Tính vật chất của ý thức ở đây không phải hiểu như là gan tiết ra  mật
             (2)Lenin đã đúng khi chỉ ra thực tại khách quan được đem lại trong ý  thức.
            Nhưng  ông đã rất sai lầm khi vạch ra một ranh giới tuyệt đối, một sự phân đôi tuyệt  đối giữa chúng (ngay dù vẻn vẹn trong giới hạn của lý luận nhận thức).
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui