Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
18 Dec.2011
NGUYỄN VĨ: Say, Viết ‘’GỬI TRƯƠNG TỬU’’
  Tiểu luận

Lê Xuân Quang  

Tôi đã biết tiếng Nguyễn Vĩ từ hơn 40 năm trước nhân một lần dự sinh nhật của anh bạn viết văn trẻ Trần Qúy Thường. Khi rượu đã ngà ngà, Thường đọc cho cả bàn nghe 3 khổ thơ của bài Gửi Trương Tửu, trong đó câu ‘’…Nhà văn An Nam khổ như chó’’ câu thơ gây chấn động mạnh cho cử toạ. Mọi người trầm trồ tán thưởng, đề nghị chủ nhân bữa tiệc đọc cả bài. Thường lắc đầu: Tớ cũng chỉ nghe thằng bạn là sinh viên Khoa Văn trường đại học Tổng hợp đọc, toàn bài dài, chỉ nhớ nhất đoạn thơ này, cậu ta bảo đọc tại chỗ trong thư viện Quốc gia (đường Tràng Thi Hà Nội).
- Thế thì chúng mình đến đó đọc rồi chép lại - một người góp ý.   

Trần Qúy Thường lắc đầu: Cậu tưởng đơn giản thế a? Vào đây đọc phải có thẻ. Muốn có thẻ phải có tiêu chuẩn… chúng ta không thể có các tiêu chuẩn để được cấp thẻ!

  

Từ đó, tôi cố gắng tìm hiểu về NV nhưng không hề có sách báo nào nhắc đến tên ông.  Đầu thế kỉ 21, tôi mới được đọc toàn văn bài Gửi Trương Tủu và biết chút íi về NV qua lời kể của ông Đỗ Đình Thọ, trong Nguyễn Bính Thơ và Đời. Rất may tình cờ tôi tìm được cuốn Toàn Tập Thi Nhân Tiền Chiến Việt Nam của Nguyễn Tấn Long trong ngăn tiếng Việt của Thư viện thành phố Berlin - mới biết tường tận về thi sĩ Nguyện Vĩ.

  

Những năm 30 của thế kỉ 20 - nhất là 3 năm (1936 - 1939) - Dưới tác động của Mặt trận Bình Dân lên năm quyền ở Pháp, chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp ở Đông dương được nới lỏng, văn đàn Việt Nam trở nên sôi động trong không khí tìm tòi sáng tạo. Nhờ vậy nhiều tác phẩm Văn, Thơ có gía trị Nhân bản - Nghệ thuật ra đời, đánh dấu một thời đại mới của Văn học Việt Nam đương đại. Trong đó phải kể sự chuyển mình của thi ca và phong trào Thơ Mới!  

  

Thơ - là ‘’Tiếng lòng’’ của người nghệ sĩ dùng ngôn ngữ cùng phương pháp trình bầy để diễn đạt. Thơ Mới ra  đời, được viết ra bởi người viết hoàn toàn tự do, không bị các quy tắc của thể thơ cũ gò bó, ảnh hưởng, ràng buộc (1). Thơ Mới đã mang lại cho Thi đàn Việt Nam luồng gió mới, sản sinh nhiều cây bút trở thành những ngôi sao chói sáng trên bầu trời Văn chương. Nguyễn Vĩ - Thi sĩ có cá tính độc đáo - là một trong số những ngôi sao đó. Ông góp phần tô đậm diện mạo văn học Việt trong buổi đầu chuyển mình. Sự hiện diện của Nguyễn Vĩ đã in dấu ấn sâu đậm trong lòng  người đọc Việt Nam ở những năm 30 của thế kỉ 20 và tiếp tục cho đến hôm nay!  

  

Theo Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân (xuất bản năm 1942): Nguyễn Vĩ sinh năm 1910 (2) tại Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Thời thanh niên đã từng cắt tóc đi tu. Tu không thành, phá giới đi gánh cát thuê ở bãi sông, bán kẹo ở Hà Nội, bán báo ở Sài Gòn… Sau thời gian lăn lộn trong  mội trường thực tế đầy khắc nghiệt, lam lũ… dường như đã đủ ‘’vốn sống’’, Nguyễn Vĩ quyết định về Hà Nội, hành nghề viết văn, làm báo cùng bạn văn đất Hà Thành. Điều đáng chú ý: Ông đã cùng nhà văn Trương Tửu, Họa sĩ Nguyệt Hồ thành lập nhóm Việt - Pháp, ra tờ báo tiếng Pháp Le Cygne, nhằm truyền bá tư tưởng tiến bộ.

  

Tòan tập Thi Nhân Tiền Chiến - Việt Nam (nxb Văn học - Nguyễn Tấn Long - 1998) thì viết: Tờ Le Cygne có rất nhiều bài viết công kích chính sách , đường lối cai trị của thực dân Pháp… Cơ quan An ninh thực dân, nhận ra: Le Cygne sẽ là mối họa tiềm ẩn đối với chế độ. Họ vội bắt chủ báo Nguyễn Vĩ , đóng cửa vĩnh viễn tờ Le Cygne - kết án tù 6 tháng và phạt 3000 quan tiền .

  

Hết hạn, ra tù, trở về, ông lại viết, chống quân phiệt Nhật… lại bị Nhật bỏ tù.

  

Ra tù, vào Sài Gòn, làm báo Tổ Quốc, rồi báo Dân chủ, Dân ta, tiếp tục đấu tranh không khoan nhượng với chính quyền, bảo vệ quyền lợi cho dân cần lao. Kết qủa: Tất cả các tờ báo đều bị bị đóng cửa. Dường như suốt thời gian  dài, liên tục Nguyễn Vĩ, dùng cây bút, tài năng để phản kháng, phê phán, đấu tranh với bất công.

  

Ngày 7,2.1971, ông mất  trong một tai nạn xe hơi trên đường Sài gòn - Tiền giang (3).

  

Ông Đỗ Đình Thọ kể lại trong tác phẩm: Nguyễn Bính – Thơ và Đời (nxb Văn học 2000): Nguyễn Vĩ rất giỏi tiếng Pháp, làm thơ tiếng Việt khá hay. Một giai thoại văn chương rất thú vị, thời đó lưu truyền thể hiện thi tài, cá tính của Nguyễn Vĩ: Trong một lần Trưởng phòng Kiểm duyệt báo chí của sở Mật Thám Bắc Kì - René Creyssac (R.C) - ‘’tạ sự’’ đến thăm nhóm Việt - Pháp  (lúc Báo chưa bị đóng cửa) - mà theo tin tức mật vụ: Nhóm - có xu hướng ‘’Dân chủ - Tự do’’ - gồm: Nguyễn Vĩ, Nguyện Bính và Họa sĩ Nguyệt Hồ. 3 người quyết định tìm cách đánh tan ấn tượng xấu về tờ Le Cygne của R. Creyssac. Họ bàn bạc đi đến thống  nhất: Rủ y đi ăn, nhậu, giải thích, tranh thủ… rồi ‘’chiêu đãi’’ thuốc Phiện ở tiệm thuốc nổi tiếng Hà Thành thời đó - tiệm Phi Yến Thu Lâm, phố Mã Mây.

  

Để quảng bá cho thương hiệu mình, chủ tiệm cho kẻ chữ Phi Yến Thu Lâm (Yến bay trong rừng Thu), đồng thời vẽ đôi chim Yến bay trên bầu trời. Các khách hút, thường tán: Phiện Thú Lắm (Phi Yến = Phiện. Thu Lâm = Thú Lắm). R.C là con cáo gìa trong nghề.  Y rất giỏi tiếng Việt, tiếng Hán, thuộc Truyện Kiều và am hiểu văn hóa Phương Đông. Cao hứng và cũng muốn thử tài văn sĩ Bắc Hà, R.C ra một  đề cho những người mời ăn, hút - cùng làm thơ, hứa rằng nếu bài thơ hay sẽ được thưởng ‘’mấy điếu (thuốc phiện) chính hiệu…’’. Mọi người tán thưởng. R.C chậm rãi đọc đề ra:

  

‘’Phi yến Thu Lâm… nghĩ cũng hay’’ - đoạn dơ tay làm điệu bộ - Xin mời!

  

Nguyễn Bính  nối ngay

  

‘’Nằm trên giường, tựa nằm trên mây’’

  

Nguyễn Vĩ nối bằng tiếng Pháp nhưng lại hợp cảnh, hợp tình đúng niêm luật:

  

‘’Uyn, Đơ, Troa, Cát – Ken- cờ- Píp’’ (quelques Pipes)

  

Nguyệt Hồ - kết:

  

‘’Quật ngã A nam, ngã cả Tây’’!

  

Bài thất ngôn tứ tuyệt, liên hoàn - của cả 4 người - nói về cảnh hút thuốc Phiện và cái thú đi mây về gió - thật hay:  

Phi Yến Thu Lâm nghĩ cũng hay
Nằm trên giường tựa nằm trên mây 
Uyn đơ, Troa, Cát – Ken cờ Píp
Quật ngã A Nam, ngã cả Tây! (4)  

Điều hay, thú vị ở câu thứ 3: Toàn chữ Pháp nhưng lại rất đúng niêm, luật, âm điệu và rất chỉnh cả nghĩa liên hoàn lẫn tiếng, chữ viết. Thú vị hơn: Nói đúng hoàn cảnh của những con nghiện đang ‘’làm tình’’ Nàng tiên nâu. Quan Cẩm dù vô cùng hài lòng về bài thơ liên hoàn nhưng rất khó chịu câu thư 4 ‘’…quật…  ngã cả Tây’’, biết thóp, Nguyễn Bính nhanh trí giải thích –‘’khách làng … hút làm tình nàng tiên nâu thì tất cả đều phải’’ngã chứ đâu chỉ mình… Tây’’… quan ta nghe, miễn cưỡng… khen hay và giữ đúng lời hứa.                                                                                                                                                  

  

Sự nghiệp Văn - Thơ của Nguyễn Vĩ rất đồ sộ. Ông để lại nhiều tác phẩm gồm tiểu thuyết, biên khảo, thơ… Trong đó có 2 bài thơ rất gía trị: Gửi Trương Tửu và Sương Rơi. Đặc biệt là Bài Gửi Trương Tửu.  Đầu bài thơ đề tựa: Viết trong lúc say... Trên đời có 2 loại người chỉ nói thật, không nói dối: Sắp… chết và Sắp… say (rượu) xỉn.  

Gửi Trương Tửu - theo thể thơ thất ngôn trường thiên, độc vận. Toàn bài được TNVN đăng tải - gồm 6 đoạn, 40 câu, mỗi đoạn nói về một vấn đề. Theo thông lệ của thơ Đường - Vào đề: Tác gỉa giải thích nguyên nhân có lá thư gửi cho bạn rượu - Trương Tửu:   

Nay ta thèm rượu nhớ mong ai
Một mình rót uống chẳng hề say 
Trước kia hai thằng hết một nậm

Trò truyện dông dài, mặt đỏ xẫm
Nay một mình ta một be con 
Cạn rựơu rồi thơ mới véo von    

Nhà thơ đang ‘’khát ‘’rượu, có rựơu nhưng chỉ có một mình. Rượu ngon… (lại) không có bạn hiền, nên nhớ tới Trương Tửu, đành tâm sự với bạn trong tâm tưởng rồi khẳng định: Chỉ cạn rượu (say), ‘’thơ mới véo von’’(hay).

  

Tiếng hót véo von của chim họa mi là tiếng hót hay.

  

Thơ ‘’véo von’’ cũng có thể hiểu là thơ hay…
Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác
Mà coi đồng tiền như cái rác 

Kiếm được xu nào đem tiêu hoang
Rủ nhau chè chén nói huyênh hoang
Xáo lộn văn chương với chả cá
Chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả
Rồi ngủ một đêm, mộng với mơ
Sáng dậy nhìn nhau cừơi hê hê…
Có hơi men, tác gỉa nhớ về qúa khứ, về thời - cả hai nghèo kiết xác. Nhưng khi có tiền, họ vẫn hoang toàng trong đời sống, vung vãi tinh lực, kiến thức - trong những trận say túy lúycàn khôn để có sức ‘’chửi Đông, chửi Tây’’ cho sướng miệng rồi kéo nhau đi thưởng thức món chả cá ngon có tiếng của đất Hà Thành. Đêm đến tiếp tục say với mộng mơ... sáng dậy không còn nhớ  chiếc ‘’Văn tự’’ mua bán… ‘’Trời’’ - kia. Sau trận ‘’quên hết sự đời’’. trở về cõi thực, cả hai nhìn nhau sảng khoái ‘’cười hê… hê’’.
Giấc Nam Kha dứt, chợt giật mình - ‘’Bừng con mắt dậy thấy mình tay không’’, liên hệ với cuộc sống của  kiếp nhà văn mà đau, buồn. Thời đó, dân trí của ta qúa thấp, nhiều người mù chữ. Kinh tế qúa nghèo, đói, lấy đâu ra tiền thừa đẻ mua báo, mua sách đọc giải trí, trừ số ít dân trung lưu, dân buôn bán nhỏ ở thành thị. Do vậy nhà văn không thể bán văn chương, thơ phú để lấy tiền sống tạm qua ngày, đói khổ là phải. Cũng may, Mặt trận Bình Dân Pháp lên nắm quyền ở ‘’Mẫu quốc’’ (…), có một số thay đổi trong chính sách cai trị. Chính phủ thực dân ở Đông Dương muốn lấy lòng dân thuộc địa để tô điểm cho khuôn mặt ‘’Bình dân’’ của Sếp mình, hòng ve vuốt giới trí thức bản địa - nguồn gốc của ngòi nổ phản kháng. Họ giảm bớt sức ép cai trị khiến dân chúng dễ thở hơn (…) trong đó có phần nới lỏng kiểm duyệt Văn chương. Mới chỉ có chút ít quyền, được ‘’nói cho Sướng miệng’’thế thôi, mà văn học nghệ thuật thời kì này đã nở rộ, ra đời nhiều tác phẩm gía trị . Còn đời sống của cả xã hội vẫn chưa có gì thay đổi lớn, vẫn đói rách triền miên. Chúng ta nên nhớ: Giới Văn Nghệ Sĩ khi xưa không được nhà nước cho ăn lương, tất cả đều tùy thân vận động’’Tùy nghi di tản’’. Nhân dân cần lao tất nhiên còn bi thảm hơn, vì chịu số phận của kẻ nô lệ: ‘’Một cổ đôi tròng’’, bịthực dân và phong kiến ‘’Đè đầu cưỡi cổ’’. Sau phút ưu tư, trước hòan cảnh bi đát… tác gỉa ghi lại cảm xúc đang dâng trào:
Thời thế bây giờ vẫn thấy khó
Nhà văn A Nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Và nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm giời: Kiết vẫn kiết!
Mà thương cho tôi, thương cho anh
Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh
Ông trở nên bất đắc chí, đem so sánh cuộc sống của nhà Văn với kiếp sống của Chó - con vật mạt hạng nhất trong số các vật nuôi ở Việt Nam.  Hãy bình tĩnh, hãy ghìm mình lại, đừng tự ái khi gã say ví ta với chó! Thật ra đây chỉ là Ngoa dụ mà Nguyễn Vĩ dùng để miêu tả sự khốn khó của  người Việt dưới chế độ nô lệ. Quan niệm của cả  xã hội: Nhà Văn thưộc tầng lớp ở trên cao mà còn khổ như vậy thì dân đen còn như thế nào? Lời ví von có hơi cường điệu, cũng giống như dân gian bảo tay nói phét, lừa đảo là Bán trời không văn tự, thôi! Vả lại, nếu đem kiếp sống khốn khổ của nhà Văn thời đó mà ví với chó gia súc của dân nghèo thì hơi…qúa. Nhưng nếu ví với Chó Berger, Chó Nhật của dân giầu  và Chó săn của ông chủ thực dân, thì… cũng chẳng ngoa chút nào, thậm chí còn chưa đủ!
Thế nhưng - Người Việt có tính hay mẫn cảm: Tuy nghèo, đói nhưng, tính sĩ diện thì hết chê. Lại nữa: Quan niệm, cái nhìn về Chó của người Việt hoàn toàn khác dân văn minh Tây Âu bởi chú Khuyển của dân ta cũng… ‘’khác‘’chú Cẩu  của họ. Dù thế nào, đem Nhà văn - đại diện cho một tầng lớp Trí thức - ví với Chó thì thật… qúa xá!
Thi sĩ Tản Đà - nổi danh trên Văn trường Việt Nam từ đầu thế kỷ (Tản Đà sinh năm 1888. Nguyễn Vĩ sinh năm 1910) dù cụ là bậc trưởng thượng nhưng không hề phân biệt tuổi tác, thi tài, vẫn coi NV là bạn văn, thường cùng uống rượu . Khi đọc được bài thơ của ‘’hậu bối bất trị’’ - cụ bất bình, hỏi: Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó, anh không sợ xấu hổ à?
Nguyễn Vĩ mơ mơ màng màng - trả lời tiền bối đáng kính: Ví như vậy thì chó xấu hổ chú chúng ta xấu hổ cái nỗi gì! (5).
Ngay trong lúc mê, say, ông vẫn mơ giấc mơ đầy hoang tưởng:
Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng
Tôi làm Trạng Nguyên, anh Tể Tướng
Và anh bên Võ, tôi bên Văn
Múa bút tung gươm há một phen
…(*)
Theo nhà phê bình Nguyễn Tấn Long viết trong Toàn tập - Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến:  bắt đầu từ đây - 14 câu thơ - ‘’Thực dân Pháp không cho Nguyễn Vĩ nói’’ - bị kiểm duyệt cắt bỏ (chắc Hoài Thanh không được đọc):
Cho bõ căm hờn cái xã hội
Mà anh thường kêu, mục, nát, thối
Cho người làm ruộng, kẻ làm công
Đều được an vui, hớn hở lòng?
Bao giờ chúng mình gạch một chữ
Làm cho đảo điên pho lịch sử!
Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa
Hất mồ ngồi dậy cười say sưa
Để xem hai chàng trai quắc thước
Quyét sạch quân thù trên Đất nước?
Để cho toàn thể dân Việt Nam
Đều được tư do muôn muôn năm
Để cho muôn muôn đời dân tộc
Hết đói rét lầm than tang tóc
Rồi tiếp giòng mơ say, ông liên hệ với thực tại - so sánh:
Chứ như bây giờ là trò chơi
Làm báo làm bung, chán mớ đời
Anh đi che tàn một lũ ngốc
Triết lí con Từơu, Văn chương Cóc (6)
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà (7)
Ra chợ bán văn, ngày tháng qua
Đi che Tàn (lọng, Ô) nghĩa là đi hầu.
Anh đi che tàn một lũ ngốc.
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà ra chợ bán... Văn sống qua ngày.
Anh làm Tể tướng, tôi Trạng Nguyên.
  Anh bên Võ, Tôi bên văn - Đúng một phần đời hiện thực, trộn với  giấc mơ của của tác gỉa lúc căn bệnh Nhân cách phân liệt - trỗi dậy!
‘’Con Tườu’’ là thế nào?
- Con Tườu là con Khỉ.
Người Trung Hoa coi con Khỉ, tập trung của cái xấu trước tiên là ngoại hình. Khi ghét người nào đó, họ thường nói câu cửa miệng: Mày hãy soi gương hay đái ra một bãi rồi soi vào đó xem cái ‘’tướng Khỉ’’ của mày đi!
Nhưng khó chịu nhất: Khỉ hay bắt chước và  không có chút ‘’lịch sự’’  tối thiểu như mọi con vật khác: Khi đang diễn trò, thấy nhiều người xúm vào xem… Hậu duệ của lão Tôn - Hoa qủa vương - sẵn sàng vạch chỗ kín ra… gãi hoặc… nghịch bậy mà lẽ ra theo cách nghĩ của người: Phải kín đáo, dấu tiệt!Nhưng được cái con tườu bắt chước rất giỏi.
Con Tườu là vậy.
Triết lí con Tườu là thứ triết lí của kẻ hay bắt chước, triết lí đậm ’’Hầu... phẩm’’, hoàn toàn khác thứ triết lí’’nhân phẩm’’…!
- Còn ‚’’Văn Chương Cóc’’?
- Đó là văn thơ giản lược, sao chép - không phải văn theo kiểu được Viết Sự Kiện - nghĩa là bay bổng! Ẩn dụ này bắt ngưồn từ ý nghĩa của bài thơ Con Cóc - một thứ văn xuôi’’vớ vẩn’’:
Con cóc trong hang - Con có nhẩy  ra
Con có nhẩy  ra -  Con cóc ngồi đấy
Con cóc ngồi đấy - Con cóc  nhẩy đi!  
Qua phút chóang váng, nhà thơ xẹp đi, trở lại hiện trạng cuộc đời rồi tự an ủi mình, an ủi bạn… nhưng chỉ được ít phút, lại nổi xung… lần này tức giận thật sự. Cuối cùng, tỉnh rượu, nhà thơ nhớ lời tiền nhân: ‘’Lập thân tối hạ thị văn chương’’, tự chửi đổng, chửi mình cơ hội, nhiễm nặng tật Thắu cáy học được trong những canh bạc Xì tố.  Nhà thơ chắc mẩm đã ‘’chơi nước cờ cao’’ (…) nhưng thực tế, té ra - cuộc Thắu cáy trở nên rất thấp, dẫn đến gặp Bĩ, thua đâm, đâm thất vọng, ngẩn ngẩn, ngơ ngơ.... tự nhận hành động của mình: Điên!
 

Cho nên tôi buồn không biết mấy
Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa
Bực chí thành say, mấy cũng vừa
Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ
Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ
Rồi đâm ra điên, đâm ngẩn ngơ
Rút cục chỉ còn mộng với mơ!

(Viết trong lúc say - Báo Phụ nữ 193…(?)
Những vần thơ được tác gỉa xử dụng ngôn từ ‘’qúa thật’’ khiến nhà phê bình Hoài Thanh bức xúc, viết trong TNVN - (có phần võ đóan, chủ quan, thiên lệch): ‘’Nguyễn Vĩ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ ra xem nhưng lại tưng hửng trở vào…’’. Bất bình vì Nguyễn Vĩ làm ông ‘’…inh cả tai’’ (nhức óc). Hoài Thanh đã nhìn Nguyễn Vĩ bằng con mắt không mấy thiện cảm.  Có thể ông không được đọc 14 câu thơ mà kiểm duyết Pháp cắt bỏ. Cũng có thể ông tự ái khi Nguyễn Vĩ ví ‘’Nhà văn… như chó’’ nên trút giận… rồi viết ra những giòng văn kia - chăng?
Trên đời này, con người không thích ai làm họ inh tai, nhất là lại cho họ ‘’cái bạt tai’’ làm họ ù tai, khiến nhức óc. Cái tai do trời ban cho con người, có hình thù đặc biệt: Âm thanh dội vào, được các vành tai tiếp nhận, uốn lượn đưa vào màng nhĩ. Âm thanh càng thẽ thọt, hiệu qủa có lúc - (chứ không phải mọi lúc) - càng cao. Âm thanh làm đinh tai, người nghe không chịu được - có lúc, (chứ không phải mọi lúc) - nhức óc, nổi cắu, thậm chí (phát) Điên. Người đã nổi điên, hành động vô ý thức - sẽ xẩy ra và đối tượng gây họa phải lãnh hậu qủa…
Nhưng, vì nói thẳng, nói thật, Gửi Trương Tửu vẫn có nhiều người thích nghe, thích đọc. Cho dù được viết đã trên dưới 70 năm, Thi phẩm của Nguyễn Vĩ vẫn có gía trị Nhân văn mang dấu ấn của thời đại.
Thi sĩ Nguyễn Vĩ là điển hình cho một lớp văn nghệ sĩ đương thời bất mãn vì có tâm huyết, có tài năng nhưng không được thi thố với đời để phục vụ nhân sinh. Gửi Trương Tửu đúng là tác phẩm gía trị của giòng văn chương ‘’Hiện Thực Phê Phán’’ - như cách xếp loại truyền thống của giới phê bình Việt Nam - trước đây. Nguyễn Vĩ và Gửi Trương Tỉu sẽ còn in dấu ấn sâu đậm trong long người đọc Việt từ hơn 70 năm qua , hôm nay và tồn tại mãi mãi trong tương lai !

BERLIN
15.10 2007 15.11.2011

LXQ
  

Ghi chú:

  

(1) - Thơ cũ: Đường luật, lục bát, song thật lục bát - có nhiều quy tắc… Thơ Mới ngược lại, không  gò bó như thơ cũ…

  

(2) - Toàn Tập Thi nhân  Tiền Chiến - Việt Nam - cho rằng: Nguyễn Vĩ sinh năm 1912

  

(3) –Theo TNTCVN Toàn Tập  - Nguyễn Tấn Long - nxb Văn Học - 1998.

  

(4) - Chuyện này in trong Nguyễn Bính – Thơ và Đời, nxb Văn Học 2000

  

(5) – Thi nhân Việt Nam. NXB Văn học 2002.

  

(6) – Trương Tửu lúc đó viết cho báo Hữu Ích của Lê Văn Trương. Nguyễn Vĩ viết cho báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Thảo.

  

(7) - Thời Nguyễn Vĩ sống, các Bà, các Cụ Bà, vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng (Nam Định, Thái Bình…) - đi chợ thường đội thúng, khi đến chợ hạ thúng, bưng thúng, bầy hàng bên trên mẹt đậy – bán cho khách…

  

  
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui