Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
8 Mar.2012

Thơ Nguyễn Hiều và Ghi vụn của Đường Văn ( tiếp theo).

Posted by badamxoe on 08/03/2012

         Tự nhiên thơ

          Tặng Đường- bạn tôi

Nhà văn Nguyễn Hiếu

          Trời hé xuân

          Mưa xoan loăn xoăn

          Có đám mây nhuôm nhuôm quần thâm

          Mang mang ngang ngày nhớ

          Màu mạ cốm thu buông lá sen đầm

          Đời cằn bắn chết con cò bợ

          Trắng tinh rập rờn một thủa  

           Con bọ ngựa cuối cùng không còn nữa

           Quả ổi chiêm sót lại rụng rồi

           Chẳng còn ai ngồi sau khung cửa

           Em trôi qua đời không tôi

           Một linh hồn vừa rơi cuối quê

            Ngỡ ngàng nụ đào chợt hoe

            Hoa súng khô, ao chùa không bói cá              

            Sông ngẹn dòng. Lưới quăng biển lạ

            Chiều đông lửa gọi. Có ai về ?

           Nào cọ chân nhau một lần nữa nhé

           Bọ xít hôi loang loang ngõ lẻ

           Trăng thình lình chợt non.

           Ta thình lình chợt trẻ

           Bên bụi tầm xọng, gió phe phất roi

           Cạnh bụi tầm xuân, rụng nửa tiếng cười

                                                  24/1,2012. Sáng mồng hai tết Nhâm Thìn

                                                             Nguyễn Hiếu

Ghi vụn của Đường Văn:

Không phải là thơ về tự nhiên, tức cảnh, vịnh cảnh thiên nhiên mà là cảm hứng thơ tự nhiên đến, ngẫu nhiên tới, vô tình lại… hình như… ngoài chủ định, ý muốn?! Từ tự nhiên trong nhan đề bài thơ không được dùng với chức năng danh từ mà mang nhiệm vụ một động từ (từ chuyển loại trong ngữ cảnh). Nhan đề bài thơ buộc ta phải luận giải như vậy. Mà quả thật, từ dòng đầu đến dòng cuối, từ hình ảnh, chi tiết đến vần điệu, nhịp điệu, giọng điệu… hình như… cứ lần lượt hiện ra, trôi chảy trong mang mang ngang ngang dòng hồi ức, liên tưởng, tưởng tượng của tác giả.

Bắt đầu là: Trời hé xuân/ mưa xoan loăn xoăn. Riêng tôi cho rằng câu thơ thứ 2 này rất đáng để ý. Đặc biệt từ láy tượng hình loăn xoăn (chắc cũng vụt đến, vụt hiện (chữ của Hoàng Hưng) với Nguyễn Hiếu như một tia chớp xoẹt?!) đập vào tâm – não người đọc tôi những hình dung, liên hệ tinh nghịch, thú vị. Mưa xoan là mưa xuân. Xoan cũng là trẻ (Trai ba mươi tuổi đang xoan; ca dao). Trong thi cảm Nguyễn Hiếu: những dòng mưa, sợi mưa đầu xuân nơi làng quê không thẳng, không xiên, không nghiêng mà uốn cong cong, vểnh lên, quặp xuống từng sợi, mỗi dòng một cách, một kiểu, như là râu, là ria, như là lông, là tóc…. Mưa xuân hay khuôn mặt, dáng vẻ người đang đi dưới mưa, đang ngắm nghía, chiêm nghiệm những dòng nước trời, lộc trời đầu năm? Đó là một trong những cách tạo hình, tạo cảm câu thơ rất riêng của Nguyễn Hiếu. Đọc liền 2 câu, thấy nhịp thơ ngắt theo trình tự: 1/2/2/2 khá đều đặn, nhỏ nhẹ; 4/7 từ đều bắt đầu bằng phụ âm X, láy vần lưng: uân – oan – oăn – oăn, gợi cảm giác uốn lượn, mềm mại, như từng hàng mưa, sợi mưa đang ve vuốt, tự tình trên đầu, trên mặt, trên vai, …dịu dàng, mơn man… trong ngày xuân bất tận… không rõ ở đâu, và tự bao giờ…

Đó là câu thơ hay đầu tiên tôi gặp trong Tự nhiên thơ.

Tới những hình ảnh kế theo: đám mây nhuôm nhuôm quần thâm, màu mạ cốm thu, lá sen đầm, con cò bợ, con bọ ngựa cuối cùng, quả ổi chiêm…thì hiển nhiên là chuỗi hồi tưởng chập chờn, đứt nối về thời ấu thơ, hoa niên của một người làm nghề nông tang, hay chí ít cũng từng nhiều năm sống ở làng quê thôn ổ với biết bao gắn bó, yêu thương, nhớ tiếc, ngậm ngùi vì phải chia xa (ra phố phường Kẻ Chợ mưu sinh chẳng hạn!). Tôi ngỡ người thơ sẽ nhớ thêm con châu chấu, chú dế mèn, cọc cầu ao, cây đa làng… thì khổ 2 lại tạm kết bằng 2 câu vắng hoe, cô đơn và cam chịu: Chẳng còn ai ngồi sau khung cửa/Em trôi qua đời không tôi.

Câu cuối song nghĩa, song thanh. Mới đọc, tưởng đó là lời ngùi ngẫm của người đàn ông thất bại trong mối tình đầu nhớ tiếc người tình xưa. Đọc vài lần nữa, lại phảng phất như tâm trạng đơn côi, phó mặc, vô nghĩa của em trong cuộc đời dằng dặc – cuộc sống không tình yêu, không tôingười yêu, những tháng năm đơn bạc cứ trôi, trôi theo chuồi theo dòng tự nhiên … đến hư không, đến nấm mồ!

Theo tôi, đó là câu thơ hay thứ hai tôi bắt gặp trong Tự nhiên thơ.

Nhưng cái hay ở câu Em trôi qua đời…khác với cái hay nơi câu Mưa xoan loăn xoăn đã nói trên, là chỗ: Một đằng, hay ở hình ảnh quen mà gợi, thực mà nghịch, vui nhưng vẫn nặng tính tạo hình; một đằng, hay ở chiều sâu của nhận xét, ngẫm ngợi. Cả hai đều cấu tạo toàn thanh bằng nhưng lại dẫn, dồn cảm xúc về hai hướng khác nhau: Hiện tại và quá khứ, ngơ ngẩn vui và ngậm ngùi buồn!

Đoạn 3 và 4, dầu vẫn tiếp nối cách tạo, sắp đặt hình ảnh, tổ chức nhịp, vần từ 2 đoạn 1, 2 trên cơ sở hồi nhớ, liên tưởng, ghép nối giữa cảnh thật và ảo, nhưng không có gì thật mới, sắc. Có khi rời rạc, tự nhiên một điệu buông tuồng tùy cảm, tùy hứng: linh hồn rơi cuối quê – nụ đào chợt hoe, rồi: hoa súng khô, bói cá ao chùa, chiều đông lửa gọi… Thậm chí hình ảnh lưới quăng biển lạ có phần lạc lõng, chệch khỏi đường ray trong mạch chung của cả khổ và toàn bài. Hồi ức hình ảnh cọ chân nhau thêm 1 lần của đôi bạn trẻ hay cặp tình nhân thật đáng yêu, nhí nhảnh bỗng bị mùi hôi bọ xít loang loang ngõ lẻ đánh tan, làm cho già sọm!

Về nghệ thuật hòa thanh, hòa điệu để tạo nên một giai điệu, nhạc điệu riêng trong bài thơ này và 1 số bài khác của Nguyễn Hiếu cũng khiến tôi ấn tượng từ lâu. Thực ra, ông cũng không sử dụng những diệu pháp tân kỳ, thời thượng đặc biệt nào. Vẫn chỉ là sự sắp xếp theo trật tự tuyến tính hai cặp vần bằng – trắc, hai kiểu vần lưng, chân tưởng chừng ngẫu nhiên, tự nhiên mà hình như có tuân thủ 1 quy luật phối âm, hòa thanh nào đó được chi phối bởi hình ảnh và cảm xúc, tâm trạng… và đem lại hiệu quả nghệ thuật khá độc đáo. Tôi chú ý những âm bằng trầm (phù bình thanh – thanh huyền) gần cuối  hoặc cuối mỗi đoạn như trong một đoạn nhạc, một đoạn ca từ tạm chấm dứt mà vẫn ngân nga trước một vài thanh bằng – không và thanh trắc. Câu: Màu mạ cốm thu buông lá sen đầm là câu thơ thứ 5 sau câu 4 kết thanh trắc (Mang mang ngang ngày nhớ;  và liền 3 câu 1, 2, 3 đều kết bằng thanh bằng – không (dấu): xuân – xoăn – thâm. Tiếp theo là 3 câu liên tiếp có vần chân – thanh trắc, lại đến 1 câu kết thanh bằng trầm… Trong bài thơ 4 đoạn này: 4 câu kết bằng thành bằng trầm: Màu mạ cốm thu buông lá sen đầm/ Quả ổi chiêm sót lại rụng rồi/Chiều đông lửa gọi. Có ai về?/Cạnh bụi tầm xuân, rụng nửa tiếng cười… dù đọc thành tiếng hay đọc thầm, cũng thấy đều mang âm hưởng, ý vị thật khó diễn tả bằng lời văn mà cõ lẽ phải lắng nghe, tự nghe, tự cảm bằng nhạc cảm thơ nơi người đọc đồng điệu.

Liệu có quá lời không, khi tôi nói: Tự nhiên thơ viết theo thể tự do nhưng vần điệu dồi dào, nhạc cảm phong phú… như một khúc du ca, tình ca mùa xuân của một người nhà quê ở phố; đêm đêm vẫn về quê bằng tâm tưởng thi ca?!

4 câu cuối: Trăng thình lình chợt non/Ta thình lình chợt trẻ/Bên bụi tầm xọng, gió phe phất roi/Cạnh bụi tầm xuân, rụng nửa tiếng cười. Hiển nhiên là tự nhiên thơ tới cao độ, cao trào… và chấm dứt. Nhưng nhiều vô lý quá: vì sao trăng và ta lại cùng thình lình như thế? Tại mùi bọ xít, tại mưa xoan, tại gai tầm xọng đâm đau nhói? Vì sao nửa tiếng cười rụng? (đang cười lại phải ngừng bặt?) Tại sao gió phe phẩy roi? định quất dọa ai?… Nếu bạn nghiêm túc hay tò mò cố tìm câu trả lời cho những câu hỏi đầy lý trí nhưng cũng rất tự nhiên như thế ở thơ đích thực nói chung, thơ trữ tình – thế sự của Nguyễn Hiếu nói riêng, có lẽ đều là vô vọng và ngớ ngẩn!… Bởi vì, đây thực là Tự nhiên thơ!…

Trèm, đêm xuân muộn chớm sang vị hè.

Thứ ba, 6 – thứ 4, 7 – 3 – 2012 (14 – 15 tháng hai Nhâm Thìn). ĐV

Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui