Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
8 Feb.2010

Tạp bút
Trần Huy Thuận


N
ăm hết Tết đến, mọi người lại tiến hành việc trang hoàng nhà cửa để đón xuân! Bộ Tam đa Phúc – Lộc – Thọ thế nào cũng được chủ nhân chăm chút nhiều nhất. Cũng là điều hiển nhiên, bởi “Phúc”, “Lộc”, “Thọ” là ba điều mơ ước thường nhật của mỗi người, mỗi nhà! Vì lẽ này mà cũng có người chê bai, bình phẩm rằng:

Đã Phúc, đã Lộc lại còn Thọ!
Sao tham nhiều thế hỡi nhân gian?
Chẳng trách Đảng ta “xây, chống” mãi
Mà phường tham nhũng vẫn trơ gan![separator]

Chẳng qua tức cảnh mà nói đùa thôi, chứ ai chẳng mong cha mẹ, ông bà và bản thân trường thọ? Còn phúc và lộc thì biết mức nào là đủ? Xưa các cụ dạy: “Một con một của ai từ?”! Cái cần nói là hưởng sao cho chính đáng, cho hợp đạo Trời, lòng người!

Lộc

Trước hết xin bàn về chữ Lộc. Lộc dù là tranh, là tượng hay là chữ, cũng không bao giờ đứng riêng một mình. Bao giờ cũng đứng cùng hai ông Phúc, Thọ thành bộ tam đa! Phải chăng người ta, nhất là các quan không muốn cái ham muốn của mình nó thể hiện ra một cách lộ liễu quá? Cũng không phải ngẫu nhiên mà người xưa đặt Lộc vào vị trí trung tâm, hai bên là Phúc và Thọ. Đấy chính là ý răn dậy sâu xa của Tiền nhân với hậu thế: Hưởng Lộc phải nghĩ đến tạo Phúc, cầu Thọ. Nhắm mắt thu Lộc bất minh, bất chấp Phúc, Thọ, thì thật nguy hại!

Trong bộ tam đa, ông Lộc được hình tượng bằng một vị quan “cân đai bối tử” đề huề! Điều đó thể hiện một điều: đã làm quan, tất có lộc; lộc tức là quan! – Như vậy, có thể khẳng định, từ xa xưa, dân ta đã biết, đã hiểu: lộc với chức quan, là một! Các Quan cũng không nên cho nhận định như thế là xúc phạm đến bản thân!

Lộc, có thứ của vua ban, có loại của dân biếu. Vua ban để úy lạo bầy tôi của mình, đã chí công vô tư, thay vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu quan, để bày tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói Lộc chính là sự ghi nhận công lao các quan: công lao với dân và công lao với vua, với nước. Có công lao thì có lộc! Và đấy cũng là tiêu chí để phân biệt quà “biếu” với “hối lộ”! Không công lao, mà nhận quà, nhận thưởng, thì đó là thứ hưởng thụ bất minh, bất chính! Ví như ai đó lợi dụng chức quyền mà o ép, bắt nạt dân lấy tiền; hoặc nhận tiền của kẻ bất lương rồi bỏ qua luật lệ, phép tắc, đạo lý, chà đạp lên quyền lợi chính đáng của dân lành – thì những đồng tiền như thế làm sao có thể gọi là Lộc được? Mà có cố tình ngụy biện đó là lộc thì thứ lộc ấy cũng không bền, hưởng nó sẽ chuốc họa vào thân - không chóng thì chầy, không nhãn tiền thì cuối đời, như cách nói của dân gian, cũng lãnh đủ. Xem ra, điều này hầu như không hề có ngoại lệ - Thực tế cuộc sống đã kiểm chứng!

Hưởng Lộc phải nghĩ đến tạo Phúc, cầu Thọ. Phúc

Thế nào là có phúc?

Quan niệm phổ biến xưa kia đều cho rằng người nào có con (trai) cháu (trai) tức có người nối dõi tông đường, là người có Phúc. Vì lẽ này mà Phúc có hình tượng một cụ già với đàn con cháu đông đúc vây quanh! Đó là suy nghĩ lỗi thời, nhiều năm trước tưởng đã rơi vào quên lãng; ai ngờ gần đây lại phục hồi và phát triển khá mạnh mẽ, dẫn đến nguy cơ mất cân bằng giới tính! Có con có cháu mà chúng lại bất hiếu, thậm chí lại mắc vào nghiện ngập ma túy, trộm cắp, tham nhũng, thì bất hạnh đó còn lớn gấp nhiều lần nỗi bất hạnh không con!

Một quan niệm khác cũng khá phổ biến: “Con hơn cha là nhà có phúc” có thật đúng như vậy không? Bởi vì nếu công nhận điều ấy, thì, tất cả những nhà mà con cái không vượt qua được cái bóng của người cha, đều vô phúc cả sao? Cái mệnh đề này hiểu theo nghĩa tương đối thì có thể chấp nhận, chứ quyết đoán tuyệt đối thì e không thông! Đấy là chưa suy xét tới nội dung của cái hơn đó là gì! Bởi nếu sự hơn lại ở chỗ ăn chơi, hưởng thụ thì đấy chắc chắn là sự vô phúc rồi, chứ đâu còn là phúc?

Học thuyết Phong thủy thì cho rằng, việc đặt mồ mả tổ tiên có ý nghĩa quyết định đến việc ai trong dòng tộc được hưởng Phúc (gọi là âm phúc). Vì lẽ này mà nhiều khi sinh ra nghi ngờ động cơ của nhau, cho rằng người đề xướng có thể chỉ nghĩ đến lợi cho phía đằng mình. Thế là mâu thuẫn nặng nề, thậm chí dẫn đến từ nhau trong gia tộc, sau khi xây mộ gia tiên!

Làm việc thiện, giúp đỡ người khó khăn, người hoạn nạn, cũng được coi là làm phúc. Với ý nghĩa này thì phúc và đức thường gắn chặt, đi đôi với nhau.

Mỗi khi ai đó thoát khỏi một mối nguy cơ nào đấy, như vượt qua được một căn bệnh hiểm nghèo; một tai nạn khủng khiếp. Hoặc thoát khỏi sự liên lụy tới một vụ bê bối về tài chính, một vụ làm ăn phi pháp vừa bị đổ bể, người ta thường xoa tay: “Phúc quá, không thì chết, chết cả nút!” – Phúc đây là “Phúc ấm của Tổ tiên!”, nhưng khi nào tổ tiên lại bao che cho những hành vì hại dân hại nước?!.

Phổ biến nhất là quan điểm: Tạo phúc là một quá trình của nhiều đời, nhiều thời gian (phúc dày). Chính vì thế mà có câu: “Nhờ phúc bảy mươi nhăm đời nhà nó, chứ không...!”. Đã có những người con dâu hiếu thảo, khi vợ chồng làm ăn phát đạt, đem tiền biếu cha mẹ chồng, đã nói rất hay rằng: “Chúng con có được như ngày nay, là nhờ phúc của cha mẹ, chứ không hoàn toàn của chúng con”. – Khéo không! Thế thì cha mẹ nào còn nỡ từ chối? Làm việc Phúc là phải quên như chưa hề làm, là không bao giờ được kể lể công lao, khoe khoang thành tích thì may ra mới có phúc - ấy là điều các cụ xưa vẫn dạy!

Điều cần ghi nhớ: Phúc, không dễ mà có được, cũng không phải cứ cầu là được. “Phúc bất trùng lai” chứ không như họa, họa thường không đến một mình: “Họa vô đơn chí!”.

Cho nên ai ai cũng cần chăm lo tạo phúc, cho mình và hơn thế nữa, cho con cháu mình. Tạo phúc phải đặt lên trước hết, trên hết, là cách hiểu đúng đắn nhất, của mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Người xưa khuyên: “Hãy ăn ở thế nào để có thể để phúc lại cho con, cho cháu!”. Phúc là tài sản để lại mang ý nghĩa bền chặt nhất! Một khi đã vô phúc thì tiền của chả còn ý nghĩa gì nữa!

Thọ

Không rõ thực vật thế nào chứ trong giới động vật thì có thể đoan chắc điều này: Không có con nào lại không ham sống, sợ chết nghĩa là đều muốn... thọ! Con người lại càng thế. Nhưng người khác con ở chỗ, khi cần thiết, dám hy sinh mạng sống của mình vì đại nghĩa, vì Tổ quốc, vì cả người khác nữa! (đôi khi con cũng chiến đấu xả thân, nhưng đa phần vì miếng ăn, tức vẫn chỉ vì sự sống của bản thân hoặc con cái chúng mà thôi!).

Mọi người hẳn đều thuộc nằm lòng câu: “Sinh có hạn, tử bất kì”. Vâng, quả là thiên nhiên vĩ đại thật! Nếu như tử cũng tính được hạn định cụ thể như sinh, thì e rằng cuộc sống sẽ giảm thi vị đi nhiều lắm. “Bất kì” mới tạo nên sức hấp dẫn đến cùng và niềm hy vọng khôn nguôi, đối với cuộc sống tất cả chúng ta! Người ta còn phân biệt: một ai đó chết trẻ, thì khi cáo phó phải dùng chữ hưởng dương, chứ không được dùng chữ hưởng thọ. Cho nên thọ chính là một trong những tiêu chí của hạnh phúc - đối với bản thân người thọ cũng như với con cháu... người ấy. Thọ cũng là đặc trưng của xã hội tiến bộ, bởi sự đóng góp to lớn của những phát minh vĩ đại về công nghệ nói chung và y học nói riêng.

Nhưng con người chúng ta thường khi về già hay tự đặt câu hỏi: “Thọ thế nào thì vừa? Thọ có thực sự là một điều hạnh phúc không?”. Trả lời câu hỏi này thật không đơn giản chút nào!

Ý tưởng của câu hỏi trên không nằm ở chỗ muốn tìm giới hạn của sự sống, mà chính là muốn bàn xem sống đến khi nào, sống trong tình trạng thể xác và tinh thần ra sao, xứng đáng gọi là thọ? Bởi vì thọ luôn luôn gắn với hạnh phúc. Một khi đã không còn hạnh phúc, thì thọ chả còn ý nghĩa gì cả! Thọ, trong trường hợp ấy, để làm gì? Trong thực tế, không một ai muốn chết cả; già yếu ốm đau đến mấy, với suy nghĩ “còn nước còn tát”, cũng vẫn muốn được cứu chữa để sống. Ngược lại, cũng có người tự thấy mình… “đã đến cõi”, bệnh quá hiểm nghèo, không nên làm phiền con cháu, thanh thản chấp nhận ra đi, về cõi vĩnh hằng. Mong rằng chỉ ốm qua loa đôi ba tuần, đủ để con cháu trả nghĩa, rồi được theo về với Tổ tiên là hạnh phúc nhất!

Gần nhà tôi, xưa, có một cụ bà, khi sống thì suốt ngày còng lưng làm lụng hết nuôi con lại nuôi cháu. Đến lúc già yếu, ốm đau phải nằm liệt một chỗ, lại không có lương hưu. Con cháu cho dọn dẹp cái bán mái vốn xưa là chuồng lợn, để đưa cụ xuống nằm đấy... chờ chết! Con cháu nói lý: “Phải đưa xuống đấy thôi! Suốt ngày cụ đái dầm ỉa rề, thối ai mà chịu nổi!”. Và: “Cụ sống, nhưng cũng phải để cho con cháu sống với nữa chứ?”. Có lý lắm! Nhưng khốn nạn thay, những trường hợp như thế lại rất khó chết; nghĩa là lại rất thọ! (Thật lạ lùng, ăn ở với mẹ đẻ nhẫn tâm đến vậy, mà tay quý tử này vẫn thăng quan tiến chức đều đều, trong mấy năm liền sau đó?). Tác giả Giả Bình Ao trong tập tản văn của mình đã viết: “già mà không chết là giặc!”. Không ngờ bên Tầu lại có người dám cả gan đánh giá cái sự thọ tàn nhẫn đến vậy!

Một vụ khác, không ở tổ dân phố tôi, mà ở tổ bên cạnh. Đó là một cụ ông. Cụ là một cựu chiến binh, lương đại tá bốn năm triệu gì đó. Cụ mắc chứng cao huyết áp, bị đột quỵ, rồi nằm suốt trên giường, sống đời sống thực vật mười mấy năm trời nay! Cụ không nghe thấy gì (hay là giả đò làm ra như thế?), không nói và do đó cũng không đòi hỏi gì trong suốt ngần ấy năm. Những năm đầu còn có họ hàng, bạn bè, người thân qua lại hỏi thăm; sau cứ thưa dần. Mấy năm nay thì chỉ mình cụ nằm bất động như chết trên chiếc giường quen thuộc với lủng củng mấy đường ống dẫn ra và dẫn vào cơ thể cụ. Vợ con vẫn chăm sóc cụ hằng ngày rất chu đáo. Không chu đáo thì sao cụ sống được ngần ấy năm? Vả lại có nặng nề gì lắm đâu mà không chu đáo? Việc ăn, uống, tiểu tiện, đại tiện của cụ đều qua đường ống tất; rút ra thay rửa là xong! Năm nay cụ đã ngoài tám mươi, và cứ tình trạng này, chắc cụ còn thọ chưa biết đến bao giờ? Cụ càng thọ, con cháu càng mừng, vì lương cụ rất cao!

“Thọ thế nào thì vừa? Thọ có thực sự là một điều hạnh phúc không?” - Giá như có ai đó trả lời được câu hỏi này!

6 Feb.2010

Chuyện kinh hoàng về cọp 3 móng Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Truyện   
BBT: Cọp - Hổ, là con vất vĩ đại của núi rừng, là biểu tượng của sức mạnh được người đời vinh danh là ’’chúa sơn lâm’’, nhà văn Thế Lữ lấy con Hổ xây dựng hình tượng văn học thể hiện trong bài thơ Nhớ Rừng - nổi tiếng. Nhân năm mới Canh Dần – năm con Hổ, Xin giới thiệu cùng bạn đọc một câu chuyện có thật xẩy ra hồi kháng chiến chống Pháp về chúa sơn lâm - rút từ báo CAND online.
----------------------
CHUYỆN KINH HOÀNG VỀ CON CỌP 3 MÓNG
Ở Rừng Miền Đông Nam Bộ Hồi Kháng Chiến Chống Pháp!
Thụy An
Đầu năm 1948, ở rừng miền Đông Nam Bộ xuất hiện một con cọp ba móng vô cùng tinh ranh, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho cư dân sống ven rừng. Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Biên Hòa (cũ) mất ăn, mất ngủ. Theo cách nói thời bấy giờ, con cọp này còn nguy hiểm hơn một đại đội biệt kích Pháp.
Chỉ chưa đầy 2 tháng, nó đã cướp đi hơn 50 mạng người. Ủy ban Hành chính kháng chiến Biên Hòa buộc phải thành lập đội săn bắt cọp. Hơn 60 năm đã trôi qua, câu chuyện cọp ba móng đã trở thành huyền thoại. Một trong những Võ Tòng tham gia diệt cọp ngày đó là ông Bùi Cát Vũ - vị tướng lừng danh gắn liền với những trận đánh lịch sử: La Ngà, Bàu Cá, Xuân Lộc... cũng đã đi xa. Khi tướng Bùi Cát Vũ còn sống, trong một lần đến thăm nhà ông ở Thanh Đa, phóng viên đã may mắn được nghe ông kể chuyện diệt cọp.
6 Feb.2010
Tạp Bút
Lê Xuân Quang
 
Câu đối không chỉ để văn nhân sĩ tử thù tạc, hưởng thụ gío - trăng - hoa, cỏ, mà còn để phản ánh những bức xúc của cuộc đời, của thời cuộc, chính sự. Trong từng mốc thời gian, Câu đối dần nâng lên, phát triển về số lượng, chất lượng, ngày càng được những người yêu thích, thưởng thức, tham gia sáng tác.
Trong lịch sử đấu tranh chống giặc Pháp xâm lược các nho sĩ  băằ Một Câu đối đầy khí phách kiêu hùng của tiền nhân đáng nhắc lại đẻ hậu thế tự hào, nói theo: Câu đối của vua Duy Tần đối - câu của tên thực dân xâm lược:
6 Feb.2010

MIẾNG NGON NHỚ LÂU (Kỳ 2) Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Ký - Tạp bút   
(Đòn đau nhớ đời - Tục Ngữ)
Tản Văn
Lê Xuân Quang

KỲ 2: RƯỢU CUỐC LỦI:
Theo lệ thường, cứ đầu tuần, tôi đến quán ăn Hoa Nhài trao đổi việc quảng cáo rồi thông báo số lượng khách đặt tiệc cho những ngày cuối tuần để nhà hàng chuẩn bị. Công việc xong, bạn mời Rượu Cuốc Lủi với lời giải thích khiêm tốn - ’’tự tay tôi nấu từ gạo nếp cái Hoa vàng mua từ cửa hàng thực phẩm châu Á, các huynh uống thử’’.

’’Vương quốc Lúa Nước Việt Nam ’’, chẳng những gạo nuôi sống cư dân mà còn từ gạo làm ra các loại bánh trái và nấu rượu - thức uống mang đậm dấu ấn của dân Việt. Rượu được chưng cất từ gạo Nếp - thứ gạo có nhiều đường, dân ta thường dùng để nấu xôi, cúng lễ thần linh, tổ tiên. Gạo Nếp có từ rất lâu đời, cách đây hàng nghìn năm ghi trong dã sử, truyền thuyết: Bánh chưng - Bánh dầy.

6 Feb.2010

Chân dung văn học
Lê Xuân Quang 


Giống như nhiều người, cũng yêu thích, ngưỡng mộ Nhà thơ Xuân Sách và tác phẩm Chân Dung Nhà Văn của ông. Tôi quyết định thử làm vai trò của người nghe, thưởng thức khúc độc tấu của người gẩy đàn tài ba - Xuân Sách bằng cách THỬ  NHẬN DIỆN…
Có cả thẩy 100 chân dung. Tôi chỉ cố sức tìm hiểu  được số it trong đó. Nếu nhận diện chưa đúng, còn có khiếm khuyết - mong bạn đọc bỏ qua !
Trong cuốn Chân Dung Nhà Văn, Thi sĩ Xuân Sách viết (vẽ) - bức chân dung rồi xếp vào vị trí đầu tiên - đánh số thứ tự - 1. Điều đó nói lên : Người được vẽ chân dung là một tài năng, có vị trí quan trọng đối với nền Văn Chương Việt Nam hiện đại.
Ta thử tìm hiểu - nhận diện xem bức chân dung này là ai?
6 Feb.2010
Ký S
Lê Xuân Quang 
 
Hai tháng sau cuộc họp. Vào dịp trước lễ Giáng Sinh của năm 1992. Buổi tối (ở Châu Âu, mùa đông tối sớm), một chiếc Mercedes đời mới, nhẹ nhàng lướt tới trước cửa nhà số 36 Ahrensfelde (cũng là ngôi nhà đã nói ở trên). Dừng lại, vài phút  người lái xe mở cửa đi ra phiá sau. Anh ta đứng quan sát ít phút, sau đó nhanh chóng mở cửa hông bên kia. Một người đàn ông mặc áo khoác dạ mầu đen, bước ra. y ngó nhìn hai bên đường, thấy không có gì nghi ngờ, bước nhanh hướng về phía cửa nhà.
Bỗng có tiếng bụp bụp vang lên...
Người đàn ông mặc áo choàng khựng lại. Anh ta lùi vài bước, dựa lưng vào đầu xe của mình, cố gượng nhưng không đủ sức, đổ nghiêng, úp sấp mặt xuống nền đường đầy tuyết trắng. Cạnh đấy, một chiếc BMW rồ máy, 4 bóng người nhanh chống chui vào trong xe, chiếc xe chồm lên mất hút vào bóng đêm. Người lái xe lúc này mới kêu lên... Trong khu tập thể ôn ào, túa ra. Người đàn ông bị bắn nhiều phát đạn xuyên từ sau lưng qua ngực ...
6 Feb.2010
Kí sự
Lê Xuân Quang

Mờ sáng thứ Sáu mùa hè (năm 1995), cả nước Đức xôn sao : Kênh truyền hình ở chương trình thời sự đầu tiên trong ngày, trên trang nhất các tờ báo lớn ở thủ đô Berlin đều đưa tin với giòng tít lớn kèm theo ảnh các nạn nhân : Án mạng - 5 người chết, 2 người bị thương nặng. Phóng viên cho rằng vụ này do bọn Mafia thuốc lá người Việt dùng súng tiểu liên lắp ống giảm thanh, xả đạn thanh toán các đối thủ .
Nếu không kể những vụ án từ trước năm 1990 (khi Đức chưa thống nhất), đây là vụ án có mức độ tàn bạo nhất. Là phóng viên của tờ báo tiếng Việt tại châu Âu, thấy đồng hương của mình lâm nạn, tôi thu xếp công việc toà soạn, tới ngay hiện trường tìm hiểu tình hình.
6 Feb.2010

(Nhân ngày giỗ lần thư 44 ngày Nguyễn Bính mất: 1 tết 1966 – 1 tết 2010))

Tạp bút
Lê Xuân Quang


Tôi chuẩn bị mâm cúng đêm giao thừa .

Chẳng hiểu sao tâm tư lại hướng, nhớ về nhà thơ Nguyễn Bính, nhớ những vần thơ cùng cái chết của ông cũng vào đúng sáng mồng một tết 44 năm trước, khi ông ở tuổi năm hạn (49) . Ấn tượng sâu đậm của tôi về nhà thơ của đồng quê Nam Định - một đời tài hoa, đa đoan, tình đời dang dở và cái chết tức tưởi đã được ông tiên đoán trước với những cột mốc đời của ông:

- Viết Lỡ bước sang ngang, nhưng đời ông cũng có tới 4 lần ‘’sang ngang’’, có con trai, con gái với những người đàn bà gặp trên đường đời, nhưng lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn không có các con và mẹ của họ ở bên cạnh…

- Bài thơ Cô Hàng Xóm, kể chuyện về một mối tình của 2 người ‘’cô đơn’’ ở cạnh sát nhà của nhau được ngăn cách bằng hàng raò là ’’cái dậu mồng tơi xanh rờn’’. Mối tình đơn phương sâu đậm mà trong sáng với hình ảnh con bướm và giàn mồng tơi. Có lần ông tự nhận mình kiếp trước là Bướm nên kiếp này có nhiều duyên nợ với Bướm, viết nhiều bài thơ có con Bướm - y như hóa thân của ông vậy.

5 Feb.2010

Tạp bút
Trần Huy Thuận


Trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc, bên cạnh những món ăn truyền thống thịt mỡ, dưa hành... người Việt Nam ta thường không thể quên được món ăn tinh thần mang đậm bản sắc phương Đông, đó là thú chơi câu đối.

Câu đối là sản phẩm văn hóa vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính trí tuệ; là sản phẩm riêng có của một số nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Câu đối cổ nhất đến nay phát hiện được là của Hậu Thục chúa Mạnh Sưởng. Nội dung câu đối là đón Tết, mừng xuân:

“Tân niên nạp dư khánh – Năm mới thu phúc lớn

Giai tiết hiệu trường Xuân – Tiết đẹp báo Xuân dài”.

5 Feb.2010

Lái buôn thành Bá Linh Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Truyện   

LÁI BUÔN THÀNH BÁ LINH
Truyện ngắn
Lê Xuân Quang


Cả năm đầu tắt mặt tối, hi vọng gặt hái ở ’’tháng củ mật’’, nhưng kết qủa kém xa những năm trước. Đó là tình trạng chung của cả xã hội. Lương giữ nguyên, gía sinh hoạt tăng do trượt gía giữa 2 đồng tiền Mark - EU, thu nhập gỉam, lấy đâu ra tiền thừa, dư để mua sắm. Dân sở tại cũng như ngụ cư nhìn thực trạng kinh tế, đối chiếu với lời hứa hẹn của bà đầm...’’xe tăng’’ trong diễn văn nhậm chức thủ tướng - càng thêm ngao ngán, thất vọng.

Thôi kệ đời, đến đâu hay đó!

Phân trang 1303/1305 Trang đầu Trang trước 1298 1299 1300 1301 1302 1303 1304 1305 Trang sau Trang cuối