Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
1 Dec.2011

Hồi Kí ĐẮC TRUNG (trích) Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Thể loại khác   
  Lớn | Vừa | Nhỏ
NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
  Đắc Trung
  Hồi Kí (Trích)
VNNĐ - 1.12.2011

Để thực hiện ý tưởng ấy tôi lại "lao đi thực tế". Tôi đến với biệt động thành Sài Gòn. Có đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Sài Gòn – Gia Định, có đơn vị do Thành Đoàn thanh niên cách mạng lập ra. Họ giống nhau: đều rất giỏi, nhiều mưu trí, tổ chức những trận đánh như thần thoại. Đội ngũ cũng đa dạng. Hầu hết là bộ đội, không ít là sinh viên, học sinh, công nhân, có những võ sư và môn đệ từ các lò võ nổi tiếng thuộc trường phái Thiếu Lâm hoặc Triệu Tử Long. Lại có cả những giang hồ hảo hán. Họ căm Mỹ, căm bọn lính đánh thuê ngoại bang ăn hiếp bà con cô bác người Việt mình, họ giết để trả thù, để thể hiện chất yêng hùng hiệp sĩ một cách tự phát, rồi họ được giác ngộ và đi theo cách mạng trở thành những chiến sĩ quả cảm. Nhiều nguyên mẫu nhân vật rất hay, rất hấp dẫn như Ba Bê, Tư Chu...Có những mối tình kỳ lạ như Lê Hồng Tư với Nguyễn Thị Châu lãnh án tử hình mới nhận lời kết hôn...Đi với biệt động tôi có điều kiện xâm nhập tận hang cùng ngõ
hẻm, ngóc ngách của Sài Gòn. Có điều kiện tìm hiểu các tầng lớp xã hội thời Mỹ
ngụy từ cố vấn, chính khách, công chức, tướng lĩnh, sĩ quan, binh lính, cảnh
sát, quân cảnh, giới trí thức, học sinh, sinh viên, giới tu hành của các tôn
giáo, giới thương gia, tiểu thương cho đến những người lao động nghèo khổ và cả
các tổ chức băng nhóm xã hội đen và các ổ bụi đời, hiểu được thế nào là
"Luật giang hồ", "Luật rừng" trong giới "anh
chị". Đi với biệt động tôi có điều kiện tiếp xúc với một số thương gia tỷ
phú ba tầu Chợ Lớn như Lý Long Thân, Lý Đắc, Trần Thành...Những "bố
già" maphia ấy bằng tiền bạc và thế lực họ không chỉ khuynh đảo thương
trường mà cả chính trường ngụy quyền. Đời tổng thống nào cũng ngao ngán mà bất
lực không làm gì được.

  

Năm 1975 tôi chắp bút cho đồng chí Lê Giản, nguyên Tổng giám đốc đầu tiên Nha Công an Việt Nam cuốn hồi ký "Những ngày sóng gió”. Suốt mấy năm kỳ công tìm gặp các nhân chứng và thu thập tài liệu, vất vả, nhưng bù lại tôi được quen biết nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của ngành, trong đó có thiếu tướng Lê Hữu Qua, cục trưởng Cục quản lý trại giam, người có công lớn phá vụ án Ôn Như Hầu từ năm 1946. Được giúp đỡ nên ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng tôi đã tới các trại giam Chí Hoà, Long Thành, Sông Bé và các nơi tập trung quản chế để tiếp xúc với những tướng tá, quan cức cao cấp của chính quyền ngụy, với những phạm nhân trọng án hình sự vốn là các trùm du đãng khét tiếng trong các băng đảng xã hội đen. Tôi ở khá lâu trong Trường phổ thông công nông nghiệp Xuân An, nơi tập trung giáo dưỡng vị thành niên phạm pháp vốn là các đầu gấu trong những ổ bụi đời. Tôi đến Trường phục hồi nhân phẩm Thủ Đức, nơi khám chữa bệnh, giáo dục tạo việc làm cho những phụ nữ vốn trước đây hành nghề mại dâm. Tôi đến Trại mồ côi Gò Vấp, đến Trung tâm nuôi dưỡng người già, tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa Thị Nghè, đến Trung tâm cai nghiền xì ke ma tuý Pha-ti-ma Bình Triệu...Ở đây tôi gặp mấy nhân vật đã để lại những ấn tượng khó quên, nhất là Phi Hùng và Đức "Rây-mông"...

  

Trước khi tôi đi Sài Gòn, các đồng chí ở Cục quản lý trại giam gợi ý: "Vào đó anh cố tìm gặp Đức "Rây-mông". Nhân vật ly kỳ lắm đấy". Đức "Rây-mông" là tướng cướp khét tiếng thời Mỹ ngụy, nhắc đến tên không chỉ giới giang hồ mà cảnh sát cũng ngán. Tôi đã bỏ khá nhiều thời gian và công sức mà vẫn chưa tìm ra. Hồ sơ lưu trữ không có. Đọc những tờ báo trước đây khá thông thạo về xã hội đen cũng chỉ nhặt được mấy mẩu tin vụn vặt về nhân vật này và băng nhóm của anh ta. Nghe nói các báo sợ. Đụng vào là phóng viên thậm chí cả toà soạn ăn đòn thù liền. Dân "anh chị" hiện đang trong tù hoặc đã "rửa dao gác kiếm" rất kính nể, nhưng đều nói: từ sau giải phóng "đại ca" mất tiêu luôn. Nghe tin ổng đã qua Pháp với vợ con.

  

                                                  Một hôm rất tình cờ ở Sở Thương binh - Xã hội thành phố tôi nghe có người nhắc đến tên Đức "Rây-mông", rồi qua đó tôi được biết Đức đang cai nghiện tự nguyện ở Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu. Thế là tôi phóng đến. Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu vốn là cơ sở từ thiện thuộc tu viện dòng Thánh Phao-lô đạo Thiên Chúa. Khuôn viên rộng với những dãy nhà kiến trúc kiểu Pháp, lối đi lát gạch luồn dưới tán lá rợp mát của nhiều loại cây ăn trái sum xuê: xoài, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ, vú sữa...Học viên khoảng gần hai nghìn gồm đủ mọi tầng lớp xã hội là dân nghiện ma tuý từ các phường, quận chuyển đến. Ngoài ra còn một số đến xin cai nghiện tự nguyện bằng kinh phí tự nguyện đóng góp. Đức "Rây-mông" thuộc số đó, nhưng có việc riêng về Sài Gòn hai ngày nữa mới trở lại. Chưa gặp Đức, nhưng ngay tối hôm đó tôi làm quen với người ở chung phòng với Đức, một nhân vật cũng rất thú vị. Đó là nhà báo Thế Bình, phóng viên tự do, chuyên gia bình luận chính trị, thời sự quốc tế và trong nước. Có lẽ anh lấy bút danh Thế Bình vì vậy, chứ tên thật là Phi Hùng, tuổi ngoài bốn mươi, lịch lãm, bộ tóc dài và hàng ria được chăm sóc, tỉa tót hơi cầu kỳ, miệng lúc nào cũng ngậm píp thả khói thuốc qua mũi. Bố là giáo sư dạy Đại học khoa học Sài Gòn, mẹ là thông dịch viên làm việc trong văn phòng Đại sứ quán Hoa Kỳ. Tốt nghiệp Đại học xã hội Vạn Hạnh, Phi Hùng làm báo nhưng không biên chế chính thức ở toà soạn nào. Giỏi ngoại ngữ, đọc nhiều, hiểu biết rộng, đã đi nhiều nước, giao du với những nhân vật quan trọng trong giới ngoại giao, quân sự, an ninh, thương gia và thông tấn. Quen thân với phóng viên các hãng: CBS, UPI, REUTER, NBS, VIES NEWS, AP, ABC NEWS...Thế Bình là nhà báo đẳng cấp cao. Anh không phải vất vả đi săn tin như những phóng viên khác mà thường các chính khách, tướng lĩnh và đồng nghiệp mang tin đến nhờ phân tích. Cách làm việc của anh cũng rất tài tử. Chỉ đọc và viết buổi sáng, chiều tiếp khách, nhảy đầm, chơi ten-nít, đến câu lạc bộ...Phòng làm việc rộng kê chiếc bàn bầu dục, cô thư ký xinh đẹp ngồi sẵn bên máy chữ. Sớm, ngủ dậy, tắm, điểm tâm xong, miệng ngậm píp rít từng hơi thuốc anh thong thả bước từ đầu bàn này đến đầu bàn kia đọc từng câu và tiếng con chữ mổ vào giấy tanh tách. Xong, thư ký chỉnh ngôn ngữ cho chuẩn, anh đọc lại rồi gửi đi. Thế Bình coi mình là nhà báo trung lập không thuộc phe cánh nào vì thế anh thích hành nghề tự do. Viết ít, nhưng mỗi khi bài của anh xuất hiện thường xôn xao dư luận, nhất là trong giới chính khách. Mấy tháng trước do hôn nhân đổ bể, lại ngao ngán về thế sự, anh giải sầu bằng vài lần ghé tiệm hút, cho khuây khoả thôi, mà rồi nghiện lúc nào không biết. Không thể chết hèn vì á phiện, anh đến đây xin cai nghiện tự nguyện và được bố trí chung phòng với Đức. Đều là bạn tình cờ gặp, nhưng chúng tôi trao đổi với nhau rất thoải mái. Bàn về thế sự, Phi Hùng cho rằng cộng sản thắng là tất nhiên bởi họ có cụ Hồ thuộc bậc thánh nhân, biết quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân tộc không chỉ ngoài Bắc mà cả trong Nam giống như các bậc minh quân thời Lý, Trần. Lại có Võ Nguyên Giáp thuộc hàng danh tướng chẳng khác Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo. Nhưng việc tái thiết quốc gia không đơn giản đâu. Bởi cộng sản thiếu các chuyên gia kinh tế giỏi. Xem ra đó là những nhận định khách quan. Chúng tôi trao đổi về triết học, về Jăng-giắc Rút-xô và Môngtecxkiơ về học thuyết Phơ-rớt. Thế Bình có nhiều phân tích sắc sảo. Cũng qua anh tôi biết được nhiều về chế độ thời Mỹ ngụy, về các chính khách và tướng lĩnh, về các phe phái, về tệ nạn xã hội, về cái Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu này về học viên ở đây và cả về Đức "Rây-mông" nữa.

  

Nhà văn đi thực tế mà gặp được những nhân vật như thế thì đối với tôi đúng là may mắn.

  

Hai ngày sau Đức "Rây-mông" từ Sài Gòn lên. Khác hẳn những gì tôi hình dung về anh. Không to cao vạm vỡ, không mặc áo phanh ngực, không đeo dây xích bạc ở cổ, không xăm hình thù kỳ quái trên người, không để tóc dài cũng không gọt trọc đầu hoặc để ria mép, không cốt cách ngang tàng kiểu giang hồ hảo hán. Tuổi khoảng ngoài bốn mươi, nhỏ con nhưng bắp thịt săn chắc, da ngăm đen, đầu húi cao, tóc đen cứng hơi xoăn tự nhiên rất giống người gốc Căm-pốt, bận quần bò, áo phông, trầm tính cương nghị, nhưng dễ gần. Hôm đầu còn dè dặt, những ngày sau cởi mở, chúng tôi thường vừa đi dạo vừa trò chuyện hoặc ngồi bên nhau trên ghế đá dưới tán cây xoài trĩu quả. Ghép nối những chuyện anh kể và nghe được từ người khác có thể tóm lược về Đức "Rây-mông" như sau...

  

Quê Trà Vinh, mười tuổi bỏ nhà đi giang hồ tìm võ sư theo học, hai mươi tuổi mở võ đường riêng, môn sinh đông, tiếng tăm đã lừng lẫy trong giới võ hiệp, đem lòng thương cô gái miệt vườn Lái Thiêu. Một lần lên Sài Gòn cô gái bị tên Mỹ tên là Rây-mông làm nhục. Đức tìm được hắn. Giết. Cắt đầu tên Rây-mông cho đệ tử lái xe Vecxpa tốc độ trăm cây số giờ giữa đô thành Sài Gòn, Đức ngồi sau xách thủ cấp tên Mỹ. Bởi thế dân "anh chị" mới ghép tên thằng Mỹ Rây-mông vô tên Đức để tỏ lòng ngưỡng mộ. Bị truy nã, mai danh ẩn tích một thời rồi lập băng cướp, không giết người, chỉ lấy của bọn giầu chia cho người nghèo, tài trợ các tổ chức từ thiện, cô nhi viện hoặc trung tâm nuôi dưỡng người già cô đơn không nơi nương tựa và nạn nhân chiến tranh. Thanh thế lên như diều, giang hồ hiệp khách tìm đến xin theo ngày càng đông, lấy vùng Thủ Đức làm địa bàn làm ăn. Nhưng rồi tên Ngạn "lỳ", một sĩ quan lính dù lập băng tranh giành ảnh hưởng. Chúng hầu hết là quân nhân và cảnh sát. Ỷ thế cậy quyền lại vũ trang đầy người chúng lộng hành ăn hiếp quá đáng. Tiền bảo kê (đâu chỉ bằng tiền, bằng vàng nữa chớ) mà các chủ tiệm nhảy, tiệm nhậu, sòng bạc, mại dâm...dâng nạp chúng hớt tay trên hết trọi. "Luật giang hồ" một khu rừng không thể hai chúa sơn lâm.Thủ lĩnh phải "đụng" nhau. Được - giữ đất. Thua - thì xin nhận kẻ thắng làm đại ca sáp nhập vô băng đó hoặc cùng đàn em kiếm nơi khác làm ăn. Ngạn "lỳ" và Đức "Rây-mông" hẹn gặp nhau ở sân nhà thờ Phước An vào 12 giờ trưa ngày chủ nhật có sự chứng kiến của các đệ tử. Ngạn "lỳ" chủ quan còn báo cho các bồ bịch của hắn và thủ lĩnh mấy băng đàn em đến "coi Ngạn "lỳ" hạ Đức "Rây-mông" thế nào". Chủ quan là phải, bởi nhà thờ Phước An là sào huyệt của hắn. Hắn đâu có biết nhận lời gặp tại đó là mưu sâu của Đức "Rây-mông" cốt cho Ngạn "lỳ" mất cảnh giác để chơi đòn bất ngờ. Quả nhiên chỉ vài đường dao xuất thần Đức "Rây-mông" đã hạ gục Ngạn "lỳ" ngay từ phút đầu tiên, máu tuôn xối xả, nhưng không chết. Đó là ý của Đức "Rây-mông", hạ uy thế của Ngạn "lỳ" thôi. Vậy mà cảnh sát làm dữ quá, Đức "Rây-mông" phải đưa đàn em đến Quận Sáu-Chợ Lớn, thánh địa của những đại phú người Tầu. Ở đó hiện có một băng toàn dân Hoa kiều do Lý A Đẩu làm thủ lĩnh. Tưởng lại phải đụng độ, nhưng không, oai danh Đức "Rây-mông" lớn quá, Lý A Đẩu dẫn đàn em đến quỳ phục xin được làm đệ tử. Đức "Rây-mông": Ô-kê! Xử sự rất quân tử, không đụng tới quyền bảo kê và các mối làm ăn của chúng, chỉ yêu cầu Lý A Đẩu cung cấp thông tin trong giới ba tầu, việc này chỉ dân người Hoa với nhau mới làm được. Chẳng hạn giới thiệu vài ba nhân viên trong nhà băng của Trần Thành hoặc Lý Long Thân để Đức "Rây-mông" nhận làm đệ tử. Đức "rây-mông" gửi tiền vô đó lấy tài khoản, cho đàn em đứng tên. Mà đàn em là thương gia, bác sĩ, nhà giáo đàng hoàng. Mỗi khi có cha tỷ phú nào đó tới lãnh tiền cỡ chừng vài ba triệu trở lên nhân viên nhà băng cấp cho ổng cái tích-kê hẹn tám giờ ngày mai tới. Đêm đó nhân viên này gọi cho người của Đức "Rây-mông" biết. Hôm sau, trước giờ người của Đức đã tới, diện ngất, com-lê cà vạt, kính trắng cặp da sang trọng như đại phú ngồi sa-lon phòng đợi vờ đọc báo. Khi thấy nhân viên nhà băng đánh rớt chùm chìa khoá, hoặc bỏ kính ra lau, đó là ám hiệu báo cho biết khách hàng đối diện là "con mồi". Khi "con mồi" xách cặp bạc ra, người của Đức "Rây-mông" bám liền, ép sát, họng súng dí vô sườn: "Tụi tui là người của Đức "Rây-mông", quý ông muốn giữ mạng sống thì đưa cặp bạc đây!". Rồi lên xe phóng mất tiêu. Nạn nhân chỉ biết há hốc mồm nhìn theo. Không dám la. Bởi người của Đức "Rây-mông" rải khắp, giả thương gia, quân cảnh, lái taxi...Mà dẫu có la cũng chẳng ích chi, bởi cảnh sát gắn với xã hội đen một băng, chúng thổi còi phóng xe rầm rầm đuổi bắt, nhưng thực ra là để che chở bảo vệ, bạc hốt được chia nhau. Hoặc Lý A Đẩu báo cho biết mấy giờ ngày mốt xe tải mang biển số...xuất phát từ Kiên Giang chở gạo đi Vũng Tầu, gầm xe có chứa ma tuý. Lập tức người của Đức "Rây-mông" bám sát giả cảnh sát chốt chặn. Chỉ lấy bịch ma tuý, hẹn thời gian và địa điểm đem tiền hoặc vàng đến chuộc. Tuy nhiên nguồn thu chính của băng Đức "Rây-mông" không phải do cướp mà từ nhận bảo kê hoặc vận chuyển hàng quốc cấm do các đại phú ba tầu Chợ Lớn cấu kết với bọn tướng tá ngụy thực hiện. Đức "Rây-mông" lập công ty, để rửa tiền là chính chứ không nhằm kinh doanh. Anh mua biệt thự, sắm xe hơi, mướn người hầu. Tư chất chững chạc, bang giao rộng nhưng cẩn trọng nên ngoài bọn đàn em và những người liên quan trong làm ăn chẳng mấy ai biết anh là tướng cướp. Bỗng một hôm báo chí đưa tin: Đức "Rây-mông" vô tù, kỳ lạ hơn ổng tự nạp mình cho cảnh sát. Nhiều người không tin. Nhưng đó là thiệt. Chuyện thế này: một đàn em của Đức "Rây-mông" là Đại "Ca Thai", từng thủ lĩnh băng du đãng "Rồng Xanh" làm mưa làm gió vùng rạp hát Ca Thai, bị cảnh sát bắt, lãnh án tù ba năm. Mãn hạn được tha Đại "Ca Thai" tới quỳ mọp cầu xin và được Đức "Rây-mông" dung nạp. Vài tháng sau hắn liều lĩnh làm vụ cướp tiệm vàng Chấn Hưng trên đường Tự Do và lại bị bắt vô khám Chí Hoà.

  

Một đêm Đức "Rây-mông" cho đàn em bí mật bắt cóc tên quận trưởng cảnh sát khi hắn lén lút đến nhà "bồ nhí", nhốt lại làm con tin rồi đến thẳng Nha Cảnh sát đô thành, xưng danh, đòi gặp chỉ huy thương lượng: Đức "Rây-mông" sẵn sàng vô tù và thả viên quận trưởng đang bị bắt với điều kiện phải trả tự do cho Đại "Ca Thai". Nếu không, con tin sẽ bị giết. Điều kiện được chấp nhận. Hành động sả thân cứu đàn em khiến giới giang hồ hảo hán vô cùng ngưỡng mộ Đức "Rây-mông". Một tờ báo viết: "Đức "Rây-mông" vào tù như thiên tử vào cung". Có phóng đại chút xíu, nhưng không sai: Đức "Rây-mông" ở phòng riêng, đủ tiện nghi, điều hoà không khí, ti-vi, tủ lạnh, rượu ngoại, đồ ăn ngon, muốn gì đàn em đáp ứng, thông tin đàn em thường xuyên cập nhật đầy đủ, trong tù mà vẫn điều hành mọi việc bên ngoài. Tiền, vàng đã đút lót từ chúa ngục đến cai tù, muốn gì chẳng được. Còn ra lúc nào các đại phú ba tầu Chợ Lớn và nhiều tướng lĩnh sẽ lo. Họ không muốn Đức "Rây-mông" trong đó. Những vụ áp phe lớn không thể thiếu anh. Đức làm phách chưa muốn ra cốt nâng cao vị thế. Điều rất thú vị là anh quyết định cưới vợ trong khi đang bị tù. Tiểu thư em gái một ngài trung tướng ngụy du học và tốt nghiệp tiến sĩ luật tại Pa-ri đem lòng yêu, yêu say đắm Đức "Rây-mông". Cô vốn mê tiểu thuyết võ hiệp và Đức "Rây-mông" là hình tượng người hùng đầy chất giang hồ nghĩa sĩ trong dòng văn học ấy. Vụ án không có điều tra, cũng chẳng có xét xử và Đức "Rây-mông" ra tù "như thiên tử rời cung" trong sự nghênh đón của đàn em. Cuộc hôn nhân tốt đẹp, hai năm sau họ sinh bé trai.

  

Cuộc chiến diễn biến khôn lường.

  

Tháng 4 năm 1975, sau ngày phi công phản chiến Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập cả Sài Gòn náo loạn. Khi đó Đức "Rây-mông" đang kẹt trên cao nguyên trung phần bởi một phi vụ ma tuý, hơn hai tuần sau may mắn lắm mới thoát chết về được đến Sài Gòn. Nhà cửa hoang tàn trống trơn. Một đàn em nói không biết tin gì về anh, vợ anh hốt hoảng đáp máy bay cùng thằng nhỏ đi Pháp. Thế cuộc đảo ngược, hết thời làm ăn, nhớ vợ con Đức "Rây-mông" thấy cô đơn tột cùng. Anh giải sầu bằng á phiện, rồi nghiện. Từ Pháp vợ gửi giấy bảo lãnh về thúc hối anh sang. Không thể đem theo sự sa ngã thấp hèn này, Đức "Rây-mông" tìm đến Trung tâm Pha-ti-ma Bình Triệu cai nghiện và ở chung phòng với nhà báo Thế Bình.

  

Tại khám Chí Hoà tôi gặp Võ Đằng Giang, cũng một "dân anh chị" từng khét tiếng trong giới du đãng, đã một thời là đệ tử của Đức "Rây-mông". Giang to cao, cốt cách hơi ngang tàng, đẹp một cách dữ dội. Hắn kể: "Từ hồi tiểu học tôi đã rất mê âm nhạc và dành nhiều thời gian cho việc tập đàn. Ba tôi là công chức giữ chân thư ký trong Toà hình sự đô thành, là người nghiêm khắc đến tàn nhẫn. Ổng la tôi, đánh đập tôi vì mỗi ngày tôi học một sa sút và bê trễ. Năm đệ ngũ tôi thi tú tài phần một bị rớt. Hồi đó tôi đã mười bảy, đến tuổi quân dịch. Tôi trốn không thi hành lệnh gọi nhập ngũ. Là một công chức trung thành mù quáng, ba tôi rất phẫn nộ. Ổng đuổi tôi khỏi nhà. Tôi chơi nhạc khá nên bạn bè giúp đỡ xin được làm nhạc công cho vũ trường Mar-xim, một vũ trường nổi tiếng trên đường Tự Do. Sợ bị truy nã, tôi bỏ vũ trường Mar-xim đi Nha Trang. Đến đây tôi cũng xin làm nhạc công cho vũ trường. Dạo đó ở Nha Trang có băng du đãng do Sơn "trắng" làm thủ lãnh hoành hành. Bọn này là quân nhân ỷ có vũ khí chúng tác quái quá trời. Thấy tôi, một kẻ lạ mặt xuất hiện, nó gọi ra hỏi từ đâu tới. Tôi trình bày hoàn cảnh của mình và xin chúng nó cho được làm ăn yên ổn kiếm sống. Bọn nó chấp nhận nhưng tôi phải bỏ tiền ra bao mỗi khi tụi nó đến đây. Tôi buộc phải chịu. Cũng không kẹt lắm bởi khi đó tôi làm bội tiền. Cũng tại đây tôi cặp bồ với Yến Thu, một ca sĩ mà hồi ở Sài Gòn đã từng cặp với Đức "Rây-mông". Bọn Sơn "trắng" mỗi khi tới thường ép tôi hút thuốc. Trong thuốc có bạch phiến. Lúc đầu hút thấy nóng, rồi quen và tôi nghiền lúc nào không biết. Khi đã nghiền rồi bọn chúng bắt tôi phải bỏ tiền bao chúng hút. Tôi không đủ tiền bao, cãi nhau, rồi đánh lộn. Trong cuộc ẩu đả này tôi bị đau phải tháo chạy. Suốt mấy ngày tôi sống lẩn lút sợ chúng giết. Yến Thu rất lo cho tôi. Không thể ở Nha Trang được, tôi bỏ về Đà Lạt. Bấy giờ gia đình tôi cũng ở Đà Lạt, nhưng tôi không về nhà. Trốn khỏi Nha Trang tôi chỉ có hai bàn tay trắng. Yến Thu vì yêu mà cũng đi Đà Lạt theo tôi. Tôi và Thu lại xin vào làm trong giàn nhạc của vũ trường Duy Tân. Tôi nghiền ngày một nặng. Có đồng nào mua thuốc hết. Tiền lương của Yến Thu tôi cũng lấy nhẵn. Mặc dầu yêu tôi nhưng không thể chịu nổi, Yến Thu xin về Sài Gòn rồi không trở lại Đà Lạt nữa.

  

Năm 1971 tôi bị bắt quân dịch. Người ta tống tôi ra Quy Nhơn. Tôi vẫn nghiền nặng. Nhờ móc nối với ông đại uý chỉ huy, ổng cho tôi tự do đi làm nhạc công ở vũ trường, mặc dầu vẫn có tên trong danh sách quân số đơn vị, tất nhiên tiền kiếm được tôi phải chia cho ổng, phải bao nhậu, bao gái cho không chỉ ổng mà cả mấy vị chỉ huy khác nữa. Sau vì nghiền nặng quá không đủ tiền xài, tôi cãi lộn với họ và lập tức tôi bị tống đi đơn vị chiến đấu. Sợ ra trận chết uổng, tôi trốn và lại về Đà Lạt sống lén lút làm nhạc công. Tôi gặp một vũ nữ tên là Nga. Nga vốn là Việt kiều từ Campot mới hồi hương, có con với một tên tướng nào đó của Xi-ha-núc. Nga cặp bồ với tôi, thuê nhà ở. Gia đình tôi có biết nhưng không thèm hỏi đến, coi như giọt máu rơi, nhất là ba tôi. Ổng căm tôi lắm. Nghiền nặng quá, tiền làm được bao nhiêu cũng không đủ hút. Thấy bọn Sơn "trắng" đi ăn cướp nhẹ ơ, tiền thu bội. Hơn nữa thời đó loại phim cao bồi Mỹ tràn ngập. Cảnh đấu súng, phóng mô-tô, phi dao găm hấp dẫn quá trời. Phần ảnh hưởng của phim, phần cần tiền xài tôi tính chuyện đi cướp. Tôi tìm cách thân với một ông cảnh sát. Ổng này mê súng và dao hơn mê gái. Trong phòng của ổng có đủ loại súng và dao. Tôi bỏ tiền ra bao để ổng huấn luyện tôi cách bắn súng, phi dao. Một lần đến chơi tôi đã lấy cắp của ổng một cây Ru-lô. Thiếu tiền mua thuốc tôi nghĩ ngay tới việc đi cướp. Tôi thích đi cướp chứ không thích ăn cắp. Đi cướp được nhiều tiền hơn và anh hùng hơn. Tuần lễ ấy ở vũ trường Duy Tân xuất hiện một tốp khách du lịch. Họ có năm người, mặc rất sang, tiêu tiền như giấy lộn. Bao gái, uống rượu hảo hạng. Ngay ban nhạc chúng tôi chơi hay họ cũng thả tiền thưởng cả xấp. Nghĩa là mấy cha này rất giầu. Năm đó Mỹ đã vào miền Nam đông lắm. Tôi gần một số thằng Mỹ, cùng tập phóng mô-tô tốc độ lớn. Tôi mua một chiếc 150 phân khối. Tối đó, sau khi mấy vị khách giầu bự từ tiệm ra ô-tô về, tôi phóng xe bám theo liền. Thấy họ vào một vi-la bên sườn đồi. Chiều hôm sau tôi đến quán cà phê gần đó vờ hỏi thuê phòng. Chủ quán chỉ vi-la ấy vẫn cho mướn phòng và còn cho biết thêm vi-la chỉ có một bà chủ đã già, một cô giúp việc và mấy vị khách đang thuê. Tôi quyết định sẽ cướp nhà này. Tôi thân với một thằng bé chừng mười lăm tuổi. Nó không có nghề ngỗng gì chỉ lang thang móc túi. Nó rất quý tôi. Tối đó, độ tám giờ, khi mấy vị khách sộp đang cặp kè với mấy cô vũ nữ và tôi vừa đàn hát xong mấy bài, liền xin phép nhạc trưởng cho nghỉ đi uống nước. Phía hậu trường đèn xanh rất mờ, tôi vội mở hộp đàn lấy cây súng ngắn, mấy trái bóng bàn và một cuộn băng dính của Mỹ rất tốt bề rộng tới mười xăng-ty-mét cho vào một cái túi con bí mật luồn ra phía sau. Tại đó thằng nhỏ đã ngồi sẵn trên xe chờ. Tôi đèo nó đến thẳng vi-la nọ, để nó canh chừng ở ngoài, tôi vào gõ cửa. Một cô gái ra mở. Tôi vội lách vào dùng súng áp đảo bắt há mồm, nhét luôn trái bóng nhựa vào miệng, cắt băng dán kín lại, bắt ngồi vào chiếc ghế có tay ngai, lấy băng dính cột tiếp cô ta vào đấy. Nghe tiếng dép lê, tôi nép vô chân cầu thang, bà chủ đã già từ trên lầu bước xuống bị tôi bắt há miệng nhét trái bóng, dùng băng dính dán kín và cột vô ghế. Xong, tôi cậy tủ vơ vét tiền, vàng, đồ quý nhét đại vào chiếc va ly con xách ra. Xe nổ máy. Thằng nhỏ đèo tôi một đoạn, dừng, tôi nhảy xuống dấu chiếc va-ly vào bụi cây, rồi ung dung trở lại vũ trường. Tất cả thời gian diễn ra chỉ chừng hai mươi phút. Không ai ngờ. Việc trót lọt. Những lần sau tôi đi cướp bằng thủ đoạn khác. Tôi quen lính quân cảnh Mỹ. Bọn chúng có những loại ống bằng cổ tay trong chứa khí độc thường dùng trấn áp biểu tình. Loại này nếu xịt gần sẽ xỉu liền. Có lần tôi thấy xuất hiện trước vi-la nhỏ một bà trạc bốn mươi tuổi, đẹp và rất quý phái. Sau khi tìm hiểu tôi biết bà ta là chủ hãng len Sài Gòn, chỉ có một cậu con trai học trên Đà Lạt, nhưng nội trú trong trường. Vi-la có một người trông coi, những ngày bà chủ lên đây thì người đó được về nhà nghỉ. Tối đó tôi đến gõ cửa. Bà chủ bận đồ ngủ ra mở. Tôi rút súng áp đảo bắt phải nộp tiền. Lúc đầu bà ta hơi hoảng, rồi trấn tĩnh lại ngay. Bà ta hỏi: "Cậu cần bao nhiêu tiền?". "Tôi cần nhiều". Bà ta dẫn tôi lên phòng ngủ, mở tủ lấy ra một xấp bạc lớn, sẻ đưa tôi một nửa. Trao tiền cho tôi xong bà ta càng bình tĩnh hơn. Dẫn tôi trở lại phòng khách, bà ta gieo mình xuống ghế sa-lon, chỉ chiếc đối diện mời tôi ngồi. Tôi không ngồi, vẫn đứng thế thủ, súng lăm lăm trong tay. Bà ta mở tap-luy lấy chai rượu ngoại quốc rót đầy hai ly, mời tôi. Tôi lắc đầu. Bà ta uống một hơi cạn ly thứ nhất, rót tiếp ly khác, bà ta nói: "Tôi muốn hỏi vì lý do gì mà cậu đi làm việc này? Nhìn cậu tôi đoán cậu không phải kẻ cướp. Vậy vì lẽ gì? Tiền tôi không thiếu, tôi có thể giúp, nếu cậu nói cho tôi biết lý do cậu làm điều bất lương này". Tôi im lặng, mắt trân trân nhìn bà ta. Bà ta đẹp một cách lộng lẫy và đầy quyến rũ trong bộ đồ ngủ màu hồng mỏng tang. Bà ta uống hết ly này tới ly khác, vẻ xúc động, than thở về cuộc đời bất hạnh và tình duyên ngang trái của mình. Đại để bà ta rất giầu, khốn nỗi ông chồng bất lực và hèn yếu không đáng một người đàn ông. Bà ta khát khao yêu đương và thèm muốn ân ái...Tôi nhìn đồng hồ: 10 giờ khuya. Tôi quay ra, nhưng đến cửa lại quay vào. Bà ta vẫn ngả người trên ghế. Tôi nhẹ nhàng cúi xuống, định hôn lướt rồi đi, nhưng bà ta bỗng quàng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi bế bà ta lên lầu, vào phòng ngủ. Thế là đêm đó bà ta dâng hiến cho tôi. Rồi cũng từ đấy bà ta thành tình nhân của tôi. Tiền bà ta cấp cho tôi tiêu xài đầy đủ. Cũng từ đó bà ta rất chăm lên Đà Lạt. Chúng tôi lại cùng nhau đi chơi, đi nhảy. Có lẽ mấy người lái xe của gia đình bà ta biết về mách với ông chủ. Bẵng đi hai tháng không thấy bà ta lên. Một hôm tôi vừa vào quán cà-phê chưa kịp uống, bỗng có hai gã lạ mặt ngồi xuống hai bên. Bọn nó nhìn tôi rất sấc xược. Rồi một thằng hất hàm hỏi: "Có phải Võ Đằng Giang?". "Võ Đàng Giang đây. Tụi bay cần gì?". "Có biết bà Bích chớ?". "Biết". "Vậy là được rồi. Trên này tụi bây có nghe danh băng đại ca Đức "Rây-mông "chớ?". "Đù mẻ. Tau là đàn em đại ca Đức"Rây-mông" từ Sài Gòn lên đây". Tôi nói liền một mạch về Đức "Rây-mông" về những đại ca thủ lãnh đàn em khác trong băng khiến chúng trợn tròn mắt: "Thiệt hả? Trời ơi. Tụi em có mắt mà không thấy núi Thái Sơn, mong đàn anh bỏ qua cho nghen...”. Thì ra chúng chỉ là bọn du côn nhãi nhép đang tập làm giang hồ, mượn oai danh Đức "Rây-mông" loè thiên hạ vậy thôi và hai thằng đó kể cho tôi biết chồng người đàn bà ấy thuê chúng lên giết tôi, nào ngờ lại gặp hảo hán. Vậy là tụi nó mời tôi đi nhậu, đi nhảy bằng chính số tiền ông chủ hãng len thuê. Thời ông Thiệu là thế đó. Nghiện hút, tiền bạc, tình dục làm hư hỏng con người. Quân đội, cảnh sát, du đãng, thương gia dựa vào nhau để làm tiền. Biết là thối nát, là vô đạo mà vẫn phải sống...”

  

Ở Trường phổ thông công nông nghiệp Xuân An, nơi giáo dưỡng các cháu vị thành niên phạm pháp. Tôi tiếp xúc với nhiều cảnh ngộ rất khác nhau. Xin trích trong "Sổ tay", tôi ghi theo lời kể của cháu Trần Văn Tuấn: "Ông ngoại cháu là lính ngụy làm ở kho quân nhu Gò Vấp thường lấy đồ tiếp vụ về nhà xài. Bà ngoại chết, bà ngoại ghẻ rất nanh ác. Nội cháu người Pháp, cứ ba năm lại về Pháp chích mỡ. Bà nội người Việt, nói tiếng Pháp thạo. Giầu lắm. Có vi-la và hai dãy nhà lớn trên đường Trương Minh Giảng, mỗi dãy tám căn cho người Mỹ mướn trả đô-la. Có nhiều đô-la gởi nhà băng. Vi-la ông bà nội ở rất sang. Bốn xe hơi. Buồng nào cũng có máy điều hoà. Phòng khách rộng trưng nhiều tranh đắt tiền, đồ cổ quý, đồng hồ treo tường mạ vàng có con chim én chạy theo kim, tới giờ con sóc ra gõ chuông. Ngoài vườn, ngoài hiên nhiều cây cảnh quý, chim quý, có loài đưa từ Pháp sang. Chỉ ông bà ở cùng sáu người hầu. Ba má cháu ở riêng. Ba là cảnh sát, tính rất nghiêm, mặt lạnh như tiền, khét tiếng gian ác, dạy con bằng roi vọt rất tàn nhẫn. Một lần cháu đá cầu làm bể cái ly của ổng. Ổng cột hai giò cháu rút ngược lên trần nhà quất gãy ba cây roi song, rồi hạ xuống xát muối vào những vết roi tứa máu. Hoặc nhét cháu vào bao bố cột túm đầu lại treo lên quất rồi thả vào thùng phuy nước chỉ để thò cổ lên rồi dùng chày gỗ đập ngoài phi. Ổng bồ bịch tùm lum. Đi với gái về má cháu ghen rày la. Nửa đêm ổng rút cây ru-lô bắn lên trần nhà. Đó là kết quả mấy năm ổng làm cảnh sát, chuyên tra tấn người. Ổng vừa làm cảnh sát vừa áp phe buôn lậu. Thất thế trong vụ thanh trừng nội bộ, bị cấp trên tống ra vùng một bắc Quảng Trị. Ra đó chừng hơn một tháng thì thấy cảnh sát đang đêm ập vô nhà tìm bắt ổng. Rất may trước đó mấy giờ ổng đã trốn thoát. Bặt tin tám tháng, một đêm mưa to ổng về. Cả nhà không ai nhận ra vì ổng để tóc lợp gáy, râu rậm kín miệng, bận đồ rằn ri lính dù. Ổng không cho ai nói to sợ lối xóm biết. Sớm hôm sau lại lặng lẽ đi. Thì ra ổng đảo nhiệm trốn về, nhờ dùng tiền chạy vô Trường sĩ quan lính dù. Mấy tháng sau học xong được về Tiểu đoàn 11, Lữ đoàn 2.

  

Má cháu rất hay ghen. Bả thường nhốt cháu trong nhà, khoá cửa, giắt theo chiếc búa con vô người theo rình ổng. Có lần thấy ổng ngồi ôm một con ca-ve trong tiệm cà phê Ái Ly. Bả liền xông vào vừa đánh con đĩ vừa la lối om xòm. Khi ở Vũng Tầu ổng chơi bời quá xá, rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm tùm lum, tiền gửi về khi có khi không. Bả uất quá trả thù bằng cách vào làm trong Sở Mỹ. Bả giống ổng ở chỗ đánh con rất dữ và tệ hơn rất keo kiệt. Cháu xin mấy đồng mua vở mà bả cũng la hoài. Rồi ổng về đưa cả nhà vô căn cứ lính dù gần xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà, trong khu gia binh. Ổng đi hành quân miết ngoài Buôn Ma Thuột, Plây-ku, Kông-tum thi thoảng mới về. Bả đi bồi phòng trong Sở Mỹ, có nhiều tiền khách bao lại thường vớ đồng hồ, bạc họ bỏ quên. Cháu học trong trường giữa khu gia binh do Mỹ xây dựng, đầy đủ lắm. Trường này chỉ dạy cho con lính. Ở đây cháu thân với thằng Bảo và thằng Minh con hai ông đại uý khét tiếng gian ác, chúng được cưng phá phách quá trời. Bọn nó tập cho cháu biết hút thuốc, tiêu tiền, coi phim cao bồi, võ hiệp. Má cháu chưng diện ngất, son phấn nước hoa vào là đi tối ngày. Bả rất mê cờ bạc. Bả hay đánh cháu. Có lần cháu nấu cơm để quên trên bếp ra hồ chơi với bạn, cơm cháy, bả về đánh cháu gãy ba cái roi song, trói lại bắt nhịn cả ngày luôn.

  

Rồi ba cháu đụng độ với cộng quân ngoài Quảng Trị bị thương gãy tay, cụt một giò, thủng ruột xuýt toi mạng, về Sài Gòn chữa mãi mới lành, bị thải khỏi lính. Ổng chán đời. Má cháu chán ổng. Cãi lộn nhau suốt. Ổng say rượu tối ngày chửi bới tùm lum. Bả bỏ nhà vào ở hẳn trong Sở Mỹ, chưng diện, chơi bời, cờ bạc. Nhà tan nát. Cháu sầu quá bỏ học đi bụi đời, sống lơ lửng như những hạt bụi, quên quá khứ và cũng chẳng cần biết tương lai. Tụ tập thành băng có đại ca thủ lãnh. Không nhà cửa lang thang nay đây mai đó, trên người chỉ độc bộ đồ, bẩn thì tháo ra gởi tiệm giặt, thuê bộ khác mặc. Thủ lãnh sai khiến chia nhau đi ăn cắp: giật đồng hồ, dây chuyền vàng, bông tai, móc ví, thấy bà nào giầu đeo vòng cẩm thạch lấy hột trứng gà bất ngờ đập vỡ cho trơn rồi kéo tuột khỏi cổ tay, ăn cắp xe đạp, honda, con heo dầu, gương, đèn ôtô, bẻ khoá vào nhà chôm đồ...Chợ, rạp hát, sân bóng, bến xe, bến tầu, nhà hàng, trên hoả xa, trên xe buýt...là đất làm ăn. Kiếm được ăn tiêu xả láng, vô rạp coi xi-nê, thuê buồng khách sạn. Không kiếm được thì nhịn đói, nằm ghế đá vườn hoa, vỉa hè.

  

Sống cực quá lại bị thủ lãnh đại ca ăn hiếp, cháu bỏ bụi đời xin làm trong tiệm cà phê. Một lần đụng bể chiếc ly bị chủ nhà đánh. Cháu ăn cắp tiền ở đó rồi trốn. Cháu lại xin vào làm trong một quán ăn kiêm nhà trọ. Nhà có 28 phòng. Cháu vừa chạy bàn vừa dắt gái cho khách. Cháu chơi với thằng Hùng. Nó phải dẫn ngoại đi xin ăn, cháu thương lén lấy cơm và đồ ăn cho bà cụ. Chủ nhà biết đánh cháu dữ quá. Cháu thấy con người sao mà tàn ác, sầu đời uất hận cháu lại theo băng thằng Sơn "gấu", Tùng "hổ xám", Vu "cá mập", Độ "khỉ đột", Bảy "thẹo"...đi bụi đời. Lại giựt đồng hồ, bông tai, dây chuyền...Có tiền xài tụi cháu tập chích xì ke. Lần đó thiếu tiền mua thuốc tụi cháu đập một ông già ngất xỉu cướp Honda bị cảnh sát bắt được tống khám Chí Hoà. Mấy tháng sau giải phóng về, chúng cháu được đưa đến đây.

  

Vào cái trường giáo dưỡng này lúc đầu cháu rất bướng. Thày hỏi tên? Cháu nói tên ghi trong hồ sơ đó. Hỏi ba má? Cháu nói con hoang không có ba má. Hỏi quê quán? Cháu nói bụi đời lang thang đầu đường xó chợ làm chi có quê...Cháu lười lao động. Cuốc đất chối tay, cáo bệnh nghỉ, ăn cắp của bạn, đánh lộn tùm lum, chít cả nước bọt vô mặt thày giáo. Bị tập thể kiểm điểm. Uất. Cháu tính chuyện trả thù. Nhưng thày giáo vẫn thương. Rồi cháu bệnh thiệt, sốt ly bì. Thày lo lắng chăm sóc bón cho cháu từng thìa cháo. Cháu nghĩ các thày thương mình thiệt chớ không như ba má. Cháu hối hận. Bây giờ thì cháu tiến bộ rồi...”

  

Tại Trại cải tạo Long Thành (N.765)nơi giam giữ những phạm nhân trọng án. Tôi tiếp xúc không ít quan chức và sĩ quan cao cấp thời Mỹ ngụy. Trong đó có Nguyễn Thị Minh Thiên, cục trưởng Cục Quân huấn thuỷ quân lục chiến của tổ chức hỗn hợp tàn quân sau năm 1975. Đối tượng không chịu trình diện, bị bắt trên đường đi vào mật khu tại một vùng biên giới do tướng Ngô Quang Chưởng chỉ huy bọn tàn binh hoạt động chống phá cách mạng. Vào trại thị không chịu khai, khắc lên tường phòng giam: "Chí những người toan xẻ núi, lấp sông. Dù khám lạnh dù gông cùm ta bất chấp"Ký tên "Một phụ nữ lo việc nước". Ta gài người của mình giả phạm nhân vào cùng phòng giam, được mấy ngày thị hỏi: "Việt cộng cử chị vô đây hả? Chị sẽ không khai thác được gì ở tôi đâu". Nghĩa là thị rất tinh quái và chống cộng quyết liệt.

  

Ở thời điểm tôi gặp thái độ chính trị của chị ta đã có chút thay đổi, nhưng cũng phải mất khá nhiều thời gian và bằng nhiều cách gợi hỏi tôi mới trò chuyện được, sau đó ghi lại...

  

“... Năm 1967, tôi làm thông dịch viên cho vợ chồng ông trung tá Viên. Họ ở Nha Trang phụ trách Câu lạc bộ sĩ quan. Sau Mậu thân 1968 vợ chồng ông Viên về Hậu Nghĩa (Củ Chi)buôn bán với quân đội. Nhờ có nhan sắc và tài nói chuyện tôi quen hầu hết giới sĩ quan cao cấp từ tá trở lên. Tôi có ý thức lợi dụng sự quen biết này. Đầu tiên tôi bắt bồ với Võ Sanh Nhơn tỉnh trưởng Hậu Nghĩa cốt y bao cho vợ chồng ông Viên và tôi được độc quyền giặt ủi và cung cấp thực phẩm cho Câu lạc bộ Sư đoàn 25 bộ binh. Tôi thường đi xe riêng và ngồi trực thăng với Nhơn luôn. Sau đó tôi về Sài Gòn. Tại đây tôi cặp bồ với thiếu tá Võ Văn Nho, trưởng Ty Cảnh sát Gia Định nhằm buôn lậu đồ Mỹ trong phi trường Tân Sơn Nhất. Để đạt việc tôi móc nối với Đào Phi Hùng lính dù không cấp bậc mà rất nhiều thế lực và Lâm Quang Nhược trung tá lính dù. Khi Nho rời ghế trưởng Ty Cảnh sát Gia Định về nắm Sở Ngoại kiều tôi bám rất sát con bài này để móc nối với khách du lịch, đồng thời cặp bồ với Nguyễn Hữu Tùng thiếu tá về thay Nho. Vợ Tùng thân với tôi làm thông dịch viên cho phái bộ Viện trợ quốc tế. Tôi mở rộng quan hệ ra giới quân sự cao cấp. Đi chơi nhiều trong các câu lạc bộ sĩ quan như không quân, dù, tiếp vận...Vừa khôn, vừa xinh đẹp, vừa giầu tôi được mọi người tranh nhau đón tiếp. Noel năm 1968 tôi gặp trung tá quân nhu Phan Văn Lịch, rất đẹp trai, em trung tướng Phan Trọng Chinh bên quân huấn. Chúng tôi yêu nhau và sống với nhau mặc dầu chưa hiểu hoàn cảnh gia đình nhau, bởi cần gì, yêu là đủ. Đó là vào mùa xuân năm 1969. Chúng tôi ở một ngôi nhà sang trọng. Chị gái anh Lịch là Nga, chồng là đại tá Mỹ làm cố vấn trong Phủ Tổng thống. Mãi sau tôi mới biết Lịch đã có vợ quốc tịch Mỹ ở bang Virginia và một con. Tôi yêu cầu anh ấy sang Mỹ lo ly dị với người vợ Mỹ, chỉ có tôi thôi. Ảnh đồng ý và thu xếp đi. Đầu tháng 6 năm 1969 anh ấy được gắn lon đại tá và được cử đi làm tuỳ viên quân sự của chính quyền ông Thiệu ở Đại sứ quán Việt Nam cộng hoà tại Washington trong nhiệm kỳ sáu tháng. Hẹn tôi sáu tháng sau ảnh về mọi việc sẽ thu xếp xong và cưới nhau.

  

2 giờ sáng ngày 6 tháng 9 năm 1969 xe đón anh ấy ra phi trường Tân Sơn Nhất. Từ đó xa luôn. Đôi khi ảnh có gửi thư và tiền về, nói tài sản ở Việt Nam tôi toàn quyền sử dụng. Hai năm sau Lịch bị tù mười tám tháng vì tội tham nhũng hai trăm ngàn đô-la, đào nhiệm khỏi quân đội, nhập quốc tịch Mỹ, hùn vốn với hãng thuốc lá Karavena tại cảng Virginia dưới cái tên Roy Claude Phan Văn Lịch. Tôi yêu. Tôi căm. Khóc và chán chường. Tôi lao vào chơi bời phóng đãng. Trên đường giao du tôi gặp Trịnh Văn Kim là anh trai bố nuôi tôi, ngoài sáu mươi tuổi, làm giám đốc báo chí và có chân trong Ban giám đốc Đài truyền hình Mỹ tại miền Nam ABC NEWS. Tôi cặp bồ và sống với Kim mục đích để Kim bao, song hơn thế, làm việc tại đó dễ nổi tiếng, có tên và hình truyền về Mỹ cho Lịch thấy tôi đâu có xoàng, như thế cho hả. Để không bị ám ảnh kỷ niệm với Lịch tôi bán nhà tới khách sạn Karaven thuê phòng cực sang ở và đi lại với Kim, rồi thuê vi-la ở đường Hàn Thuyên. Với tư cách vợ Giám đốc báo chí tôi có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu, quen với ký giả các hãng thông tấn trong và ngoài nước, đi quay phim chụp hình mọi nơi. Tôi có "Thẻ nhà báo"viết nhiều cho tập san "Sóng Thần"của thuỷ quân lục chiến. Kim bao tôi rất hậu. Ông ta có một vợ năm con, nhưng bà vợ đã lấy trung tá Nhân làm ở Bộ Quốc phòng. Sau đó tôi biết Kim lén tôi cặp bồ với bà Dung. Chồng bà ta là đại tá làm tuỳ viên quân sự ở nước nào đó không biết. Khi tôi đi công cán tại mặt trận miền Trung hai người sống với nhau, đưa nhau đi ăn, đi nhảy. Mùa hè năm 1971 họ say mê ở Vũng Tầu, Nha Trang, Đà Lạt thì tôi lăn lộn trong khói lửa ở Huế, Quảng Trị, An Lộc, Khe Sanh...Bà Dung bốn mươi tuổi nhưng mập mạp trắng trẻo.

  

Khi về, nhân sinh nhật, tôi mở tiệc mời tất cả khách tai to mặt lớn: dân biểu, nghị sĩ, thương gia, giáo sư, nhà văn, nhà báo, tướng tá, các bộ, cục, phủ, nha...cốt đẩy bà Dung ra khỏi tầm tay của Kim. Bị ngợp choáng Kim đưa tôi đi du ngoạn với tư cách cố vấn báo chí cho Kim. Để thoát dần sự bao buộc về tài chính của Kim tôi lao ra làm thương mại, làm đại diện giao dịch cho các công ty xuất nhập cảng. Chạy áp phe cùng với tiền Kim cấp tôi sống rất đế vương. Tôi cộng tác với Hãng kiến trúc Kytaco, Hãng nhập cảng mỹ phẩm Bipertruman, An Long công ty xuất cảng ngư nghiệp...

  

Thời kỳ đỏ lửa năm 1972 tôi có mặt ở bắc Quảng Trị để quay phim, bỏ tiền uý lạo thương binh và tài trợ cho các văn nghệ sĩ ở tập san "Sóng Thần"và các tập san khác của quân đội, quen biết hầu hết tướng tá. Tôi càng nổi tiếng, khắp quân khu ai cũng biết. Dịp này tôi gặp bác sĩ Văn tại Huế. Anh là trung tá thuỷ quân lục chiến. Văn đem lý tưởng dùng y khoa để phục vụ quân đội bảo vệ Tổ quốc. Tôi và Văn yêu nhau. Cũng như trước đây với Lịch, tôi và Văn chưa hề biết gì về đời tư của nhau. Yêu, thích là đủ rồi. Sau đó Văn bị thương đưa về Quân y viện thuỷ quân lục chiến. Tôi có tới thăm Văn và đến nhà báo tin cho vợ anh biết. Vợ anh là luật sư. Thời gian này Kim bỏ bà Dung và lấy cô bạn tôi là Tuyết, thuê nhà riêng ở. Kim dấu tôi nhưng vẫn bao cấp tiền hàng tháng cho tôi đủ. Tôi cứ lờ đi, bởi lúc này tôi cần tiền chứ không cần Kim nữa. Kim mở cho tôi một tài khoản ở nhà băng Đại Nam với số bạc là năm mươi vạn để sử dụng thường xuyên khỏi làm phiền ông ấy. Mấy tháng sau Kim tới thuyết phục tôi cho ông ấy tự do sống với người đàn bà khác tên là Hằng, ba sáu tuổi, bỏ chồng là trung tá Trần Ngọc Ẩn, biệt động quân. Tôi đồng ý với điều kiện bao cấp cho tôi mỗi tháng 150 ngàn đồng. Ổng đồng ý. Cuối năm 1973 Mỹ buộc phải rút hết quân, các hãng thông tấn quân sự cũng rút về New Yook, Kim phải nghỉ việc, ông ta gửi cho tôi bao thư và năm mươi ngàn đồng cuối cùng coi như sự trả giá để thoát của nợ.

  

Bấy giờ tôi làm vũ nữ cho các hộp đêm sang trọng Chợ Lớn. Cuối năm 1972, dịp ăn chơi tôi kiếm tiền vô kể. Tôi quen Đa-vít Lim nổi tiếng công tử Tân Gia Ba độc quyền đường biển Sài Gòn - Singapor, tướng cướp Hấu vùng Tân Châu, bà Kim Long nổi tiếng buôn lậu vùng biên giới Tây Ninh hoặc Nguyễn Thành Danh hạm trưởng Tầu 403 kiêm cướp biển. Bọn ba tầu Chợ Lớn cũng phải kiêng nể tôi. Tôi quen với trung tá Nguyễn Thừa Du ở Cục tâm lý chiến và ra vào đóng góp nhiều ý kiến với trung tướng cục trưởng.

  

Năm 1975 mất Phước Long, vũ trường đóng cửa, tôi lao vào các hoạt động xã hội: uý lạo binh sĩ, thăm viếng thương binh, cứu trợ gia đình binh lính...

  

Khi giải phóng tôi ở nhà ba má tôi. Trước đó chị Nga của Lịch đi Mỹ có cho tôi căn nhà số 110 Nguyễn Đình Chiểu. Tôi lên ở đó. Trước khi bọn sĩ quan đàn em đi cải tạo hoặc hồi hương đến chào tôi và tôi đãi tiệc. Say xỉn họ la lối chửi cả chế độ Mỹ ngụy lẫn chế độ cộng sản. Uỷ ban quân quản tới tịch thu nhà vì của dân di tản. Tôi chống đối bị bắt một tuần. Không còn gì, tôi lang thang. Bọn tài phiệt Chợ Lớn cấp cho tôi tiền nhưng không đủ tiêu xài. Tôi buôn lậu, rồi đi Châu Đốc tìm cách vượt biên. Đi bộ, ba người bị bắt, tôi và bốn người chạy thoát. Tôi gặp Hấu là tướng cướp nhưng dưới chế độ cộng sản đã hết thời làm ăn, không giúp gì được, Hấu dúi cho tôi chút tiền còm rồi đẩy tôi đi. Tôi đi khắp: Bến Tre, Ba Tri, Bà Rịa, Long Khánh, Bình Đại, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Tây Ninh, An Giang...cốt tìm đường vượt biên. Cuộc sống vừa chui lủi, vừa cùng quẫn. Càng ngày tôi càng bất mãn.

  

Cuối năm 1975 tôi nghe đồn có chuyện lộn xộn ở vùng biên giới. Quân ngụy đã tập trung lại được. Các tướng tá đã tề tựu ở mật khu do tướng Lân và trung tướng Ngô Quang Chưởng chỉ huy. Tôi đi Tây Ninh, rồi Châu Đốc. Tôi bắt được liên lạc của tổ chức tàn quân. Tôi được phân công ở lại Sài Gòn lo tiếp vận. Tôi mở quán cà phê để đồng bọn dễ tới liên lạc. Giới tài phiệt ba tầu lại đóng góp tài chính. Người liên lạc từ mật khu tới tôi là thiếu tá Lợi, em nuôi tôi trước đây. Lợi báo cáo cho tôi mọi tình hình ở mật khu. Tôi biết trong mật khu trung tướng Ngô Quang Chưởng là tư lệnh, thiếu tướng Lân là phó, chuẩn tướng Trần Minh Định nắm nội ngoại vụ và tài chính, chuẩn tướng Hiếu là tư lệnh hỗn hợp quân. Tôi khi vào sẽ phụ trách Cục Quân huấn.

  

Tháng 6 năm 1976, tôi tới vùng ba biên giới thuộc Kon Tum. Đến đây tôi gặp đủ mặt: tướng Lân tư lệnh cũ của thuỷ quân lục chiến, đại tá Thọ, đại uý Sơn Hải, trung tá Trường Sơn, trung tá Vượng, cha tuyên uý công giáo là Phê-rô Đỗ Văn Thuận. Trong cuộc họp này tôi nhận chức cục trưởng Cục Quân huấn.

  

Tôi trở lại Sài Gòn, ở nhà bố nuôi tôi, rồi đóng vai cán bộ hải sản đi khắp nơi: Hà Tiên, Rạch Giá, An Giang, Châu Đốc...thường xuyên bằng xe hải sản. Tôi quen biết nhiều lại giầu kiến thức về ngành này nên lọt qua mọi lưới kiểm soát dễ dàng. Tôi quen với Cử ở Trung đoàn 20 và vào được trại giam sĩ quan ngụy. Tôi cặp bồ với Tằng lái xe bộ đội hải quân vì thế tôi đến căn cứ Đồng Tâm luôn. Tôi cặp bồ với Hoạch lái xe từ Phú Khánh-Đắc Lắc, đi nhiều lần để nghiên cứu mạng kiểm soát giao thông và biết ở đâu có căn cứ quân sự dọc tuyến đường này.

  

Sau đó tôi được biết trung tướng Ngô Quang Chưởng thanh lọc bằng cách thí người không ăn cánh với mình cho cộng sản bắt. Có thể tướng Lân của tôi cũng bị ổng thủ tiêu cũng nên. Tôi quyết định vào mật khu xem sao. Và chuyến đi này tôi bị bắt.

  

Vào tù không còn bị thôi miên bởi đô-la, tình dục và quyền lực khiến đầu óc tỉnh táo hơn. Nhiều đêm tôi trằn trọc không ngủ nghĩ về cuộc chiến này và dần dần nhận ra rằng người Mỹ đã nắm rất sâu và có nhiều chiến lược rất cụ thể để chiếm miền Nam Việt Nam ngay sau Hiệp định Giơ-ne-vơ khi Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Trước hết họ tập trung đầu độc thế hệ trẻ bằng các loại văn hoá phẩm. Cho nhập vào miền Nam rất nhiều sách báo, tranh ảnh. Thời kỳ đầu nội dung nhằm giới thiệu nước Mỹ: nước Mỹ giầu, văn minh, tự do, có cao ốc chọc trời, các công trình cực kỳ sang trọng, xe du lịch như mắc cửi. Người Mỹ đẹp, ăn diện, cuộc sống dư thừa sung sướng. Nông dân làm ruộng bằng máy, thu hoạch, chế biến cũng bằng máy, đi lại bằng xe hơi...

  

Để chứng minh điều đó họ đưa hàng Mỹ sang rất nhiều, rất đẹp, giá rất rẻ. Học trò miền Nam được khuyến khích nếu học tiếng Anh sẽ ngồi trường do Mỹ xây, cao đẹp, đựơc phát giấy bút, cặp sách, quần áo đồng phục, có xe đưa đón và ăn trưa không mất tiền. Tiền Mỹ viện trợ chính phủ Việt Nam cộng hoà phải dùng xây trường mới, bệnh viện mới, công sở mới chứ không được dùng làm kinh phí sửa chữa cốt để so sánh với Pháp trước, nhằm nổi bật Mỹ. Cháu nào học Anh ngữ thì được vào "Hội cha mẹ nuôi người Mỹ", tên, địa chỉ được gửi qua Mỹ, tháng sau bố mẹ nuôi từ Mỹ gửi thư, hình và nhiều quà về cho. Nghỉ hè những em học giỏi Anh ngữ được chọn sang Mỹ thăm bố mẹ nuôi. Sang đó được đón tiếp thân tình, đi du lịch trên nước Mỹ, được quà mang về. Tất nhiên kinh phí đó chính phủ Mỹ lo hết. Thế là chúng trở thành những chiếc loa tuyên truyền ca ngợi Mỹ. Sinh viên nếu qua Mỹ học được học bổng hậu, được đào tạo nhiều ngành, đặc biệt ngành tư pháp, hành chính, quân sự, cảnh sát, kinh tế, thương mại... để khi về sẽ tổ chức bộ máy xã hội theo ý Mỹ. Mỹ xây cư xá, làm đường với danh nghĩa "Mỹ quốc viện trợ", nếu qua nhà, vườn cây của gia đình nào, người Mỹ đến tận nơi giải thích, xin lỗi, mong được bồi thường rất sòng phẳng và rộng rãi. Hoặc trả bằng đô-la, vật liệu xây dựng, hoặc đổi đền đến cư xá nào do Mỹ xây tuỳ ý chọn. Mỹ đầu tư vào các công ty của chính phủ Việt Nam cộng hoà, hoặc với tư nhân số vốn lớn nhưng lại lấy lợi nhuận thấp hơn nhiều so với Hoa kiều, Pháp, Nhật...Giỏi tiếng Anh xin vào làm trong Sở Mỹ rất dễ, lương cao lại được mua hàng Mỹ giá rẻ. Đường phố trước đây lấy tên Pháp gây bất bình cho nhiều người Việt Nam nhất là giới trí thức, nay người Mỹ bỏ hết, thay vào đó là tên các anh hùng dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Phan Đình Phùng, Trần Nguyên Hãn...Hơn thế nhiều vị còn được coi là thánh tổ của các binh chủng quân đội Việt Nam cộng hoà như: Trần Hưng Đạo là thánh tổ hải quân, Trần Nguyên Hãn là thánh tổ thông tin, Phan Đình Phùng là thánh tổ công binh...

  

Nghĩa là giai đoạn đầu Mỹ chủ trương từ các cháu học sinh, phụ huynh học sinh, sinh viên, công chức, người làm thuê, thương nhân, nông dân, quân đội...cùng nhiều tầng lớp xã hội đều phục Mỹ, thân Mỹ, coi Mỹ là bạn khác hẳn với Pháp trước đây là kẻ xâm lược, từ đó ngưỡng mộ và muốn theo Mỹ.

  

Sau đó dần dần Mỹ thay đổi nội dung tuyên truyền rất tinh vi nhằm lộn sòng thật giả. Chẳng hạn Gia Long được giải thích là ông vua thức thời, cách tân, bắt tay với Pháp là tiếp cận Tây học át Nho học đã lỗi thời, là du nhập phương thức sản xuất tư bản tiến bộ hơn phong kiến, mà ông Ngô Đình Diệm cũng đang muốn thực thi kế sách ấy. Không chỉ sách báo tranh ảnh nhằm giới thiệu văn minh và sự giầu sang của Mỹ mà nội dung cũng khác để phối hợp với việc ồ ạt nhập phim ảnh Mỹ nhằm truyền bá lối sống Mỹ đặc biệt lối sống vật chất thực dụng, lấy hưởng thụ làm mục đích. Báo, tạp chí, truyền hình giới thiệu quảng bá đề cao phim cao bồi, giật gân tình ái và bạo lực rất cuốn hút nhất là giới trẻ để đón đợi khi trình chiếu là cuồn cuộn đổ đi xem. Họ không chỉ đón đợi mà bị nghiện phim Mỹ. Cùng với phim ảnh là nhan nhản sách tuyên truyền lối sống gấp, sống với dục vọng cá nhân điên cuồng: ăn chơi, tiền bạc, chém giết và tình dục. Các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục...đều có cố vấn Mỹ, đặc biệt chính trị và quân sự người Mỹ can thiệp rất sâu, rất cụ thể. Lớp cố vấn đầu tiên được chuẩn bị sẵn từ Mỹ. Thằng nào cũng rất sõi tiếng Việt, am hiểu văn hoá, tập quán người Việt. Nó được dạy tại Mỹ do người Việt giảng nên có tên nói giọng Bắc, có tên nói giọng Nam. Sau này khi nó thực hiện chiến tranh cục bộ ồ ạt đưa quân vào thì cố vấn cũng ô hợp. Có tên dốt nát văn hoá thấp, xuất thân từ nông thôn, có thằng chưa bao giờ được đặt chân đến thành phố lớn, thậm chí mù chữ, đeo lon trung sĩ làm cố vấn đại đội trong khi chỉ huy đại đội đó lại là một trung uý ngụy đã tốt nghiệp tú tài toàn phần. Nhưng quyền quyết định lại do cố vấn. Bởi thế bất hoà giữa sĩ quan ngụy và cố vấn Mỹ ngày một sâu sắc. Không chỉ trong quân đội mà các lĩnh vực khác kể cả Phủ Tổng thống, chỗ nào có cố vấn Mỹ là có bất đồng với người Việt. Sự suy yếu của Việt Nam cộng hoà một phần cũng vì thế. Song nguyên nhân chính khiến chúng tôi thua, cộng sản thắng bởi cộng sản sống có lý tưởng, chiến đấu có lý tưởng rõ ràng và cao đẹp lại có ông Hồ quá giỏi, tướng Giáp quá tài, được mọi người dân tin tưởng ngưỡng mộ một lòng trung thành sả thân. Trong khi chúng tôi nhất là giới trẻ không được giáo dục. Ngay từ cái điều cốt yếu yêu Tổ quốc, yêu đồng bào cũng không được dạy dỗ, lại bị người Mỹ tìm mọi cách nhồi sọ cách nghĩ Mỹ, lối sống Mỹ. Chúng tôi tự tìm cho mình con đường nào ngắn nhất để có tiền xài. Nhiều tiền bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Bọn trẻ chỉ nghĩ tới lối sống ông hoàng hay đạo tặc. Đời là tiền, là nhục dục, là được mạnh, yếu thua. Mà muốn mạnh, muốn được phải nhiều tiền. Tư tưởng ấy, đạo lý ấy đã phá vỡ bộ óc non trẻ, phá vỡ cuộc đời họ. Trong khi bộ máy cầm quyền thì soạn ra luật mà không trọng luật. Luật chỉ để xử người thế cô, kẻ mạnh, kẻ giầu đâu phải sống trong vòng luật lệ. Bởi vậy triết lý sống vì tiền càng thôi thúc họ. Nhiều tiền sẽ có sức mạnh và có sức mạnh sẽ có nhiều tiền. Suy cho cùng chúng tôi sống chẳng có lý tưởng gì hết, nếu có thì chẳng qua đều bị đồng tiền và những kẻ nhiều tiền thôi miên, chi phối, sai khiến. Kẻ nhiều tiền ấy là Mỹ. Vũ khí mà người Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam không chỉ bom đạn huỷ diệt cuộc sống mà nguy hại hơn là tiền, là đô-la. Chính đồng đô-la Mỹ huỷ hoại nhân cách đạo lý, tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam nhất là những ai mù quáng tin theo chính quyền Việt Nam cộng hoà. Như thế thì chúng tôi thắng cộng sản sao được. Nhưng đó là trong chiến tranh. Nay vãn hồi hoà bình rồi nếu các ông không xác lập được thể chế xã hội mới tốt đẹp hơn. Chừng nào quan lại còn lộng quyền hống hách và tham nhũng, nhân dân bất bình oán hận, trí thức và giới trẻ mất niềm tin thì bại vong cũng ở ngay trước mắt thôi.”

  

Hầu hết các đối tượng tôi gặp ở đấy là sản phẩm chế độ thực dân mới Mỹ ngụy và nạn nhân chiến tranh với biết bao cảnh ngộ, bao số phận bi thương, ai oán, lênh đênh chìm nổi, bất hạnh đau khổ với biết bao sự hỗn tạp, tàn bạo và nhân ái, quỷ dữ và thánh thiện, máu và nước mắt, thác loạn đến điên cuồng trong hoan lạc và say xỉn, đỏ đen thắng thua, bịp bợm trong cờ bạc, thủ đoạn tàn bạo trong chính trường, gian giảo lừa lọc trong thương trường...Nếu không đi thực tế, không gặp, không hỏi, không biết, không hiểu về họ thì dù nhà văn có trí tưởng tượng phi thường đến mấy cũng không thể nghĩ ra được.

  

Những tài liệu trên đây là tôi rút từ ghi chép trong "Sổ tay" chưa sử dụng vào sáng tác nào của mình. Thời gian đã lâu nhưng"vẫn còn tươi nguyên". Tôi viết ra với mong muốn giúp các bạn dễ hình dung và hiểu thêm về xã hội thời ngụy quyền Sài Gòn...

  

  
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui