Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
6 Jun.2010

BÀNG BÁ LÂN : Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Ký - Tạp bút   
  Lớn | Vừa | Nhỏ
CỔNG LÀNG
- Nét ’’văn hóa vật thể’’ của Làng quê Việt Nam!
Lê Xuân Quang
Tạp Bút
Đề tài Quê hương được văn nghệ sĩ người Việt nhiều thế hệ khai thác rồi diễn tả thành công trên nhiều lĩnh vực văn học - nghệ thuật: Văn, Thơ, Nhạc, Hoạ... Có lẽ trong Âm nhạc, đề tài Quê Hương phát huy hiệu qủa quảng bá không kém Văn chương.
Ngay từ những năm 30 – 40 của thế kỉ trước , trong khung cảnh Quê hương còn ’’binh khói’’ , nhạc sĩ Hoàng Giác đã cho ra đời bài hát mà nét nhạc thấm đượm tình yêu quê hương, nồng nàn, tha thiết, lời ca da diết:

Ai qua miền quê binh khói
Nhắn giúp rằng nơi xa xôi
Tôi vẫn mơ lùm tre xanh ngắt
Tim xắt se, làng quê điêu tàn...

Nhạc sĩ Chung Quân - viết lời cho ca khúc Làng Tôi của ông bằng lối miêu tả khung cảnh làng quê thanh bình, yên ả, gợi cho người nghe ấn tượng sâu đậm về quê hương :

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh, êm xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên những hàng cau
Đồng quê mơ màng...

Nhạc sĩ Phạm Duy - viết về làng mình trong một ca khúc nói về Quê nghèo mà nét nhạc, lời ca gợi cho người nghe sự trăn trỏ, nhớ thương da diết:

Làng tôi, không xa kinh kỳ sáng chói
Có những cánh đồng cát dài
có lũy tre còm tả tơi.
Ruộng khô, có những ông gìa rách vai
Cuốc đất bên đàn trẻ gầy,
có người bừa thay trậu cầy...

Nhạc sĩ Văn Cao lại viết về Làng mình khi quê hương bị quân Pháp dày xéo:

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều
Tiếng chuông nhà thờ rung…
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền một giòng sông
Nhưng thôi rồi…
Ngày giặc Pháp phá làng triệt thôn…

Và còn rất nhiều người viết về quê hương tràn ngập khói lửa, chiến tranh liên miên hơn 30 năm... Khi đất nước hết cơn binh lửa, các nhạc sĩ lại tiếp tục đề tài muôn thuở - Quê hương. Thi sĩ Đổ Trung Quân viết bài thơ Bài học đầu cho con, được nhạc sĩ Gíap Văn Thạch dùng làm lời cho bài hát nổi tiếng cũng mang tựa đề - Quê Hương:

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc…
Quê hương là con đò nhỏ…
Quê hương…
Quê hương…

Và gần đây nhất, nhạc sĩ Phó Đức Phương viết bài hát Về Quê, nét nhạc tha thiết, lời ca mộc mạc, gỉan dị mà rung động lòng người:

Theo em anh thì về, thăm lại miền quê
Nơi có một triền đê, có hàng tre ru khi chiều về…
Ơi quê ta bánh Đa, bánh Đúc
Nơi thảo thơm đồng xanh trái ngọt
Nơi tuổi thơ đẹp bao giấc mơ
Ơi quê ta dầu sương dãi nắng,
Phiên chợ nghèo lều mái tranh xiêu
Kìa dáng ai như dáng chị , dáng mẹ tôi…

Thế nhưng...
Thế nhưng: Chưa có bài thơ, bài hát nào gợi cho tôi nhớ về Làng tôi cụ thể, da diết bằng bài thơ Cổng Làng của thi sĩ Bàng Bá Lân (1) được nhà biên khảo Hoài Thanh đưa vào Thi Nhân Việt Nam xuất bản năm 1942.
Bởi vì cái cổng làng trong thơ của thi sĩ đúng là cổng của làng tôi, mặc dù ông quê ở Bắc giang còn tôi ở Nam Định. Hình ảnh xung quanh chiếc Cổng làng của Bàng thi sĩ, chính là những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến ở cổng làng quê tôi hơn nửa thế kỷ trước. Quả là vào những buổi chiều mùa thu tôi đã từng đứng hóng gió mát ở Cổng Làng như Bàng thi sĩ miêu tả:

Chiều hôm đón mát cổng làng
Gió hiu hiu thổi (2), mây vàng êm trôi
Đồng quê vờn lượn chân trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn

Lúc đó khoảng bẩy tám tuổi.
Cái tuổi mới cắp sách đến trường tiểu học ở làng, thời học sinh viết bút ngòi ‘’’mỏ (chim) sẻ’’, chấm mực tím trong lọ. (Sau buổi học, mực dây đầy tay, đầy quần áo…)
Quanh nhà tôi, xóm tôi - bạt ngàn cây ăn qủa. Trên cành chim hót, hoa nở rực rỡ, sắc hương ngào ngạt. Bình minh - chim đánh thức vạn vật, tôi bậtg dậy, vội vội vàng vàng đến trường, các cô bác Nông phu băng qua cổng làng, hối hả ra đồng:

Sáng hồng lơ lửng mây son
Mặt trời thức giấc véo von chim chào
Cổng làng mở rộng ồn ào
Nông phu lững thững đi vào sớm mai.

Mùa hè, đi học về, lại qua cổng làng. Những hình ảnh thân thương sống động của làng quê tiếp diễn, xuất hiện:

Trưa hè bóng lặng, nắng oi
Mái gà cục tác tìm mồi dắt con
Cổng làng vài chị gái non
Dừng chân uể oải chờ cơn gío nồm.

Xuân qua, Hè tới.
Mùa Hè ở vùng đồng bằng Bắc bộ hay có mưa rào. Mỗi khi đi học về gặp mưa, tôi lại đứng trong lòng vòm cổng trú mưa. Trận mưa đem theo gió lạnh. Chiều, tối, bầu trời xùm xụp, thấp xuống, trưởng làng cho đóng cổng. Nhìn khung cảnh xung quanh chợt lòng xao xuyến...
Nhưng khi mưa tạnh, trời quang, trăng lên, hình ảnh xung quanh cổng làng trở nên sống động:

Những khi gió lạnh mưa buồn
Cổng làng im ỉm trên đường lội trơn
Những khi trăng sáng chập chờn
Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.

Mùa gặt tới, dân làng thu hoạch lúa ra vào khiến con đường từ trong làng, qua cổng dẫn ra cách đồng - người đi lại tấp nập đông vui...
Mùa xuân đến, làng mở hội, cổng làng lại rộn rã đón khách từ các làng bên đổ tới, qua cổng vào đình, chùa - xem hội:

Ngày mùa luá chín hương đưa
Rồi đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng
Mừng Xuân ngày hội, Cổng Làng
Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ

Cách đây hơn 50 năm, tuy tục lệ của làng rất khắt khe với đám trai gái đến tuổi cập kê. Ban ngày, họ không được phép tỏ tình hoặc hành động suồng sã. Nhưng khi đến tối, sáng trăng, họ cũng hẹn hò nhau và bóng họ tha thướt trên đường qua cổng làng…
Gây cho tôi niềm vui nhất phải kể: Khi mùa gặt tới.
Cổng làng nhộn nhịp, ồn ào tới đêm tối. Khi cánh đồng đã vắng bóng người, cánh cổng đóng lại. Làng xóm râm ran: Kéo đá, đập lúa – (làm hạt thóc trên bông rơi ra)… 3 tháng trông cây, một ngày trông qủa. Vất vả chăm bón, giờ thu hoạch, người làng hồ hởi được bửa no nê, cơm gạo mới thơm lừng…
Hè qua, Thu đến rồi Đông cũng đi. Xuân tới: Làng tôi mở hội.
Ở cái tuổi trẻ con, không gì vui, hạnh phúc bằng được dự hội làng. Tôi nhớ rõ : Mội khi mở hội rất đông người dự . Cả làng đi dự đã đành, người các làng bên cũng đổ đến xem… đường đầy trai thanh – gái lịch. Nhưng đông nhất vẫn là bọn trẻ . Hội làng chính là nơi ’’chen chúc bao nàng ngây thơ’’. Tôi là một trong số những ’’ Nàng - Chàng’’ - ngây thơ đó.
Lớn lên, tôi ra ’’kinh kì sáng chói’’ - học hành, làm việc.
Hàng năm, kì nghỉ, lại về Làng thăm ông bà, Thầy, U, họ hàng… Trên đường vềlòng rạo rực. Đứng từ xa, đã nhìn thấy hai cây gạo ở cổng chùa. Cây cao mấy chục mét, gốc to dăm người ôm. Tới cổng làng, nhìn hai cây đa cổ thụ quầng lá xum xuê, trùm cả lên mái cổng. Bao cảm xúc rạt rào ập tới: Lòng tôi xốn xang…

Ngày nay dù ở nơi xa
Nhưng khi về đến cây Đa đầu làng
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
Hiện ra khi thóang cổng Làng trong tre. (3)
(Tiếng Sáo Diều)

Bài thơ đã gieo vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc vè quê hương mình... Cái cổng, cái Làng của thi sĩ Bàng Bá Lân không còn là của riêng ông, của làng ông, mà đã trở thành cổng - làng của tôi, của bạn, mặc dù có thể bạn không hề biết thi sĩ quê ở đâu. Cổng Làng đã trở thành vật đại diện của cả các làng quê Việt Nam.
Nhà thơ Hoàng Cầm có lần đã nói đại ý: Thơ hay, trước hết phải tạo cảm xúc, kích thich được trí tưởng tượng của người đọc. Thi phẩm Cổng Làng đã đạt được cảnh giới cuối cùng của sự khơi dây, kích thích trí tưởng của người yêu thơ, khiến họ chuyển hóa làm trỗi dậy tình yêu quê hương nồng cháy mãnh liệt...
Đã hon nửa thế kỉ trôi đi...
Dù đã sống ở nơi chân trời góc biển, vời vợi nghìn trùng, mỗi khi đọc bài thơ Cổng Làng của Thi sĩ Bàng Bá Lân, lòng mỗi người xa quê lại bồi hồi rạo rực...
Cổng Làng đã trở thành nét ‘’văn hóa vật thể’’ của dân tộc Việt. Nó đã tôn lên, làm nổi bật đặc điểm của vương quốc lúa nước, tạo dấu ấn lịch sử sâu đậm cho Làng quê - Đồng ruộng – Quê hương Việt Nam thân yêu!

Mùa Hè – Berlin, nước Ðức - 30.6.2009
LXQ

(1) – Bàng Bá Lân tên thật là Nguyễn Xuân Lân, gốc người làng Đôn Thư, tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Nhưng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1912 tại Phủ Lạng Thưong, tỉnh Bắc Giang. Mất ngày 20 tháng 10 năm 1988 tại TP Hồ Chí Minh.
Ông là nhà thơ, nhà giáo, nhà nhiếp ảnh. Tác phẩm chính: Tiếng thông reo (tập thơ - 1934), Xưa - Tập thơ in chung với Anh Thơ (1939), Tiếng sáo diều (Tập thơ 1942- 1945), Thơ Bàng Bá Lân (1955) và nhiều tác phẩm nhiếp ảnh…
(2) Bản Cổng Làng trong Thi Nhân Việt Nam, xuất bản năm 1942: câu này:’’…gió hiu hiu ’’Đẩy’’. Các bản in sau, từ ‘’Đẩy’’ được thay là ‘’Thổi’’. Có lẽ sau khi đăng tải, tác gỉa sửa lại khiến từ đúng nghĩa và hay hơn.
(3) Một tạp chí Văn học ở Hoa Kì - đăng lại Cổng Làng nhưng đối chiếu với bản in năm 1942 trong Thi Nhân Việt Nam - không có 4 câu kết này, mà đã bị cắt xén, xáo trộn…
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui