Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
18 Jun.2016

Trang Thơ Nhạc cuối Tuần:

18 June 16

Nhi Pham sưu tầm

1. Nhớ Quê - Đức Chính - Anh Thơ - GsTranNangPhung - NNS

https://www.youtube.com/watch?v=ONOCQuIz_bE&index=68&list=PLmJhCxnWKaII2cmMCr6Z9dqgUhtzdOq0b

2. Cõi Buồn - Anh Bằng - Hương Lan - GsTranNangPhung - NNS
https://www.youtube.com/watch?v=bGZu5jTjGCU&index=44&list=PLNBxCTIUVE71wRhcWeTGq7r6xhqtAoH2R


3.
Thuyền và Biển - Phan Huỳnh Điểu - Bảo Yến - GsTranNangPhung - NNS
Tình thân,
NNS
Chuyện Thời sự & Xã hội

(i) Nguyễn Quang Dy: Dân tộc và dấu hiệu một cơn bảo tố
“Cuộc sống bắt đầu khi nỗi sợ kết thúc - Life begins where fear ends” (Osho).
Gần đây, ngày càng có nhiều dấu hiệu bất thường về tâm trạng của cộng đồng dân tộc. Nó giống như những dấu hiệu của một cơn bão tố hay sóng thần. Nếu đúng vậy, thì đây là một vấn đề lớn chứ không nhỏ. Phủ nhận hay bưng bít thông tin về một cơn bão tố hay sóng thần là dại dột như tự sát tập thể. Không phải chỉ các chính khách hay thương gia mà cả các nhà tâm lý xã hội học cũng cần quan tâm, vì hệ quả khôn lường của nó. Người ta có thể tháo ngòi một quả bom nổ chậm chứ không thể tháo ngòi một cơn bão tố hay sóng thần. Đài Khí tượng Thủy văn (như Ban Tuyên giáo) chỉ có thể dự báo hay cảnh báo, chứ không thể ngăn chặn hay đối phó được với thảm họa môi trường hay khủng hoảng xã hội. Hãy thử điểm lại vài dấu hiệu điển hình gần đây:
Từ đám cháy Bình Dương và Vũng Áng

Chắc nhiều người chưa quên việc Trung Quốc đem giàn khoan khổng lồ HD981 vào hải phận Việt Nam tại Biển Đông (5/2014) đã tạo ra phản ứng dây chuyền, làm toàn dân phẫn nộ. Sự kiện đó không chỉ là bước ngoặt mới trong quan hệ Việt-Trung mà còn thúc đẩy xu hướng “thoát Trung” trong tâm thức người Việt. Tuy kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh, thân Tàu quá hay chống Tàu quá đều nguy hiểm, nhưng xu hướng cực đoan khó tránh khỏi. Chỉ cần một số kẻ xấu giấu mặt xúi dục là có thể biến cả khu công nghiệp Bình Dương hay Vũng Áng thành biển lửa chống Tàu (và Đài Loan).
Tại sao lại như vậy?
Có nhiều nguyên nhân, nhưng nói một cách dễ hiểu, tâm trạng dân chúng như đám cỏ khô. Đối với hàng vạn công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài thì chống Tàu đồng nghĩa với chống giới chủ, vì họ bị bóc lột và đối xử bất công nhưng không được bênh vực. Tâm trạng đó của dân chúng không phải chỉ có ở Việt Nam mà có ở khắp nơi. Nhưng đám cỏ khô ở Việt Nam dễ cháy hơn vì vai trò công đoàn mờ nhạt. Vì vậy, khi tham gia TPP chính phủ Việt Nam phải chấp nhận vai trò công đoàn độc lập như một cơ chế mới.
Đến biểu tình “cá cần biển sạch, dân cần minh bạch”
Có thể nói sự kiện lớn thứ hai sau vụ dàn khoan HD981 là sự kiện cá chết hàng loạt tại bờ biển mấy tỉnh miền Trung, không chỉ đánh dấu một thảm họa môi trường mà còn là một bước ngoặt mới về tâm thức chống Tàu (hay Formosa) và bất bình với cách ứng xử loanh quanh khó hiểu của chính quyền. Tuy phản ứng lần này của dân chúng ôn hòa hơn nhưng lại bị đàn áp bạo lực hơn. Đây là một chuyển biến đáng lưu ý trong diễn biến chính trị tại Việt Nam, cần được nghiên cứu và lý giải nghiêm túc.
Thái độ phản ứng của dân chúng đối với thảm họa môi trường làm cá chết gắn liền với thái độ độc đoán của chính quyền đối với quyền ứng cử và bầu cử của người dân. Hai vấn đề tưởng khác nhau, nhưng có cùng một mẫu số chung.
Thực ra, thái độ phản ứng của dân chúng hiện nay là muốn tham gia (xây dựng) chứ không muốn chống đối (phá hoại). Họ bất bình chẳng qua vì cuộc sống và môi trường sống bị đe dọa, trong khi chính quyền đáp ứng quá chậm và quá ít (too little too late), thậm chí bị nghi ngờ là bao che cho nghi phạm (Formosa). Tuy xu hướng giảm cực đoan trong phản ứng của dân chúng là một dấu hiệu đáng mừng (như đang trưởng thành), nhưng xu hướng gia tăng bạo lực đàn áp của chính quyền là một dấu hiệu đáng lo (như đổ thêm dầu vào lửa). Hành động bưng bít thông tin, trì hoãn kết luận, tăng cường đàn áp bằng bạo lực, từ chối quốc tế (Mỹ) giúp đỡ, làm cho chính quyền ngày càng bị cô lập và mất lòng dân. Nếu không kịp thời tháo gỡ tình trạng bế tắc đó (như “standoff”) thì một cơn bão tố hay sóng thần có thể ập tới.
Hiện tượng Tạ Bích Loan và Tôn Nữ Thị Ninh
Tại sao MC Tạ Bích Loan lại bị “ném đá”?
Đây không chỉ đơn giản là “tại nạn nghề nghiệp” vì người làm chương trình chủ quan không chuẩn bị kỹ hay kinh nghiệm truyền thông còn non kém, mà chủ yếu là do thái độ (vô ý hay chủ ý) như châm lửa vào một đám cỏ khô chứa chất tâm trạng bức xúc như bột lưu huỳnh. Format chương trình “60 phút mở” không tồi (bắt chước “60 Minutes” của CBS News), nhưng thái độ của MC Tạ Bích Loan và người phụ họa đã biến nó thành một chương trình “60 phút đóng” (như “đấu tố” MC Phan Anh) làm công chúng bất bình. Với tâm trạng bức xúc, công chúng sẵn sàng “ném đá” bất cứ ai hoặc cái gì làm cho họ cảm thấy bị coi thường hay xúc phạm, như một dám cỏ khô dễ cháy.
Tiếp theo Tạ Bích Loan là Tôn Nữ Thị Ninh.
Cả hai đều là “người của công chúng” (celebrity) nên khi làm công chúng thất vọng, họ càng dễ bị “ném đá”. Có lẽ vấn đề của hai vị này không phải là trình độ mà là thái độ: Không nên coi thường công chúng!
Cần lưu ý dư luận phản ứng hai bài của bà Ninh không phải là công chúng bình dân, mà hầu hết là trí thức (cả hai phía). Thái độ phản ứng của họ khác với phản ứng của dân chúng đã từng đốt các doanh nghiệp Trung Quốc (hay Đài Loan) tại Bình Dương và Vũng Áng trước đây. Với tâm trạng đầy bức xúc, người ta có thể biến “Tôn Nữ” thành “Thị Ninh” (như một “coup de grace”)…
Và những chuyện lạ khác…
Không biết do bức xúc hay vì lý do gì khác mà nhân “ngày báo chí cách mạng Việt Nam”, tổng biên tập báo Petro Times đã đăng một bài với cái tít gây sốc, “ Nghề phóng viên là phải như con chó ấy” (Nguyễn Như Phong, Petro Times, 10/6/2016). Ông Phong kết luận, “chó muốn giỏi thì cũng phải nuôi dạy và phóng viên muốn giỏi thì ngoài năng khiếu trời cho, cũng phải được dạy dỗ, rèn luyện tử tế. Và chó khôn nhờ chủ, muốn có phóng viên giỏi cũng phải nhờ chủ”. Không biết đọc xong bài này có bao nhiêu phóng viên muốn trả thẻ nhà báo?
Trong chương trình truyền hình trực tiếp của VTV2 (tối 11/6/2016) về lễ trao giải cuộc thi “những tấm gương bình dị mà cao quý” của báo Quân đội Nhân dân, người ta thấy xuất hiện trên nền phông sân khấu bức tranh cổ động “học tập trước tác Mao Trạch Đông”. Tuy chưa biết sự cố này là do vô ý hay cố ý, nhưng nó lập tức lan truyền trên mạng và gây phản ứng mạnh, do tâm trạng bức xúc của công chúng, như đám cỏ khô dễ bắt lửa.
Cùng ngày 11/6/2016, báo chí “lề phải” và “lề trái” đồng loạt đưa tin “TBT Nguyễn Phú Trọng đã giao Ủy ban Kiểm tra TƯ chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính TƯ, Ban Tổ chức TƯ, Bộ Công an, Ban Cán sự Đảng bộ Công thương, bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Ban Thi đua Khen thưởng TƯ, tỉnh ủy Hậu Giang và Tập đoàn Dầu khí VN khẩn trương kiểm tra, xem xét, kết luận những nội dung mà báo chí đã nêu đối với ông Trịnh Xuân Thanh, Phó chủ tịch Hậu Giang”…Những nội dung TBT yêu cầu kiểm tra không chỉ là việc ông Thanh đi xe Lexus cá nhân biển trắng đổi thành biển xanh mà còn là quá trình bổ nhiệm ông Thanh. Sau Đại hội Đảng, phải chăng đây là phát súng khởi đầu cho chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” kiểu Việt Nam, mà điểm dừng hay hệ quả của nó chưa biết trước sẽ ra sao?
Hệ quả không định trước
Một điều nữa cần lưu ý là các cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn gần đây cho thấy tầng lớp trung lưu và trí thức (gồm cả quan chức) không còn ngồi yên hay đứng ngoài cuộc mà đã bắt đầu tham gia và xuống đường. Có lẽ vấn đề bảo vệ môi trường và quyền bầu cử - ứng cử của công dân đã dẫn đến phân hóa xã hội sâu sắc, bao gồm cả các tầng lớp trên. Không thể dễ dàng chụp mũ nói rằng họ bị thế lực thù địch nào đó xúi dục. Đàn áp bằng bạo lực là một sai lầm lớn, có thể dẫn đến một bước ngoặt mới (game changer). Công chúng nghèo (công nhân và nông dân) có thể không biết hoặc ít sự lựa chọn, nên dễ chấp nhận và cam chịu số phận. Nhưng tầng lớp trung lưu và trí thức thì khác. Nếu quá bất bình và bất an, họ có thể bỏ ra nước ngoài, đem theo tài sản. Con cái họ du học có thể không về nước.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan có lần thốt lên, “lấy ai xây dựng đất nước đây?” Nhưng chính con cháu hầu hết các quan chức lãnh đạo các cấp đều ở nước ngoài (nhưng không phải Trung Quốc). Mặc dù họ có thể thân Tàu hay “chống Mỹ”, nhưng chẳng quan chức nào cho gia đình sang Trung Quốc cư trú, mà chỉ đi Mỹ, Canada, Australia hoặc Tây Âu…
Thực tế phong trào di cư như “bỏ phiếu bằng chân” (và bằng tiền) đã và đang âm thầm diễn ra. Theo thống kê, dòng người và dòng tiền từ Việt Nam (cũng như Trung Quốc) đang ra đi ồ ạt. 64% người giàu Trung Quốc (có trên 1,6 triệu USD) đã hoặc định di cư ra nước ngoài. Trong 10 năm qua, 14.000 tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc (riêng năm 2015 là 1.000 tỷ USD). Còn Việt Nam thì sao?
Năm 2015, riêng loại visa EB-5 (dành cho các doanh nhân muốn đầu tư và định cư ở Mỹ) đã tăng vọt lên 17.662 suất (so với 6.418 suất năm 2014). Người ta nói đồng tiền không những “biết nói” (money talks) mà còn “biết đi” (it walks). Theo tiến sỹ Vũ Quang Việt, trong 6 năm (2008-2013) 33 tỷ USD đã chạy khỏi Việt Nam bất hợp pháp. Hai năm qua xu hướng này càng tăng nhanh, như một nghịch lý đầy bi kịch của đất nước này.
Trong bối cảnh ngân sách quốc gia đang bị thâm hụt và khủng hoảng thiếu do bội chi ngân sách và nợ công quá nhiều, trong khi nguồn vay ODA cạn kiệt, thì xu hướng này có thể là một thảm họa. Nhưng không ai ngăn cản được người dân ra đi khi thực thẩm và nước uống không an toàn, khi không khí bị ô nhiễm, khi các dòng sông và nước biển bị nhiễm độc làm tôm cá chết, và các quyền cơ bản của người dân trong hiến pháp bị tước đoạt.
'Đổi mới thể chế hay là chết'
Bối cảnh trong nước và quốc tế đang thay đổi, với tam giác Mỹ-Trung-Việt đang chuyển động, từ khi Việt Nam quyết định gia nhập TPP sau Đại hội Đảng XII, nhất là sau chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng (7/2015) và chuyến thăm Việt Nam của TT Barack Obama (5/2016) với triển vọng đối tác chiến lược Việt-Mỹ. Vấn đề đặt ra hiện nay là muốn hay không Việt Nam buộc phải đổi mới thể chế và tăng cường hợp tác với Mỹ, vì sự sống còn của nền kinh tế (nguy cơ vỡ nợ) cũng như an ninh quốc gia (nguy cơ mất hết chủ quyền biển đảo).
Trong khi đó kinh tế Trung Quốc đang khủng hoảng và suy tàn, có thể suy sụp nhanh hơn dự kiến. Một dấu hiệu mới là tỷ phú George Soros đang “tái xuất giang hồ” sau khi dự đoán Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing). Thực ra Mỹ không sợ Trung Quốc quá mạnh, mà lại sợ Trung Quốc khủng hoảng và sụp đổ, vì họ được lợi lộc nhiều hơn là thiệt hại khi kinh tế Trung Quốc phát triển. Trung Quốc khủng hoảng sẽ đe dọa kinh tế Mỹ cũng như kinh tế toàn cầu, với “cái bẫy phụ thuộc lẫn nhau” (economic co-dependency trap). Trong bối cảnh đó, Việt Nam làm gì và đi về đâu, hay cứ đứng ngẩn ngơ tại ngã ba đường?... (Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm của tác giả, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, hiện sống ở Hà Nội).

*** Dương Danh Dy: Vô cảm và cực đoan sẽ cản đường hòa giải
“Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ nhưng chúng ta có thể sắp xếp lại tương lai”. (Dalai Lama)
Bóng ma Việt Nam lại trỗi dậy
Theo một khảo sát của viện Gallup (11/2012) Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia vô cảm nhất thế giới (đứng thứ 13 trong tổng số 150 nước). Đó là một tin buồn (bad news). Người Singapore vô cảm thì còn dễ lý giải và hiểu được, vì một quốc gia phát triển (high-tech) dễ làm con người vô cảm (thiếu high-touch). Việt Nam là một quốc gia chưa phát triển (low-tech) mà con người đã vô cảm thì khó lý giải và đáng lo ngại. Còn đáng lo ngại hơn khi vô cảm cộng với cực đoan (như anh em sinh đôi) sẽ cản đường hòa giải. Vì vô cảm và cực đoan dựa vào sức mạnh cứng và bạo lực, dẫn đến xung đột và tội ác, nên hòa giải đòi hỏi lòng nhân ái và vị tha, thái độ ôn hòa và thiện chí. Chỉ có sự tử tế và đồng cảm, vượt qua chấp và ngã, mới tạo được sức mạnh mềm, để hóa giải hận thù và định kiến, ngăn ngừa bạo lực và tội ác.
Là một cựu chiến binh đã nếm mùi Chiến tranh Việt Nam và tham gia quá trình hòa giải (đầy nan giải) trong thời hậu chiến, tôi có dịp kết giao với các cựu chiến binh tham gia chiến tranh cũng như hòa giải, góp phần tạo dựng và phát triển FETP. Tuy không ngạc nhiên, nhưng tôi hơi lo ngại khi “bóng ma Việt Nam” (và Thạnh Phong) lại trỗi dậy, làm u ám bầu không khí hòa giải do cuộc tranh cãi gây bất đồng về vai trò của Bob Kerrey, sau Cơn sốt “Obamania” đầy cảm hứng. Tuy tranh cãi có thể cần thiết, nhưng tranh cãi gây chia rẽ lúc này chỉ có lợi cho ông bạn láng giềng phương bắc. Một khi đã không tránh được tranh cãi thì hãy bình tĩnh lắng nghe nhau, tránh thái độ cực đoan cố chấp, để tìm mẫu số chung cho lời giải, và nên đặt vấn đề tranh cãi cụ thể trong một bức tranh rộng lớn hơn (in perspectives).
Câu chuyện Bob Kerrey và Đại học Fulbright
Gần đây, dư luận ồn ào tranh cãi về Bob Kerrey khi được cử làm Chủ tịch quỹ tín thác của Đại học Fulbright Vietnam (FUV). Sau một thời gian dài tưởng đã trôi vào quên lãng, quá khứ đau buồn của Bob Kerrey liên quan đến vụ thảm sát phụ nữ và trẻ em tại Thạnh Phong (25/2/1969) lại trỗi dậy như bóng ma ám ảnh Bob Kerrey (và tương lai của FUV). Năm 2001, New York Times và CBS News “60 Minutes” đã điều tra vụ thảm sát Thạnh Phong, để lại một vết đen lớn trong sự nghiệp của Bob Kerrey, nguyên Thống đốc bang Nebraska và Thượng nghị sỹ Đảng Dân chủ. Năm 1992, Bob Kerrey đã ra tranh cử tổng thống, nhưng quyết định rút lui sớm khỏi cuộc đua (primary), trước khi bóng ma Thạnh Phong trỗi dậy.
Có một sự thật mà chắc nhiều người đều biết là Bob Kerrey đã thành tâm ân hận sám hối và làm nhiều việc có ích để chuộc lỗi lầm. Không thể phủ nhận vai trò và đóng góp quan trọng của Bob Kerrey, cũng như John McCain và John Kerry, trong quá trình hòa giải và bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt. Gần đây, nếu không có ba vị cựu chiến binh này dũng cảm đứng ra “chống lưng” thì chưa chắc Tổng thống Obama đã dám tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí hoàn toàn cho Việt Nam, tạo ra một bước ngoặt mới cho quan hệ đối tác chiến lược (trên thực tế) giữa hai nước cựu thù, để đối phó với Trung Quốc tại Biển Đông. Kinh nghiệm về giáo dục của Bob Kerrey làm chủ tịch “New School University” (2001-2010) và dự án “Đại học Minerva” cũng là một vốn quý (asset) để đóng góp xây dựng FUV theo mô hình mới.
Nhưng có một sự thật mà chắc nhiều người khó quên là Bob Kerrey có vai trò chính trong vụ thảm sát Thạnh Phong, giết hại 21 thường dân (chủ yếu là phụ nữ và trẻ em) như một tội ác chiến tranh (dù trong hoàn cảnh nào). “Bóng ma Việt Nam” (hay Thạnh Phong) vẫn chưa chết, sẵn sàng trỗi dậy ám ảnh không những Bob Kerery mà còn nhiều người khác. Đừng quên bóng ma Việt Nam đã từng chia rẽ nước Mỹ, đang tiếp tục chia rẽ cộng đồng người Việt, và ám ảnh quan hệ Mỹ-Việt. Vì vậy, cần nhạy cảm với “bóng ma Việt Nam” tránh sa vào tranh cãi gây bất đồng, dễ bị mắc kẹt trong đường hầm không lối thoát (như “catch 22”). Đừng nên cố chấp biến mình thành “tù binh của quá khứ” (prisoners of the past), nhưng cũng đừng chủ quan coi nhẹ bóng ma chiến tranh còn đè nặng lên tâm thức nhiều người. Trong chiến tranh, những người lính (như Bob Kerrey) là nạn nhân của những luật chơi tàn bạo (như “Phoenix program”). Do cực đoan và vô cảm, cả hai phía đã gây ra nhiều tội ác, hận thù.
Muốn biến hận thù thành lòng nhân ái, phải biến gánh nặng (liability) của quá khứ thành vốn quý (asset) cho tương lai, “biến lưỡi gươm thành lưỡi cầy” (turning swords into ploughshares). Đó chính là sứ mệnh của FUV, đã trải qua gần hai thập kỷ “lên bờ xuống ruộng”, nay mới thành hiện thực, để làm đòn bẩy cho quan hệ hai nước. Vì vậy, sứ mệnh của FUV lớn hơn sự nghiệp của từng con người tham gia xây dựng nó. Bob Kerrey là một sự lựa chọn “táo bạo” vì những lý do thiết thực nói trên, nhưng lại gây tranh cãi (như đã từng gây tranh cãi tại New School). Phải chấp nhận rủi ro và cái giá phải trả cho sự lựa chọn đó. Hoặc là phải tránh ngay từ đầu, hoặc là phải kiên trì theo đuổi đến cùng để từng bước hóa giải gánh nặng của quá khứ bằng nỗ lực phi thường cho tương lai. Rút lui giữa chừng là chấp nhận thất bại.
Chiến tranh đã để lại hậu quả khôn lường cho cả hai bên, không chỉ mất mát to lớn về người và của mà còn để lại những vết thương dai dẳng về tinh thần và tâm thức. Đã bốn thập kỷ trôi qua nhưng bom mìn chưa nổ và chất độc da cam vẫn còn đang khủng bố những người dân vô tội, và người Việt Nam vẫn chưa hòa giải được với nhau, vẫn còn hận thù và định kiến. Người Việt cùng một phía cũng dễ bất đồng và xung khắc với nhau. Trong khi vụ cá chết hàng loạt gần đây tại Miền Trung gây ra thảm họa môi trường và khủng hoảng chính trị, làm phân hóa và xung đột xã hội, thì bộ phim “Terror in Little Saigon” đã khơi lại vết thương cũ thời hậu chiến trong cộng đồng người Việt. Phải chăng cũng là do cực đoan và vô cảm?
Trong khi đó, bộ ba cựu chiến binh như “ba ngự lâm pháo thủ” (John McCain, John Kerry và Bob Kerrey) là biểu tượng của hòa giải, là vốn quý (asset) mà Chiến tranh Việt nam để lại như một “hệ quả không định trước” (unintended consequence). Việc làm của họ đã cổ vũ hàng ngàn cựu chiến binh (của cả hai phía) đóng góp vào quá trình hòa giải và hàn gắn vết thương chiến tranh. Chuck Searcy (project Renew) vẫn đang lặng lẽ rà phá bom mìn tại Quảng Trị, Wayne Karlin (nhà văn) viết những cuốn truyện cảm động về hòa giải (“Wandering Souls: the Journey of the Dead and the Living in Vietnam”, Nation Books, 2009)…
Câu chuyện Obamania và Việt Nam
Cách đây hơn 8 năm, người Mỹ đã lên cơn sốt “Obamania”, đổ xô bầu cho Obama, một chính khách trẻ không có tên tuổi, nhưng đã nhạy cảm nắm bắt được tâm trạng cử tri đang muốn thay đổi. Khẩu hiệu “Change, yes we can” đã tạo ra cơn sốt “Obamania”. Nhưng nếu bây giờ (giả thiết) Obama ra tranh cử lần nữa thì chưa chắc thắng, vì giới trẻ “thiên niên kỷ” (Millenials) đã thất vọng và chán ghét các chính khách “nắm quyền lực” (establishment), đơn giản vì họ cho rằng những chính khách này chẳng quan tâm đến họ và không đem lại gì mới cho nước Mỹ, nên họ đã quay ra bầu cho Donald Trump và Burnie Sanders.
Khi sang thăm Việt Nam (23-25/6/2016), Obama đã một lần nữa chứng kiến cơn sốt Obamania lặp lại tại Việt Nam, khi thái độ ứng xử thân thiện và bài diễn văn đầy cảm xúc với “sức mạnh mềm” đã chiếm được “trái tim khối óc” (heart and mind) của người Việt đang thất vọng và bất bình vì những gì đang diễn ra và thèm khát sự thay đổi. Nếu Obama lúc này ra tranh cử (tại Việt Nam) thì chắc chắn sẽ giành được nhiều phiếu. Chuyến thăm Việt Nam chứng tỏ Obama không vô cảm và đã đem lại tầm nhìn mới cho quan hệ Mỹ-Việt. Nếu không khéo thì tranh cãi về Bob Kerrey sẽ tạo ra một sự “hẫng hụt” (như “anti-climax”). Tuy chưa thay đổi được bức tranh nhân quyền tại Việt Nam, nhưng Obama đã đem lại hy vọng đổi mới cơ bản và lâu dài tại Việt Nam, nếu hai nước bắt tay hợp tác chiến lược để đối phó với mối đe dọa của Trung Quốc tại Biển Đông. TPP và quan hệ đối tác chiến lược sẽ hậu thuẫn cho thay đổi thể chế và nhân quyền (như đã hóa giải vấn đề MIA trước đây). Muốn hay không, quá trình đổi mới sẽ diễn ra theo quy luật (“đầu xuôi đuôi lọt”).
Câu chuyện Donald Trump và nước Mỹ
Tại sao đa số cử tri Mỹ bỏ phiếu cho Donald Trump, một tỷ phú lỗ mãng có xu hướng bảo thủ cực đoan, trở thành ứng cử viên Đảng Cộng hòa? Không phải vì người Mỹ quá yêu quý ông này mà chủ yếu vì họ quá chán ghét những ông kia, (thuộc “establishment”). Tuy xu hướng cử tri (lòng dân) đã thay đổi, nhưng lãnh đạo Đảng Cộng hòa và các chuyên gia (pundits) vẫn vô cảm và chủ quan coi nhẹ, trong khi đó Donald Trump và những người ủng hộ đã nhạy cảm hơn, nắm bắt được xu hướng cử tri, nên giành được nhiều phiếu hơn. Nói cách khác, cử tri Mỹ đã nhiều lần cảnh cáo Đảng Cộng hòa (và cả Dân chủ) bằng phong trào “chiếm phố Wall” (occupy Wall street) hay phong trào “tiệc trà” (Tea party), nhưng dường như họ vẫn vô cảm. Khi lãnh đạo Đảng Cộng hòa tìm cách ngăn chặn Donald Trump thì đã quá muộn. Đảng Cộng hòa thất bại là cái giá phải trả cho thái độ vô cảm đó. Nhưng nếu Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ thì có thể là tai họa. Ông ấy có thể đưa nước Mỹ trượt theo xu hướng “biệt lập” (isolationism), quay lưng lại với TPP và “Pivot”.
Hillary Clinton là một sự lựa chọn tốt hơn, tuy con đường đến Nhà Trắng còn nhiều trở ngại và góc khuất (như hồ sơ Benghazi và sử dụng email cá nhân). Việc thắng cử (primary) để trở thành ứng cử viên Đảng Dân chủ chưa thể đảm bảo thắng lợi. Muốn đánh bại được Donald Trump, Hillary Clinton phải thay đổi hình ảnh và chiến lược để thuyết phục và giành được phiếu của giới trẻ “thiên niên kỷ” (Millenials). Dù Hillary Clinton có được Tổng thống Obama ủng hộ, thì khả năng thắng cử không hề dễ, chỉ vì bà là… Hillary Clinton!
Câu chuyện cá chết và Formosa
Hơn hai tháng qua, người Việt vẫn đang bị mắc kẹt trong câu chuyện cá chết hàng loạt tại Miền Trung gây thảm họa môi trường và khủng hoảng chính trị, làm bầu không khí bị đầu độc không kém gì nước Biển Đông bị nhiễm độc. Sự bất cập về truyền thông và lúng túng về xử lý khủng hoảng bộc lộ sự yếu kém và bế tắc về giải pháp, làm người dân lo lắng và bức xúc. Họ càng bất bình và phẫn nộ trước thái độ vô cảm của chính quyền đối với thảm cảnh của ngư dân và biện pháp trấn áp bằng bạo lực đối với biểu tình ôn hòa, trong khi không có biện pháp điều tra thích đáng đối với Formosa là nghi phạm chính. Trong bối cảnh thảm họa môi trường lớn đang de dọa cuộc sống của hàng triệu người gây khủng hoảng lòng tin, không thể đòi hỏi dân chúng bình tĩnh ngoan ngoãn ngồi yên chờ chính phủ giải quyết.
Câu chuyện Vũng Áng và Formosa làm bộc lộ không chỉ sự bất cập lớn về chủ trương đầu tư và bảo vệ môi trường, mà còn bất ổn lớn về lòng tin của dân chúng, là chỗ dựa chiến lược cho an ninh quốc gia và “quốc phòng toàn dân”. Điều này ảnh hưởng nhiều đến hình ảnh đất nước và lòng tin của cộng đồng quốc tế. Bên cạnh quan hệ công chúng tồi, công tác truyền thông cũng kém. Chương trình “đối thoại” (talk show) trên VTV “60 phút mở” (bắt chước chương trình “60 minutes” của CBS News) là một cố gắng cải tiến format có ích, nhưng lại vụng về (như “đấu tố”) nên đổ thêm dầu vào lửa, làm công chúng bất bình “ném đá”. Không chỉ những người làm chương trình vô cảm trước tâm trạng bức xúc của công chúng, mà đa số công chúng cũng cực đoan “ném đá” vùi dập một chương trình mới có ích.
Thay lời kết
Tại sao người dân Hà Nội và Sài Gòn đổ xô ra đường chào đón Obama như người thân (dù Mỹ từng là kẻ thù “nợ máu”), trong khi họ quay lưng lại với Tập Cận Bình như kẻ xa lạ (dù Trung Quốc là bạn vàng “bốn tốt”). Không phải vì họ yêu Mỹ hay ghét Tàu, mà đơn giản vì họ cảm nhận được sức mạnh mềm và dị ứng với sức mạnh cứng. Cũng như người Mỹ, họ chỉ muốn thay đổi cho dễ sống hơn. Vì vậy, hãy tìm cách hóa giải tâm trạng bất an và bức xúc của người dân để khôi phục lòng tin và làm chuyển hóa thái độ vô cảm và cực đoan của chính quyền, một nhân tố cản trở quá trình hòa giải cộng đồng, hội nhập quốc tế và đổi mới thể chế. (Viet-studies - 10/6/2016)

*** Ts Nguyễn Hưng Quốc (VOA): Trường Fulbright Việt Nam và vấn đề ký ức chiến tranh
Vừa qua, ở trong nước, trên báo chí chính thống cũng như trên các diễn đàn mạng, người ta bàn tán sôi nổi về việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Quản trị trường đại học quốc tế Fulbright Việt Nam mới được chính thức cấp giấy phép thành lập tại Sài Gòn. Trường đại học Fulbright Việt Nam là trường đại học tự trị, phi lợi nhuận và theo mô bình giáo dục của Mỹ đầu tiên được thành lập tại Việt Nam.
Trong buổi nói chuyện tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia vào ngày 24 tháng 5 vừa qua, Tổng thống Barack Obama đã xem sự xuất hiện của trường ấy như một dấu son trong tiến trình hoà giải và hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ. Nhiều trí thức Việt Nam chào đón sự ra đời của trường học ấy như một bước ngoặt trong nỗ lực hiện đại hoá ngành giáo dục đại học tại Việt Nam. Người ta hy vọng, với nó, một tầng lớp trí thức mới sẽ được đào tạo một cách bài bản để có thể giúp việc xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, mừng thì mừng, có một số người vẫn áy náy, thậm chí, giận dữ về việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Quản trị. Sinh năm 1943, ông Bob Kerrey là một chính khách khá lớn của Mỹ. Ông từng là Thống đốc tiểu bang Nebraska (1983-1987), Thượng nghị sĩ (1989-2001) và là ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1992. Lúc còn trẻ, đi lính, ông được điều sang Việt Nam. Vào đầu năm 1969, đơn vị của ông gây ra một vụ thảm sát đầy tai tiếng tại làng Thạnh Phong, Bến Tre, ở đó, có 24 người, bao gồm 14 phụ nữ, trẻ em và người già, bị giết chết. Theo lời ông Kerrey, mặc dù ông không trực tiếp giết một ai, nhưng cuộc thảm sát do đơn vị của ông gây ra, cũng để lại trong lòng ông một vết thương và một mặc cảm tội lỗi không nguôi day dứt. Ông luôn luôn tìm mọi cách để chuộc lại lỗi lầm ấy. Trong nhiều vai trò khác nhau trong bộ máy chính trị của Mỹ, ông luôn luôn tìm cách thúc đẩy tiến trình hoà giải giữa hai dân tộc, luôn luôn tìm cách giúp đỡ Việt Nam, đặc biệt về phương diện giáo dục, trong đó có việc thành lập trường đại học quốc tế Fulbright Việt Nam.
Sự hối cải và nhiệt tình của Bob Kerrey vẫn không đủ làm cho một số người Việt Nam hài lòng. Họ vẫn nhớ đến bàn tay vấy máu của ông. Họ vẫn cho việc ông làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị đại học Fulbright Việt Nam là một tín hiệu không tốt: Nó gợi nhớ đến chiến tranh và những tội ác của chiến tranh cũng như nó chạm vào vết thương chưa lành hẳn của nhiều người.
Một số người khác cho cách nhìn ấy nặng về cảm tính. Họ cho trong thời điểm hiện nay, điều Việt Nam cần làm là quên đi những vết thương của chiến tranh, cùng nhìn về tương lai để cùng nhau cộng tác xây dựng đất nước cũng như thúc đẩy tiến trình hội nhập của Việt Nam vào sân chơi lớn của thế giới.
Tôi đồng ý với quan niệm sau, của những người muốn quên thù hận. Nhưng tôi cũng đồng cảm với những người vẫn còn loay hoay với quá khứ. Tuy nhiên, trong bài này, tôi không muốn tham gia vào cuộc tranh luận ấy. Tôi muốn nhân cơ hội này bàn mốt chút về ý nghĩa của ký ức, đặc biệt về ký ức chiến tranh.
Để nhận diện đặc điểm nổi bật nhất của loài người, trước, thời Phục Hưng và Khai Sáng, người ta chú ý đến lý trí (kiểu “tôi tư duy vậy tôi hiện hữu” của Descartes hay “con người là cây sậy biết tư duy” của Pascal); đầu thế kỷ 20, với Phân tâm học, người ta chú ý đến tiềm thức và vô thức; từ vài thập niên trở lại đây, người ta chú ý đến vai trò của ký ức với câu nói nổi tiếng: “Chúng ta là những gì chúng ta nhớ”. Chính ký ức tạo nên ý niệm về bản sắc của cá nhân cũng như của tập thể: Những gì chúng ta nhớ mang lại ý nghĩa cho những gì chúng ta làm, chúng ta thấy, chúng ta nghe, từ đó, góp phần trả lời câu hỏi ta là ai. Ký ức cũng nối liền từng người lại với nhau, tạo thành một cộng đồng, hay rộng hơn, một quốc gia: Đó là một tập thể những người chia sẻ với nhau một số những ký ức chung về nguồn cội cũng như về lịch sử, kể cả lịch sử đương đại.
Liên quan đến chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến đã kết thúc hơn 41 năm, ký ức vẫn tiếp tục tồn tại trong nhiều người, thuộc nhiều thế hệ và thuộc nhiều chỗ đứng khác nhau. Những người lưu vong, hiện sống ở hải ngoại, xa lắc Việt Nam, vẫn không nguôi trăn trở với những ký ức về chiến tranh, đặc biệt về trận Mậu Thân cũng như tháng 4, 1975 và những tháng ngày sau đó, với các trại cải tạo và những cuộc vượt biển đầy nguy hiểm. Những người ở miền Bắc vẫn không quên những chuyến vượt Trường Sơn và những trận mưa bom dữ dội của Mỹ ngay tại Hà Nội. Mọi người vẫn nhớ và những cái nhớ ấy vẫn tiếp tục chi phối cách suy nghĩ cũng như cách hành xử của họ.
Với những người ngoại quốc từng tham gia vào chiến tranh Việt Nam, ký ức ấy vẫn còn nóng hổi.
Tại trường Đại học Victoria, trong ngành Việt học, ngoài các lớp về ngôn ngữ, văn chương và văn hoá Việt Nam, tôi còn có một lớp về chiến tranh Việt Nam, tập trung chủ yếu vào khía cạnh văn hoá và ký ức chiến tranh (Many Vietnams: War Culture and Memory). Thường, mỗi năm, tôi mời một cựu chiến binh của Úc đến trình bày kỷ niệm và kinh nghiệm của họ. Nhớ nhất là cuộc nói chuyện của nhà văn Barry Heard. Ông vừa nói vừa khóc. Sinh viên của tôi vừa nghe vừa khóc. Cuối buổi học, mắt ai nấy đều đỏ hoe. Barry Heard kể ông vào lính lúc mới vừa học xong trung học. Sau mấy tháng huấn luyện quân sự, ông được đưa đến Việt Nam. Sau mấy ngày nghỉ ngơi tại Vũng Tàu, đơn vị của ông được máy bay thả xuống một khu rừng rậm với một chỉ thị: Bắn bất cứ người nào họ gặp. Không bao lâu sau, họ gặp người thật. Họ được lệnh khai hoả. Khi tiếng súng ngưng, họ chạy đến xem. Thấy đó là một đoàn bộ đội, có cả phụ nữ. Lần đầu tiên nhìn người chết, nhất là những người đó chết vì những viên đạn do mình bắn ra, cả đơn vị, gồm những thanh niên vừa mới lớn, oà lên khóc nức nở. Có người còn ói mửa liên tục. Nhưng rồi, họ cũng tiếp tục đi hành quân và tiếp tục bắn giết... Khi trở lại Úc, Heard cứ bị ám ảnh mãi bởi những hình ảnh những xác chết trong rừng rậm ấy. Ông bị khủng hoảng tâm thần đến độ nhiều lần phải vào nhà thương điên. Sau, các bác sĩ khuyên ông hãy viết tất cả những gì ông từng trải nghiệm trong chiến tranh Việt Nam lên trang giấy. Nghe lời, ông viết cả mấy cuốn hồi ký. Tất cả đều bán chạy và từ đó, ông trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất về đề tài chiến tranh Việt Nam tại Úc. Cuối buổi học, tôi hỏi ông bây giờ đã thấy thanh thản hẳn chưa. Ông đáp: Chưa. Ông vẫn bị ám ảnh về những xác chết trong rừng rậm. Thỉnh thoảng ông vẫn bị những cơn trầm cảm. Ông vẫn phải uống thuốc an thần. Ông lấy một phần tiền từ nhuận bút các cuốn sách ông viết để thành lập một quỹ học bổng giúp các học sinh và sinh viên Việt Nam nhưng ông vẫn không dám về Việt Nam. Tôi hỏi tại sao. Ông đáp: Vì sợ. Ông sợ sẽ không chịu đựng nổi khi nhìn lại khung cảnh Việt Nam. Vừa nói ông vừa ứa nước mắt.
Tôi cũng có một người bạn vốn là hoạ sĩ tại Úc. Anh cũng từng tham chiến tại Việt Nam. Anh kể một lần đụng trận; anh nhắm mắt xả súng về phía trước. Khi trận chiến chấm dứt, anh thấy trước mắt mình xác một thanh niên còn trẻ măng. Trên cổ người thanh niên ấy có một sợi dây chuyền với hình Quan Thế Âm. Anh vừa khóc vừa gỡ sợi dây chuyền ấy. Bây giờ, gần nửa thế kỷ sau, anh vẫn còn đeo sợi dây chuyền ấy trên cổ. Một lần, kể lại câu chuyện ấy với chúng tôi, anh vẫn khóc. Những ký ức về cuộc chiến tranh xa xôi về cả không gian lẫn thời gian ấy vẫn còn sống mãi và vẫn còn khiến anh đau đớn.
Tôi nghĩ Bob Kerrey cũng là một người như thế. Cũng không thoát được những ký ức về chiến tranh Việt Nam. Và cũng muốn làm một điều gì đó cho Việt Nam.

*** Hạ Đình Nguyên: Một mũi dao đâm bất ngờ của bà Tôn Nữ...
Thế là cả hai tuần nay không gian mạng đã nhường một góc lớn cho chuyện của bà Tôn Nữ Thị Ninh và ông Bob Kerrey. Nhưng đúng ra là chuyện của chính bà Ninh, chứ ông Bob thì vẫn vậy.
Câu chuyện của bà Tôn Nữ tạm thời che lấp một phần chuyện người dân khắp nước đang bức xúc về cá chết, biển nhiễm độc cùng sự đàn áp bắt bớ đánh đập người biểu tình. Nó che luôn kết quả “thành công rực rỡ” của cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14. Nó gây ồn ã và làm suýt sém một góc tiếng vang của Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến công du Việt Nam. Trong chuyến đi này ông Obama đã tuyên bố chính thức sự ra đời của Đại học Fulbright Việt Nam, và sẽ được khai giảng vào tháng 9 tại TP HCM, mà ông Bob Kerrey sẽ là người phụ trách. Sự lên tiếng của bà Tôn Nữ có nội dung đả kích cá nhân ông Bob như mọi người đã biết. Bà đã khơi dậy và thổi vào đống tro tàn ngọn lửa hận thù của cuộc chiến tranh Việt - Mỹ đã chấm dứt nửa thế kỷ qua, mà cả hai bên Nhà nước đã đồng tình khép lại từ 20 năm qua, sau nhiều năm cố gắng. Bà Tôn Nữ phản đối ông Bob Kerrey với vai trò Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright, bằng cách gợi lại chuyện ông này đã từng là kẻ chỉ huy giết người tại làng Thạnh Phong trong chiến tranh xưa.
Trong chuyến đi của ông Obama sang Việt Nam, niềm hân hoan lớn nhất của người dân; nhất là giới trí thức và giới trẻ, ngoài vấn đề bỏ cấm vận vũ khí sát thương, còn là sự ra đời trường Đại học ấy, với nhiều hy vọng và chờ đón, trong bối cảnh một nền giáo dục bản địa đang hết sức u ám lâu nay, mà tình trạng “tị nạn giáo dục” diễn ra như một cuộc tháo chạy toát mồ hôi của những ai có một ít điều kiện khả dĩ. Bỗng dưng, sự đả kích rất hằn học của bà Tôn Nữ vào ông Bob đã gây ngỡ ngàng không ít và tạo cơn lốc trên mạng. Bà không nói, và cũng không ai nói, rằng bà muốn gây trở ngại cho sự ra đời của trường này. Bà không chống lại cái trường FUV – có chống cũng khó – mà chỉ chống ông Bob Kerrey, người chủ chốt của trường, từng bỏ công sức xây dựng nó, với lý do sự kiện Thạnh Phong như mọi người đã biết.
Bà Ninh cho là ông Bob không xứng đáng phụ trách chức vụ này vì lý do pháp lý, tâm lý, vì quan niệm nhân sinh riêng của bà, hay vì một ẩn ý nhằm thực hiện một chủ trương nào khác? Đó chỉ là những câu hỏi. Dù là lý do nào, chắc chắn Bắc Kinh, và những người có xu hướng thân Bắc Kinh, sẽ rất tán thành điều này, với bất cứ nguyên cớ nào có thể gây nên trở ngại cho sự ra đời của trường, nhất là vì nó chắc chắn không thể là định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng Bắc Kinh Đại Hán, thậm chí là định hướng Khổng Tử vạn thế sư biểu. Chúng không muốn một nền văn hóa - giáo dục nào xa rời và có hại cho chủ nghĩa bành trướng của chúng dưới vỏ bọc của “chủ nghĩa”.
Hẳn là không nên áp đặt bà Ninh vào xu hướng nói trên. Cũng không phải là vấn đề pháp lý, bởi ông Bob Kerrey, ông John Kerry, ông MacCain… đều xuất thân từ trong cuộc chiến, và chưa bị bên nào lên án là tội nhân chiến tranh, khi hai nước nối lại bang giao. Còn vì vấn đề tâm lý trong nhân dân thì cũng không nốt. Dân Việt Nam rất thích du học ở Mỹ, cuộc đón chào rất nồng nhiệt Tổng thống Obama, hai nhà nước đã ký hợp tác toàn diện... đã nói lên điều đó. Nếu vì lý do tâm lý hận thù xưa, nếu có như bà Ninh gợi lên, thì cũng có song không đáng kể.
Vì quan niệm nhân sinh riêng của bà Ninh, hay một ẩn ý nào khác?
Ban đầu, có lẽ không ai nghĩ đến một ẩn ý ngược dòng nào của bà, khi mà hai nhà nước đã nhiều năm thảo luận và đưa đến kết quả thành lập ngôi trường mà Tuyên bố chung Việt – Mỹ ngày 23/5/2016 tại Hà Nội đã khẳng định, Việt Nam và Hoa Kỳ hoan nghênh việc thành lập Đại học Fulbright với mục tiêu trở thành trường đại học đẳng cấp quốc tế của Việt Nam. Nhưng tại sao, người phát ngôn Lê Hải Bình đã đưa ra lời tuyên bố hơi ỡm ờ, nhưng có vẻ đồng tình đưa đẩy với bà Ninh: “việc ông Bob Kerrey, người từng chịu trách nhiệm một vụ thảm sát thời kỳ chiến tranh, làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright cần được xem xét phù hợp với xu thế quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Mỹ”. Và cái phát biểu ngược chiều với xu hướng trên của ông Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM rất được dư luận hoan nghênh: “Giáo dục là khoa học, không lệ thuộc chính trị” lại âm thầm bị rút bỏ khỏi các trang báo nhà nước? Đó là điều khó hiểu.
Không thể đảo ngược được sự ra đời của Đại học Fulbright, nên một bộ phận nào đó đột kích vào cá nhân ông Bob, mà bà Ninh là mũi xung kích?
Dù thế nào thì bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng đã bộc lộ quan điểm cá nhân của bà về phương diện đạo đức và tính cách. Bà có tiếng tăm nổi lên một dạo trong chính trường, nhưng cũng không ai rõ lắm về công trạng “Cách mạng” của bà. Nhân dịp này nhiều người mới rõ thêm. Thì ra cũng không có gì lắm, có thể xếp bà vào loại chính trị “cổ cồn”. Bà nhạo báng tất cả những ai trong nước và ngoài nước muốn “gác lại quá khứ để hướng về tương lai” bằng những lời rất cay độc: “Chúng ta đang chứng kiến một dạng kêu gọi nhau thi đua bày tỏ ‘vị tha, cao thượng’…  Tôi ngạc nhiên về những tình cảm cảm thông sâu sắc dành đặc biệt cho sự khổ tâm của Bob Kerrey với ‘những lời thốt ra từ gan ruột’, ca ngợi ông ‘rất can đảm khi quyết định nhận cương vị hiện nay’!”. “Chúng ta” là ai mà bà nhân danh là đang chứng kiến cái chứng kiến ấy của bà? Cái “ngạc nhiên” của bà lại đầy chất kiêu ngạo. Bà chế nhạo sự sám hối của ông Bob hay có thể của bất cứ ai theo cái cách úp bộ này. Bà thuộc dòng dõi quý tộc, người con xứ Huế, nơi thấm đẫm giáo lý đạo Phật, mà có thể bà chưa từng hiểu “sám hối” là gì. Có lẽ trong đời bà chưa từng có một sai lầm và chưa từng một lần ăn năn hối hận nào, cũng chưa từng biết cảm thông nên bà mới mỉa mai “kêu gọi nhau thi đua bày tỏ vị tha, cao thượng”. Sao mà lời lẽ chanh chua đến thế? “Kêu gọi nhau”, và “thi đua” nữa, hẳn là số đông rồi, bà muốn nói đến những ai thế? Có thể bà rất “căm thù” cái Thạnh Phong chắc, nên quên mọi thứ khác? Quên cả vụ xứ Huế đẫm máu (Mậu Thân) quê bà, quên cả cái Vị Xuyên tàn khốc hơn nhiều lần, mà người dân muốn quên đi để cấp bách chuyển sang một trang mới với một kẻ thù nham hiểm trước mặt.
Về một câu chuyện “ném đá”
Trong sách Phật có chuyện về Angulimala, dòng dõi là con một quan Thượng thư của triều đình Pasenadi, muốn đi tu. Có người đồng môn tị hiềm bảo anh ta cần phải có một món quà cho ông Thầy, là 1000 ngón tay cái của bàn tay phải. Angulimala đã tìm giết được 999 người để có được chừng ấy ngón tay. Xóm làng sợ hãi bỏ chạy hết, Angulimala không tìm ra ai nữa. Anh ta nhìn sang người mẹ, có thể là người thứ 1000 chăng. Bỗng dưng Đức Phật xuất hiện. Đây rồi, đúng là mục tiêu. Anh ta tiến tới, Đức Phật lãng đãng trước mặt nhưng anh ta không thể đuổi kịp, bèn kêu lên: Hãy đứng lại! Phật bảo: Ta đã đứng lại lâu rồi, chỉ có ngươi là chưa chịu dừng lại thôi! Bằng uy lực và thần quang thế nào đó từ Phật phát ra, Angulimala buông dao và sụp lạy, xin làm đệ tử của Phật. Từ đó anh ta tu tập theo Phật. Những lần Angulimala đi khất thực trên đường gặp lại thân nhân những người bị anh ta giết chết phẫn uất và ném đá. Angulimala vẫn nhẫn nhục chịu đựng, xem đó là cái nghiệp mình phải trả. Vua Pasenadi cũng lên tiếng chỉ trích anh ta là kẻ đã từng giết người, nhưng không có luật trả thù với những người đã hối cải. Về sau Angulimala trở thành một trong 18 Phật La Hán. Sách chép đầy đủ tội và công, không bớt phần nào.
Nhà nước Việt Nam và nhà nước Mỹ không bắt tội Bob Kerrey. Tự Bob đã sám hối và làm mọi việc có thể làm, cũng sẵn sàng chịu đựng sự ném đá, và không từ bỏ việc hướng thiện của mình. Nghe tin Bob không từ chức ở cái trường sắp ra đời này, và vẫn kiên nhẫn làm công việc đã được sắp xếp của mình. Đó là một tin vui. Việc bà Tôn Nữ ném đá ông Bob cũng là chuyện thường tình như câu chuyện trên, nhưng trường hợp bà Tôn Nữ xem ra không mấy công bằng. Bà cũng không bằng, và không phải là kẻ trị vì một vương quốc như vua Pasenadi. Cuộc ồn ã trên dư luận mấy tuần qua về cuộc đâm dao bất ngờ vào ông Bob của bà Tôn Nữ có lẽ đã im ắng dần. Riêng bà, hẳn là có một sự mất mát lặng lẽ nào đó. Hy vọng rằng ông Bob Kerrey vẫn là người đầu tiên điều hành trường Đại học Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh với mong muốn là đẳng cấp quốc tế, và ở Bến Tre vẫn tồn tại một Bảo tàng chiến tranh, với một ông Bob của sự kiện thảm sát Thạnh Phong. Nó là đề tài mở sống động dành cho những sinh viên nào muốn làm luận án, là đề tài đáng nói sau một cuộc chiến, là vấn đề nhân văn của “chiến tranh và hòa bình”.

(ii) Thành Nam: Người trong nghề chỉ ra chỗ nguy hiểm tiềm tàng của Formosa
 Với kinh nghiệm một doanh nghiệp đã từng làm về khoáng sản và luyện kim chúng tôi có một số nhận xét về Formosa như sau :
Với sản lượng thép của Formosa là 7.1 triệu tấn/năm. Vậy Formosa sẽ phải thải ra môi trường xung quanh một lượng chất thải rắn thấp nhất là 7,1 triệu tấn/năm, tức 600.000 tấn/tháng. Thành phần của chất thải bao gồm: Đất đá + Các kim loại nặng ngoài sắt + Phốt pho, lưu huỳnh + hóa chất để lọc quặng. (Xin bạn hãy lưu ý: Trong quặng sắt bao giờ cũng chỉ có trên 50% là sắt còn lại là các tạp chất khác). Nếu bố trí một mặt bằng rất lớn ở trên cạn và thành lập những núi thải lớn, thì Formosa cũng phải bố trí một đoàn xe hùng hậu để chở thải đi đổ, chi phí cho vận tải chất thải là 30 tỷ VND/tháng. Nếu tống tất cả ra biển, chưa bàn đến ô nhiễm biển, cũng chưa tính toán kỹ các dòng hải lưu sẽ mang đi thì chỉ trong vài tháng, biển Hà Tĩnh chúng ta sẽ lội tới đầu gối. Cá chết ở miền Trung chỉ là chuyện nhỏ mà toàn bộ Biển Đông cá sẽ tuyệt chủng.
Nếu buộc Formosa phải tách các kim loại nặng & phốt-pho lưu huỳnh ra khỏi chất thải thì Formosa sẽ lỗ vốn và phải đóng cửa ngay sau khi có lệnh ban bố của Nhà nước.
Còn một vấn đề khác hết sức nghiêm trọng mà tôi thấy hình như người Việt Nam chưa ai quan tâm, đó là: Nếu để làm ra 7.1 triệu tấn thép trong một năm, vậy mỗi năm Formosa cần phải đốt hết, thấp nhất là 4 triệu tấn than cốc. Cả một lượng khí CO2 khổng lồ thải ra trên bầu trời Việt Nam, không biết Nhà nước tính toán tới vấn đề này chưa, và Formosa đã có hạn ngạch thải khí CO2 với quốc tế chưa?
Nếu buộc Formosa đóng cửa ngay lúc này, Nhà nước phải bồi thường 28 tỷ USD, đối với Việt Nam chúng ta là một việc quá sức vì hiện nay chúng ta đang phải đi vay mới để đảo nợ cũ. Có 03 điểm tôi xin lưu ý bạn đọc là:
1- Bản chất của ngành luyện kim từ quặng là: Trong quặng kim loại, có rất nhiều các thành phần kim loại nặng khác nhau, người ta chỉ luyện, lọc ra loại kim loại có hàm lượng cao nhất, còn các kim loại khác có hàm lượng thấp sẽ là phế thải đổ đi.
2- Các kim loại nặng nếu được cô đọng thành thỏi sẽ không gây hại cho người. Nếu ở dạng các nguyên tử và trộn lẫn các tạp chất khác thì lại là thứ hết sức độc hại.
3- Ngành luyện kim không thể thu hồi tất cả các kim loại từ một chất quặng, nếu doanh nghiệp nào làm được việc đó thì cũng đồng nghĩa với sập tiệm.
Điều khôn ngoan nhất đối với Nhà nước hiện nay là: Hủy bỏ xả thải của Formosa ra biển, tập kết nó về một bãi. Đó là thứ vật liệu làm gạch không nung và làm đường rất tốt.
Nhà nước cần phải công bố công khai toàn văn: Bản thỏa thuận môi trường giữa Formosa và phía Nhà nước.
Theo quan điểm của tôi: Nước thải trong ngành luyện thép không phải là vấn đề quan trọng, vì nó chỉ là thứ nước tuần hoàn, dùng để làm mát hệ thống vỏ lò, sau một thời gian đóng cặn, người ta mới thải đi. Vấn đề nghiêm trọng là: Cả một khối lượng khổng lồ chất thải rắn, mà từ khi Formosa bắt đầu hoạt động và thải ra. Khối lượng nó là bao nhiêu? Hiện nó đang nằm ở đâu? Sau khi kiểm tra, số lượng ấy đã thu lại được bao nhiêu và còn thiếu bao nhiêu? Nếu còn thiếu bao nhiêu chưa gom lại được, tức là nó đang nằm tại đáy biển bấy nhiêu. Cần phải hướng điều tra vào việc này.
Còn một vấn đề nữa: Tới đây Chính phủ cần phải kiểm soát chặt: Nguồn quặng đầu vào hàng tháng (Không phải thứ quặng sắt nào cũng được phép đưa vào luyện thép). Thực tế thị trường quặng sắt VN mấy năm vừa qua cho thấy: Các thương lái TQ họ cương quyết không mua những loại quặng sắt có hàm lượng Lưu huỳnh, phốt pho và Asen cao, để đem về nước, vì TQ cấm.
Qua sự kiện Formosa, chúng ta nhận ra một điều là Chính phủ có vẻ rất ngây thơ trong vấn đề kiểm soát môi trường trong các dự án Đầu tư nước ngoài. (Bài viết trên đây của tác giả Thành Nam, một doanh nhân Khoáng sản và Luyện kim, bài được gửi cho trang boxitvn).

*** Cánh Cò (RFA): Thưa ông phó Giáo sư, dân không phải là lũ nộm
Trong vụ cá chết tại miền Trung người dân được chính quyền tận tình dẫn giải rằng ăn cá lúc này vẫn an toàn và cứ bình tâm mà ăn. Một cách nào đó, ăn cá trong lúc dầu sôi lửa bỏng là yêu nước, mà yêu nước là “yêu chủ nghĩa xã hội”.
Chính quyền Đà Nẵng phải nói là rất anh hùng trong việc hy sinh bản thân để lấy lại sự bình tĩnh cho người dân. Cán bộ cởi trần xuống biển tắm và ăn bữa tiệc cá hoành tráng trên bờ để người dân thấy rằng ăn cá sẽ không có vấn đề gì.
Vấn đề ở chỗ người dân không chịu tin vì họ đòi phải biết đích thị những con cá nằm trên bàn kia được bắt từ đâu? Nó thuộc quốc tịch nào và ai là người đủ uy tín để nói rằng bọn cá này bị bắt tại khu vực Đà Nẵng hay lân cận? Hình như chưa đủ sức mạnh chèo kéo người dân ăn cá, ông Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát còn mạnh miệng phát động phong trào mua bán cá khắp các tỉnh miền Trung, nếu số cá đó được chứng nhận là từ tàu đánh bắt xa bờ ít nhất là 20 hải lý. Dân không nghe và cũng may, dân…hờ hững.
Và bây giờ dân không còn hờ hững nữa khi một vựa cá tại Vĩnh Linh bị phát hiện có 30 tấn cá nhiễm độc chất Phenol trong khi người chủ vựa trưng ra bằng cớ là đã mua cá từ các tàu xa bờ trong thời gian cá chết. Vậy là lời rao của ông Bộ trưởng Phát là hành vi thúc đẩy người dân vào chỗ chết để chính phủ thoát hiểm bởi các câu hỏi về cá.
Có điều, chính phủ không ngừng lại ván bài gian lận, họ tiếp tục thúc đẩy những kẻ mang danh là trí thức đem lập luận của bà già nhà quê ra đánh lừa dư luận. Trí thức đó là ông PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và thực phẩm, ĐH Bách khoa Hà Nội. Trong bài viết đăng trên VietNamNet ông Thịnh cho rằng cá nục tại Quảng Trị nhiễm Phenol có thể do 2 nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất do nguồn nước biển ô nhiễm, và nguyên nhân thứ hai do vựa cá dùng chất Phenol để bảo quản.
Trong trường hợp nhiễm độc vì ô nhiễm ông Thịnh lãng tránh sự thật rằng thiên nhiên không có độc chất Phenol và vì vậy cần làm rõ ai, đơn vị nào có đủ khả năng thải một lượng độc chất lớn đến nỗi gây tác hại cho hàng trăm tấn cá khi số lượng nước biển nhiều như thế? Đáng ngạc nhiên hơn, khi đã xác định là Phenol bị ngấm vào 30 tấn cá như vậy nhưng ông PGS-TS này lại mạnh miệng cho rằng: “Trường hợp này không nhất thiết phải tiêu huỷ vì 30 tấn cá rất nhiều tiền, có khi cả cơ nghiệp của người dân.” Nếu biết làm một bài tính nhẩm ông Thịnh sẽ thấy 30 tấn cá khi được ăn theo như lời khuyên của ông và hậu quả xảy ra thì bao nhiêu người, bao nhiêu tiền tỷ phải bỏ ra để điều trị và bao nhiêu nước mắt sẽ đổ xuống vì nghe lời khuyên vô nhân tính của ông? Không thể dùng từ nào khác ngoài hai chữ “nhà quê” để diễn tả cách ông PGS hướng dẫn cho người dân khi muốn ăn cá chết. Ông dạy rằng hợp chất Phenol rất dễ hoà tan trong nước nên có thể xử lý bằng cách rã đông cá tự nhiên. Và đây là cách rã đông của ông: “Để cá không bị nát, có thể lấy nước đá lạnh ngâm cá rồi tháo nước đi, làm 2-3 lần sẽ khiến Phenol giảm nồng độ. Sau đó kiểm tra lại nồng độ Phenol 1 lần nữa trước khi cấp đông trở lại”. Làm như rất thành thật, ông bày vẽ: “Nếu gia đình nào cẩn trọng, khi mua cá về để rã đông tự nhiên, sau đó ngâm và rửa dưới nước sạch, nước ấm nhiều lần, nếu có Phenol sẽ tan ra. Đặc biệt nên vứt bỏ da, các mô xốp như ruột, mang cá vì những mô này dễ nhiễm độc hơn”. Ôi dân tôi, sống hơn bốn mươi năm sau ngày giải phóng vẫn cặm cụi ngồi “rã đông” từng con cá nhiễm độc chỉ vì tiết kiệm vài ngàn bạc cụ Hồ, bất kể con cá đó nó nuốt chất độc vào cơ thể rồi chất độc ấy ngoan ngoãn nằm bên ngoài lớp thịt của nó để ông PGS “rã đông” theo cách thủ công này hay không. Người dân đủ khôn ngoan để biết độc chất sẽ tan vào từng tế bào của cá và nằm đó phục kích những “lý thuyết” xảo trá như của ông Bộ trưởng Cao Đức Phát và hôm nay tới ông PGS Nguyễn Duy Thịnh. Người dân chúng tôi biết rằng ông đưa lý luận này ra để cứu đảng, và do non nớt vụng về ông để lộ bản chất không nên có của người trí thức: giả trá và ngụy biện, thậm chí chụp mũ người dân để tăng thêm trọng lượng của loại lý luận thời đồ đá trong khi ông không phải là một viên chức an ninh. Dân không còn ngu khi nghe lời ông mà “yêu nước quên thân” để ông PGS có cơ hội “vì Formosa phục vụ”. Ông đưa ra cách nói quy chụp theo sự mớm lời của ai đó muốn đánh tráo tội danh này cho người hiền lương khi ai cũng biết đích danh thủ phạm thải độc. Ông cho rằng có thể do người dân cố tình đưa Phenol vào cá để bảo quản. Mờ mờ ảo ảo, đánh lận con đen ông cho là có khả năng người mua cá chết về rồi dùng Phenol để bảo quản cá, ông viết “Trường hợp này phải xử nghiêm vì vi phạm pháp luật. Nếu cố tình lấy cá chết mang về bảo quản bằng Phenol thì cá đó còn bị nhiễm độc kép do bản thân con cá đã chứa độc tố trong quá trình bị vi sinh vật phân huỷ, giờ lại thêm Phenol thì cá này buộc phải tiêu huỷ”. Trước khi xác định cái cần xác định là “tiêu hủy” ông lái chiếc xe chở cá về hướng khác: người dân.
Ôi, tôi không biết nói gì với sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội dưới tài năng dẫn dắt của ông, tôi chỉ chia sẻ niềm đau của người dân Vĩnh Linh vì cả tin lời ông Cao Đức Phát mà bây giờ sắp phải vào tù thế thân cho Formosa nếu phán xét của ông Nguyễn Duy Thịnh được ai đó mang vào tòa án áp dụng cho bà Lê Thị Thuộc chủ nhân vựa cá Dũng Thuộc nơi chứa 30 tấn cá nục nhiễm độc chất Phenol.

*** Hồng Hải: Ông Nguyễn Hùng Long & Ngụ ngôn con ếch và nồi nước sôi
Báo Dân Trí, ngày 13-6-2016, ông Nguyễn Hùng Long, Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) trấn an dân chúng:
“một người Việt Nam bình thường (nặng 50-55kg) ngày nào cũng ăn 2 lạng cá thì hàm lượng 0,037mg chất Phenol trong 1kg cá nục vẫn là an toàn”. Nghe quan nói thế, mọi người cũng hơi bị… an tâm.
Dẫu sao cũng xin kể ngụ ngôn Con Ếch Và Nồi Nước Sôi hầu bà con:
Kể rằng, con ếch bắt về bỏ ngay vào nồi nước sôi, nó sẽ nhảy bổ ra ngoài; còn nếu không nhanh chân, nó chịu ngoẻo. Ngược lại, ta cứ bỏ nó vào nồi nước lạnh, bắc lên lò lửa, cho nước ấm dần lên: 30 rồi 40 độ, thì chàng ếch ta cứ vô tư ngồi nghe tiếng lửa lách tách, thây kệ nước lên 45 rồi 50 độ. Đến khi hiểu ra, thì đã muộn…Vâng, thì dân Việt Nam ta cứ theo phận chú ếch, mà ngồi. Chả sao cả đâu! (FB Inrasara
)

*** Mạnh Kim: Trung Quốc là một đất nước dã man chưa trưởng thành
Hơn ba tuần chúi mũi vào đống tài liệu làm trong gần 10 năm lẫn lượng tài liệu khổng lồ trước đây chưa có thời gian đọc hoặc đọc chưa thật sự kỹ, về sự “trỗi dậy” của Trung Quốc, để nhìn lại sức mạnh thật sự và điểm yếu của họ, vẫn chỉ thấy một xác tín không thể chối bỏ: Trung Quốc là một đất nước dã man chưa trưởng thành. Bất luận kinh tế họ phát triển như thế nào và đời sống vật chất người dân khác biệt so với thời Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc thế kỷ 21 vẫn còn cách rất xa những giá trị văn minh hiện đại.
Trung Quốc thế kỷ 21 vẫn tồn tại song song với Trung Quốc thế kỷ 19, với phế tích phong kiến, với mô hình toàn trị trong đó người dân bị chà đạp bằng gót giày quan lại hủ lậu vừa ngu dốt vừa ác độc. Pháp luật không có đất sống ở một đất nước công an trị như Trung Quốc. Sự tham lam dã man của chế độ cai trị Trung Quốc không chỉ diễn ra với người dân họ. Chính sách đối ngoại của họ cũng dã man và bán khai tương tự. Họ không giống bất kỳ quốc gia văn minh nào, không phải vì họ vượt trội về mặt “tư cách quốc gia”, mà vì họ không xây dựng được những chuẩn mực và giá trị phổ quát tạo nên một cường quốc. Họ tách biệt với phần còn lại thế giới không phải vì họ “lớn” hơn tất cả mà vì họ “nhỏ” hơn, và ti tiện hơn, so với tất cả... Siêu cường không chỉ nói đến sức mạnh kinh tế. Siêu cường còn là quốc gia tạo ra được những giá trị mà thế giới phải học theo. Thế giới vẫn nghe đến và học từ “giá trị Mỹ” hoặc “giá trị Nhật”. Một số giá trị đó không bất biến. Chúng thay đổi theo thời gian cùng sự thay đổi cách sống lẫn nhận thức. Giá trị Nhật thế kỷ 19 là cầu tiến và canh tân. Giá trị Nhật ngày nay là bác ái và nhân đạo. Giá trị Mỹ ngày trước là giấc mơ thịnh vượng. Giá trị Mỹ ngày nay là sự khai mở kiến thức lẫn các ý tưởng về dân chủ và tự do. Các giá trị ấy luôn mang lại cảm hứng cho nhân loại. Với Trung Quốc, hình ảnh quốc gia họ lại được miêu tả bằng những từ như tàn ác, nhẫn tâm, tham lam, ích kỷ, dối trá, ngang ngược…
Sau nhiều thập niên phát triển như một hiện tượng, một Trung Quốc hiện đại chưa bao giờ là niềm “cảm hứng” cho thế giới, lẫn cho chính người dân nước này. “Giấc mơ Mỹ”, một khái niệm hình thành đầu thập niên 1930, đến nay vẫn đúng. Nó rất đúng thậm chí với nhiều người Trung Quốc, những người sẵn sàng từ bỏ “Trung Quốc mộng” để chọn “giấc mơ Mỹ”. Giá trị quốc gia, nói thêm, còn là những giá trị mà quốc gia đó tự tạo nên bằng thực lực, một cách có đạo đức và dựa trên tinh thần nhân bản. Giá trị quốc gia không thể được tạo nên từ sự bắt chước và ăn cắp. Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại hàng ngàn năm, chưa có quốc gia nào có thể “lớn lên” thành siêu cường bằng “chủ nghĩa trộm cắp” (“stealism” – một thuật từ tôi đặt ra để chỉ văn hóa ăn cắp phát triển như một chủ trương của Trung Quốc). “Chủ nghĩa trộm cắp” chỉ mang lại một xã hội bạc nhược tư duy. Một quốc gia có thói quen “ăn bám” kiến thức nhân loại sẽ vĩnh viễn là nhược tiểu cho dù họ có nhiều tiền như thế nào.
Nghiên cứu sự trỗi dậy Trung Quốc là đề tài thu hút giới học thuật lẫn chính trị thế giới nhiều năm nay. Có vô số quyển sách về Trung Quốc đã ra đời, bằng tiếng Anh. Một quyển sách về những điểm yếu, chứ không phải sức mạnh của họ, bằng tiếng Việt, đến nay vẫn chưa có. Đã đến lúc cần ít nhất một quyển sách như vậy, để đặt lại vị trí đúng hơn cho Trung Quốc và bản chất của Trung Quốc: một con ngáo ộp khổng lồ của thế giới hôm nay.

(iii) Trần Mộng Tú: Chim sẻ và tuổi thơ Việt Nam
Trong những tin tức ngổn ngang đời thường đang diễn ra ở Việt Nam, từ việc lớn đến việc nhỏ như: Ô nhiễm môi trường, cá chết, biểu tình, biển chia, đất cắt. Tin nào cũng làm người Việt trong cũng như ngoài nước hoang mang, đau lòng, thất vọng. Nhưng tin các em đang tuổi thiếu niên ở Thừa Thiên Huế phải bỏ học, sang xứ lân bang lao động, phụ gia đình kiếm sống làm tôi đau lòng nhất.
Theo bản tin nhật báo Người-Việt cho biết các em thuộc các xã Lộc Trì, Lộc An, Lộc Sơn, Lộc Bổn, huyện Phú Lộc-Thừa Thiên Huế, bỏ học sang Lào kiếm việc nhiều nhất. Huyện Phú Lộc ở cạnh dẫy núi Bạch Mã và biển Lăng Cô, một huyện có bề ngang rất hẹp và chịu nhiều thiên tai nhất nước. (*)
Sáng hôm qua, tôi đứng trong bếp nhâm nhi tách cà phê nóng, nhìn ra ngoài khung cửa kính, hoa Mộc Liên trắng nõn đã nở từ từ từng búp và khá nhiều chim sẻ kéo về máng ăn treo trên cành đang tíu tít. Thấy hoa biết tháng sáu đã về, biết nửa năm đã đi qua. Thời gian đi nhanh thế, mình nên tận hưởng hết vẻ đẹp của đất trời trên mỗi bước chân của thời gian.
Mở cửa bước ra sân, xém chút nữa giẫm phải một con chim sẻ đang nằm úp mặt trên vuông sân gạch. Con chim nâu trên nền gạch đỏ đang còn rung rung một bên cánh rũ xuống đất. Tôi đoán nó bị thương, bị thương ngay trước cánh cửa kính này chắc là nó bay lao đầu vào khung kính trong suốt mà tưởng bay vào không gian trước mặt.
Tôi cúi xuống nhặt nó lên, nó vỗ cái cánh còn lại rất yếu ớt và hai mắt nhắm nghiền. Tôi mang nó vào nhà, kiếm cái hộp giấy nhỏ đặt vào, một chút hạt kê rắc vào hộp, lấy cái chén nhỏ cho vào chút nước, để một góc hộp. Sau đó tôi đặt cái hộp trên cái ghế cao chân, mang ra sân, để sát vào tường. Hy vọng nó nằm nghỉ sức một hồi lâu sẽ lại bay được. Tôi không dám cứ mặc kệ nó nằm đấy bao giờ tỉnh thì bay đi, hay để cái hộp dưới mặt sân vì sợ nó sẽ là miếng mồi ngon cho con mèo già hay con mèo rừng (raccoon) nào đi qua.
Lo xong cho chim sẻ, quên cả việc ngắm hoa, quay vào nhà lo mấy việc buổi sáng. Đến trưa tôi ra sân, ngó vào hộp, con chim không còn nữa. Không có dấu vết xô lệch gì của cóng nước, tôi an tâm chim sẻ đã hồi sức bay đi, không phải bị con vật khác bắt ăn thịt. Tôi có một ngày an bình.
Sáng nay mở trang mạng báo Người-Việt ra nhìn thấy hình cậu bé này lòng nghe như muối xát.
Có ai không mủi lòng, khi nhìn nét mặt hiền lành, đầy nhẫn nhục của cậu, cậu đang cầm túi bánh bột lọc đứng trước cây xăng chờ khách đến mua.
Em lên chín hay em lên mười? Em học lớp 4 hay lớp 5. Em đứng bán như thế này mỗi ngày mấy giờ. Em vẫn đi học đấy chứ? Bao giờ thì em sẽ phải tìm cách khác kiếm sống cho cả gia đình, vì bán bánh bột lọc chẳng đủ tiền mua gạo cho cả nhà. Mẹ và bà nội hay bà ngoại đang chờ em mang tiền về. Nhà nước nói trợ cấp gạo, sao mãi đến nay vẫn chưa có. Gia đình em chắc đánh cá gần bờ trên biển Thuận An, phá Tam Giang, không được cứu trợ vì không được xếp vào diện làng chài. Bây giờ làm sao để sống.
Cha và anh thì đã bỏ đi xa lắm rồi. Họ lên xe đò sang A Lưới, rồi đi bộ băng qua rừng sang Lào. Bao giờ thì sẽ đến lượt em? Bao giờ em cũng sẽ đi bộ băng qua rừng sang Lào bằng đôi chân bé bỏng đó.
Nhưng em bé quá, chắc không ai nhận em làm đâu. Em đừng đi em nhé.
Nếu sang đó em sẽ làm gì? Tôi nghe nói, người Việt sang Lào sẽ có những việc như trồng rau, phụ hồ, bốc phân bò và thồ hàng. Với sức vóc và tuổi nhỏ của em, phụ hồ và thồ hàng nặng nhọc quá, trồng rau cũng không phải dễ, tôi đoán em sẽ đi hốt phân bò. Tôi hình dung ra với nét mặt nhẫn nại này, em sẽ chọn hốt phân bò cho vừa sức mình. Em sẽ đi theo sau những con bò chờ phân rơi xuống rồi hốt, hay đi trên những con đường đất gồ ghề dưới nắng hạ Lào. Công việc hôi hám và cực nhọc lắm. Có thể em khát khô họng mà nhìn quanh không có nước uống, em liệu làm được bao lâu! Rồi khi kiếm được tiền em phải gửi về nhà, mẹ em sẽ chắt chiu để dành mỗi lần một chút, cho khi em về có tiền đóng cho thầy cô để được đi học lại. Em còn nhớ chữ nào trong đầu để đi học lại không?
 Trong những ngôi làng ở miền Trung, học trò lớn, nhỏ bỏ học đi kiếm sống nhiều lắm. Bắt đầu là người cha đi, rồi đến các anh lớn, rồi sẽ đến các em nhỏ. Họ phải đi để kiếm sống. Bà mẹ than thở “Mình không thương mình thì ai thương mình bây giờ.” Chồng và hai người con trai của bà bỏ học đi sang Lào làm ăn rồi. Mấy đứa lo ở nhà cũng không có tiền đóng cho thầy cô học thêm. Mà dù bây giờ có tiền trả tiền học, học xong cũng chẳng có việc làm, nên kéo nhau đi hết rồi.
Chuyện học hành khó khăn, chuyện tương lai mờ mịt như thế, các em phải bỏ đi kiếm việc sinh sống là điều đương nhiên phải đến. Có em đi tha phương một mình, không có sự kiểm soát của cha mẹ, giáo huấn của gia đình, rất dễ rơi vào chỗ hư hỏng. Trách các em hay trách cái xã hội đã bỏ rơi em.
Những con chim sẻ Việt Nam bé nhỏ này, đang lao đầu bay vào không gian trong suốt trước mặt vì các em không nhìn thấy bức tường đá lởm chởm. Các em sẽ bể đầu, gẫy cánh, thương tích cùng mình. Có ai nhặt vào vỗ về trên những vết thương, cho các em nắm hạt kê, cóng nước, tìm cho các em một chỗ an toàn. Hay em sẽ bị những con người khác chụp các em như con mèo già trong xóm, con mèo rừng (raccoon) chụp con chim sẻ bé bỏng không biết tự vệ.
Ôi tuổi thơ Việt Nam, tôi thương các em muốn khóc. (tmt - 6/11/2016). (*) BảnTin nhật báo Người-Việt, tháng 6/08/16)

(iv) Thơ Hồ Chí Bửu: Khi say
Tưởng Mình Là Lưu Linh
Đêm say...Cởi áo đốt chơi
Cháy luôn cái mớ tình đời...Rong rêu
Lỡ say...Thì cứ chơi liều
Tỉnh ra...Mới biết còn nhiều...Thằng say…
Mưa Đầu Mùa
Ừ thôi...Mưa...Đã tạnh rồi
Khép...Đôi mắt lạnh...Ru đời...Viễn phương
Ngủ đi...Giấc mộng miên trường
Xuôi tay là hết...Con đường phù du…
Đêm Nay
Đưa tay gãi mũi đã đời
Ngứa không chịu nổi những lời hứa suông
Thì thôi cứ để chìm xuồng
Đêm nay ta ngủ với cuồng vọng say..

Kính,
NNS
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui