Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
15 Feb.2016

Dương Danh Dy: NHỚ LẠI ĐÊM

17 THÁNG 2 NĂM 1979

Ông Dương Danh Dy. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện

Nhớ lại đêm 17 tháng 2 năm 1979

Dương Danh Dy    

Tháng 9 năm 1977,  tôi được lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam cử sang làm Bí thư thứ nhất  tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, chuyên làm công tác nghiên cứu.

Quan hệ hai nước Việt Trung, từ lúc tôi ở trong nước đã xấu, lúc này càng xấu đi từng ngày.

Dòng  “nạn kiều” dưới sự kích động của nhà đương cục Trung Quốc vẫn lũ lượt  kéo nhau rời khỏi Việt Nam, một phần về Trung Quốc một phần đi sang các  nước khác.

Lấy lý do cần có tiền để “nuôi nạn  kiều”, ngày 13/5/1978 lần đầu tiên nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố cắt  một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút một bộ phận  chuyên gia về nước.

Không lâu sau đó, ngày  3/7/1978 chính phủ Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết  chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước.

  
Xung  đột biên giới trên đất liền, nhất là tại điểm nối ray trên đường sắt  liên vận Hà Nội-Bằng Tường ngày càng tăng (có lúc có nơi đã xảy ra đổ  máu).

Chuẩn bị tình huống xấu

Tháng  7 năm 1978 chúng tôi được phổ biến Nghị Quyết TW 4, tinh thần là phải  thấu suốt quan điểm nắm vững cả hai nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế vừa  tăng cường lực lượng quốc phòng, chuẩn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu.

Tháng 11 năm 1978 Việt Nam ký “hiệp ước hữu nghị và hợp tác” với Liên Xô.

Đến  tháng 12 năm 1978 mọi việc chuẩn bị cho tình huống xấu nhất trong đại  sứ quán đã làm xong. Sứ quán nhận được máy phát điện chạy xăng (và đã  cho chạy thử), gạo nước, thực phẩm khô đã được tích trữ đầy đủ, đại sứ  quán mấy nước anh em thân thiết cũng nhận được các đề nghị cụ thể khi  bất trắc xẩy ra…

"Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta (Đặng Tiểu Bình)"
Tôi được đồng chí đại sứ phân công đọc và lựa chọn các tài liệu lưu trữ quan trọng, cái phải gửi về nhà, cái có thể hủy.
.
Tháng  12 năm 1978 trong chuyến thăm mấy nước Đông Nam Á, trong một cuộc trả  lời phỏng vấn, Đặng Tiểu Bình vừa hùng hổ vừa tức tối nói một câu không  xứng đáng với tư cách của một người lãnh đạo một nước được coi là văn  minh: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”.
.
Tôi  không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng  tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch  sang tiếng Anh là “hooligan” - tức du côn, côn đồ.

Rồi  ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đơn phương ngừng vận chuyển hành  khách xe lửa liên vận tới Việt Nam, rất nhiều cán bộ, sinh viên Việt Nam  từ Liên Xô Đông Âu trở về bị đọng lại trong nhà khách sứ quán chờ đường  hàng không và cuối cùng đến đầu tháng 1 năm 1979 đường bay Bắc Kinh Hà  Nội cũng bị cắt.

Đầu tháng 1 năm 1979 quân đội  Việt Nam bất ngờ phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, chỉ trong  thời gian ngắn đã đập tan sức chống cự của bè lũ Polpot, tiến vào giải  phóng Phom Penh. Đây cũng là điều mà Đặng Tiểu Bình không ngờ.

Lại một quả đắng khó nuốt nữa đối với nhà lãnh đạo Trung Quốc này.

'Không đánh nhau không xong'

Cuối  tháng 1 năm 1979 Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, được Tổng thống Carter đón  tiếp với nghi lễ rất cao, hai nước quyết định thiết lập quan hệ ngoại  giao, và không biết còn bàn bạc gì nữa? Trên đường về nước Đặng Tiểu  Bình ghé qua Nhật Bản.

Trước những tình hình  trên, một số anh em nghiên cứu chúng tôi đã khẳng định khá sớm: hai nước  anh em thân thiết như răng với môi này không đánh nhau một trận không  xong! 

Lý trí mách bảo như vậy, thậm chí còn  mách bảo hơn nữa: Trung quốc đã từng gây cuộc chiến tranh biên giới với  Ấn Độ và nhất là với Liên Xô và cả hai lần họ đều bất ngờ ra tay trước.

Thế  nhưng về mặt tình cảm (bây giờ nhìn lại thì còn có cả sự ngây thơ, cả  tin nữa) vẫn hy vọng dù chỉ là chút ít thôi: quan hệ Việt Trung đã từng  gắn bó, sâu nặng như vậy, họ không thể một sớm một chiều trở mặt được.

Không  nói tới những khoản viện trợ to lớn có hiệu quả, những tình cảm thân  thiết như anh em trước đây, mà ngay trong những giờ phút căng thẳng này,  tôi vẫn không thể quên được những việc làm tốt hay tỏ ra biết điều của  một số cán bộ Trung Quốc:

Năm 1977, Nhà máy dệt  Vĩnh Phúc do Trung Quốc viện trợ cho ta, sau một hồi chạy thử vẫn không  hiện đúng màu nhuộm cần thiết, một kỹ sư Trung Quốc đã bí mật cung cấp  cho ta bí quyết. Khi các chuyên gia Trung Quốc khác thấy kết quả đó,  không biết do ai chỉ đạo, họ đã “xử lý” một cách tàn bạo, anh bị đánh  tới chết.

Khi đoàn chuyên gia Trung Quốc thi  công cầu Thăng Long bị cấp trên của họ điều về nước, một số đồng chí đã  để lại khá nhiều bản vẽ, tài liệu kỹ thuật về chiếc cầu này cho ta. Tôi  biết chiếc cầu Chương Dương do ta tự thiết kế thi công sau này đã dùng  một số sắt thép do phía Trung Quốc đưa sang để dựng cầu Thăng Long.

Mặc  dù khi truyền hình trực tiếp , Trung Quốc không thể cắt được câu nói lỗ  mãng của Đặng Tiểu Bình: Việt Nam là côn đồ, nhưng báo chí chính thức  ngày hôm sau của Trung Quốc đã cắt bỏ câu này khi đưa tin ( chỉ còn đăng  câu “phải dạy cho Việt Nam bài học” , nghĩa là đỡ tệ hơn).

Chúng tôi đã làm gì?

Trong  bối cảnh trên, cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu ngày 17/2/1979 do nhà  cầm quyền Trung Quốc - mà người chủ xướng là Đặng Tiểu Bình, phát động,  về tổng thể không bất ngờ đối với chúng tôi, nhưng về thời gian cụ thể  và nhất là về qui mô binh lực mà Trung Quốc sử dụng thì quả là không  tính tới.

Sau này những day dứt về dự báo không  chính xác trên đã có phần giảm bớt, khi được biết có một số cán bộ trung  cấp và một số đơn vị quân đội Trung Quốc chỉ sau khi đã tiến vào lãnh  thổ nước ta rồi họ mới biết là phải đi đánh Việt Nam.

10  giờ tối ngày 17/2/79( tức 9 giờ tối Việt Nam) tôi bật đài nghe tin của  đài tiếng nói Việt Nam, không thấy có tin quan trọng nào liên quan đến  hai nước, tôi chuyển đài khác nghe tin.

Khoảng  10 giờ 30 phút đồng chí Trần Trung, tham tán đại biện lâm thời( thời  gian này đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh về Việt Nam họp) đến đập mạnh vào cửa  phòng tôi: Dy, lên phòng hạnh phúc họp ngay, Trung Quốc đánh ta rồi! 

"Về mặt tình cảm (bây giờ nhìn lại thì còn có cả sự ngây thơ, cả tin  nữa) vẫn hy vọng dù chỉ là chút ít thôi: quan hệ Việt Trung đã từng gắn  bó, sâu nặng như vậy, họ không thể một sớm một chiều trở mặt được".
  Ít phút sau, một số đồng chí có trách nhiệm đã có mặt đông đủ. Đồng chí  Trần Trung phổ biến tình hình nhà vừa thông báo: sáng sớm ngày 17/2,  bọn bành trướng Trung Quốc đã tấn công trên toàn tuyến biên giới trên  đất liền ( 6 tỉnh của Việt Nam lúc đó) với qui mô 20 sư đoàn bộ binh.

Hai sư đoàn chủ lực của ta cùng với bộ đội địa phương và anh chị em dân quân du kích đang anh dũng chống trả.

"Nhiệm  vụ của chúng ta bây giờ là dịch ngay bản Tuyên Bố của chính phủ ta ra 3  tiếng Trung, Anh, Pháp để phục vụ cho cuộc họp báo quốc tế sẽ phải tổ  chức và để thông bào càng rộng càng tốt cho một số nhân dân Trung Quốc  biết rõ sự thực."

Bộ phận dịch tiếng Trung, dưới  sự chỉ huy của anh Thái Hoàng-Bí thư thứ nhất, gồm hai đồng chí Hoàng  Như Lý, bí thư thứ ba và Chu Công Phùng cán bộ phòng chính trị, đã dịch  văn bản một cách “ngon lành”; đồng chí Lê Công Phụng, bí thư thứ ba phụ  trách phần dịch tiếng Anh cũng không vất vả gì; riêng phần tiếng Pháp,  đồng chí Minh, phiên dịch tiếng Pháp do mới ra trường không lâu, nên có  đôi lúc tỏ ra luống cuống.

Guồng máy dịch, in  roneo, soát, sửa lại bản in nhanh chóng chạy đều, mọi người làm việc  không biết mệt với lòng căm giận bọn bành trướng.

Thi thoảng mấy câu chửi bọn chúng như kìm nén không nổi lại khe khẽ bật ra từ vài đồng chí. Không căm tức uất hận sao được?

Khi  chúng tôi hoàn thành công việc thì trời đã hửng sáng (đài BBC sau đó đã  đưa tin, tối ngày 17/2/1979 toàn Đại sứ quán Việt Nam để sáng đèn).

Những  người ngoài 40, 50 chúng tôi sau một đêm vất vả không ngủ vẫn tỏ ra  bình thường nhưng riêng hai đồng chí Phùng và Minh đang tuổi ăn tuổi  ngủ, tuy được đồng chí Đặng Hữu-Bí thư thứ nhất, tiếp sâm, nhưng vẻ mặt  sau một đêm căng thẳng đã lộ nét mệt mỏi. Thương cảm vô cùng.

Tuy  vậy, chúng tôi đã nhanh chóng bước vào ngày làm việc mới với tất cả sức  mạnh tinh thần và lòng căm thù bọn bành trướng bá quyền, nước lớn.

Quá khứ 30 năm

Cuộc chiến tranh do nhà cầm quyền Bắc Kinh mà người chủ xướng là Đặng Tiểu Bình gây ra, kết thúc đã 30 năm.

Sau khi bình thường hóa, quan hệ hai nước nhìn chung phát triển khá tốt.

Tuy  nhiên cần nhấn mạnh một điều, vì nghĩa lớn, chúng ta đã thực hiện đúng  lời cam kết: không nhắc lại chuyện cũ. Nhưng ở phía bên kia, một số kẻ  không biết điều, vẫn thường xuyên, xuyên tạc sự thật lịch sử, rêu rao,  tự cho là đã “giành thắng lợi”, là “chính nghĩa”, là “Việt Nam bài Hoa,  Việt Nam chống Hoa, Việt Nam “xua đuổi nạn kiều”, Việt Nam xâm lược  Cămpuchia” v.v..

Cho đến hôm nay, một số cuốn  sách lịch sử, sách nghiên cứu, không ít bài thơ, truyện, ký…vẫn nhai lại  những luận điệu trên dù hai nước đã bình thường hóa quan hệ được gần  hai chục năm. 
.
clip_image006

"Vết thương chung phải do cả hai bên cùng đồng tâm, 
thành ý chữa trị thì mới có thể lành hẳn". 
.
Tôi  nghỉ hưu đã được hơn mười năm nhưng do vẫn tiếp tục nghiên cứu về Trung  Quốc, nên thỉnh thoảng vẫn có dịp gặp các bạn cũ công tác tại Bộ Ngoại  Giao Trung Quốc trước đây cũng như nhiều học giả Trung Quốc.

Không  dưới một lần tôi đã thân tình và nghiêm túc nhắc họ: nếu các bạn chỉ  nhận phần đúng trong những việc xảy ra trong thời gian trước đây, đổ hết  lỗi cho cho người khác thì quan hệ Việt Trung dù ai đó có dùng những  chữ vàng để tô vẽ cũng không thể nào xóa bỏ được những vết hằn lịch sử  do người lãnh đạo của các bạn gây ra, quan hệ hai nước không thể nào  thực sự phát triển tốt đẹp được, vì những hoài nghi lớn của nhân dân hai  bên chưa được giải tỏa?

Mong rằng một số nhà  lãnh đạo Trung Quốc hiện nay nên nhớ chuyện sau: nếu không biết lời dặn  của Chủ tịch Mao với đoàn cố vấn Trung Quốc khi sang giúp Việt nam thời  kỳ chống Pháp: ‘Tổ tiên chúng ta trước đây đã làm một số việc không phải  với nhân dân Việt Nam, các anh sang giúp nước bạn lần này là để trả nợ  cho cha ông’; và nếu không thấy trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên  sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thủ tướng Chu đã tới dâng hương tại  đền thờ Hai Bà, thì chắc chắn những người Việt Nam thời đó không dễ  quên được chuyện cũ để nhanh chóng hòa hiếu với Trung Quốc như sau đó  đâu?

Vết thương chung phải do cả hai bên cùng đồng tâm, thành ý chữa trị thì mới có thể lành hẳn.

Chúng  ta không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta  không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên.
   
D. D. D.
Nguồn: bbc.co.uk
2012
Viết nhận xét
  Tên gọi [Đăng ký]
  Mật khẩu (Khách không cần mật khẩu)
  Địa chỉ web
  Email
OpenID Hình vui