Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
23 Aug.2015

Kiểm duyệt Trần Đình Sử:

Im Lặng là Vàng?

Phùng Nguyễn (blog) - 19.08.2015

BVN 21.8.15

clip_image001Trong bài viết “Nhân trường hợp Võ Phiến nhìn lại sự kiện Luận văn Nhã Thuyên” người viết cảnh báo rằng sự kiện “Luận văn Nhã Thuyên” có thể không phải là cú giãy cuối cùng và vô hại của nền phê bình chỉnh huấn. Như thực tế chứng minh, với sự đỡ đầu của bạo lực, cú giãy đã gây thương tích trầm trọng cho các nạn nhân. Không chỉ có Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan và Nguyễn Thị Bình mà còn cả sự thoái bộ đáng tiếc của tự do học thuật ở các cấp Đại học trên toàn quốc. Và điều tệ hại hơn nữa, không có gì bảo đảm đây sẽ là cú giãy sau cùng.

Quả đúng như vậy, Chu Giang Nguyễn Văn Lưu, người đã phát động chiến dịch “đánh” thạc sĩ Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan và  và PGS TS Nguyễn Thị Bình lại vừa bắt đầu một cuộc tấn công mới, lần này nhắm vào GS TS kiêm nhà giáo ưu tú Trần Đình Sử và học trò của ông, tiến sĩ văn học Trần Ngọc Hiếu. Lần này, thay vì luận văn thạc sĩ, “tang vật” là một luận án tiến sĩ có tên Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại. Và cũng như lần trước, bài viết của Chu Giang, gồm 2 phần, được phổ biến trước tiên trên tuần báo Văn Nghệ Thành phố HCM dưới một tựa đề thiếu lễ độ “Kiểm dịch Trần Đình Sử”.

21 Aug.2015

Phan Khôi và những cuộc tranh

luận về Truyền Kiều những năm

1920 - 1930


* Lại Nguyên Ân


Những năm 1920-1930, trên báo chí ở ba miền Việt Nam đã nổ ra khá nhiều cuộc tranh luận xung quanh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Một số công trình nghiên cứu và tư liệu nhiều năm qua đã đề cập đến những tranh luận ấy. (1) Tuy vậy, một phần do quan điểm nghiên cứu, một phần do những thiếu hụt đáng kể về nguồn tài liệu, không ít dữ kiện đã bị bỏ sót, sự đánh giá không hiếm khi bị thiên lệch.
Một điều dễ thấy nhất là, hầu như chưa công trình nghiên cứu nào ghi nhận đầy đủ vai trò học giả-nhà báo Phan Khôi (1887-1959) trong những cuộc tranh luận ấy.
Người viết những dòng này, từ năm 2000 đến nay đã giành thời gian tìm hiểu và sưu tầm để tái công bố một cách hệ thống các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi, (2) nhận thấy rằng, Phan Khôi đã có vai trò rất đáng kể trong các cuộc tranh luận kể trên.
Dưới đây xin điểm lại những cuộc thảo luận, tranh luận ấy.
Vào năm 1924, Hội Khai trí tiến đức (thành lập 2/5/1919, tên tiếng Pháp:  Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, viết tắt AFIMA, một hiệp hội dân sự, thành viên là những trí thức, quan chức người Việt, và cả một số người Pháp; hội nhằm tới những hoạt động giao lưu văn hóa giữa xu hướng Tây học đang mạnh lên và nền học thuật truyền thống Việt Nam) chủ trương một lễ kỷ niệm tôn vinh thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” rất phổ cập trong cộng đồng người Việt.

26 Jul.2015

Nhà thơ Lý Đợi giật giải GABO

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-07-25
    
         (Bấm, Nghe Mạc Lâm tường trình)    
  
image00348-622.jpg    
Nhà thơ Lý Đợi
            Courtesy photo               
Your browser does not support the audio element. 

Luộc

“Món 1: Luộc
Theo kiểu rau muống luộc của Bắc kỳ
Sống ở Việt Nam ăn món luộc là tốt nhất
Chưa tìm thấy thứ gì mà người Việt không thể luộc…
Vậy nên:
Sống ở Việt Nam ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc xe honda, nhà đất, bằng cấp, chức tước…
Từ luộc vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo hiểm…
Từ luộc trí tuệ, thẩm mĩ, văn hoá, nhân tính…
Từ luộc nhân quyền, tự do, tư tưởng, tâm linh…
Chưa tìm thấy điều gì mà Việt Nam không thể luộc
Vậy nên:
Sống ở Việt Nam ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc cho đến luộc
Người người nghĩ chuyện luộc
Nhà nhà tham gia luộc
Ngành ngành thi đua luộc…
Duy chỉ có lý do tại sao mình bị luộc: là không bị luộc
Vậy nên:
Sống ở Việt Nam luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất…”

Giải thưởng GABO này là một giải thưởng nhỏ và nó là một giải  thưởng mới nữa. Nó chỉ mới thành lập trong năm nay thôi và lần phát giải  thưởng này là lần thứ nhì. Lần thứ nhất giải thưởng được phát cho mùa  Đông và mùa Xuân còn lần này thì giải thưởng cho mùa Hè và mùa Thu. Giải  thưởng này được phát một năm hai lần do một nhóm thầy giáo và sinh viên  của bằng thạc sĩ tác văn MSA ở đại học Antioch tại Los Angeles lập ra.
5 Jul.2015

KHÔNG SỢ THỪA! CHỈ SỢ QUÁ

MUỘN

PHẠM ĐỨC NHÌ

(Trao đổi với nhà văn Lê Xuân Quang về bài thơ Nhớ Rừng)

Kính gửi nhà văn Lê Xuân Quang,
Xin gửi ông bài viết để gọi là trả lời mấy lời bình của ông về bài viết
Hai Cái Bẫy Nguy Hiểm Của Nhớ Rừng.
Mong được ông phổ biến.
Chân thành cảm ơn.
Phạm Đức Nhì

***

  

       Được người bạn cho biết là có “lời bình” liên quan đến bài viết Hai Cái Bẫy Nguy Hiểm Của Nhớ Rừng, tôi, theo lời chỉ dẫn vào trang web của nhà văn Lê Xuân Quang (lexuanquang.org). Ở đây tôi thấy nguyên văn bài viết của mình với một đoạn lời bình của nhà văn LXQ như sau:

LXQ: Cách suy nghĩ phân tích Thơ của ông Phạm Đức Nhì trong cảm thụ Thi ca có những’’phát kiến…mới’’ thiên về thực dụng chỉ nên dành cho nhà khoa học, sinh học, văn sĩ , nhà báo… Theo đó, con Hổ vốn dĩ là kẻ ác, cứ để nó chết trong cũi, cho nó ra là sẽ tiếp tục ăn thịt  kẻ khác và thành’’kẻ độc tài… (toàn trị)’’, gây tai họa cho người …

  Ca dao, Thơ vốn dĩ kiệm lời lại đòi hỏi người thưởng thức phải cảm thụ bằng sự rung động của nhịp tim để kích thích trí tưởng tượng phong phú trong mỗi bộ não. ’’Dù trong dù đục’’ chỉ là ẩn dụ không phải trong đục cụ thể ở nước để…tắm. Con hổ bị giam nhốt chi là vật hình tượng nói về TỰ DO, KHÔNG PHẢI CON HỔ CHÚA SƠN LÂM NGOÀI ĐỜI… Thiết nghĩ’’cảnh báo’’ của nhà phê bình Phạm Đức Nhì trở nên thừa, thậm chí lạc ra ngoài biên của tư tưởng của Thi sĩ trứ danh Thế Lữ khi ông gửi gắm nỗi niềm trong bài thơ NHỚ RỪNG !

Đọc xong đoạn lời bình dẫn nhập của nhà văn LXQ tôi có mấy nhận xét sau đây:

     1/ Ông đăng kèm cả bài viết của tôi với lời bình. Đó là cách đối xử rất công bằng với người được (bị) phê bình. Một số nơi khác có khi người ta chỉ trích dẫn một vài đoạn để phân tích rồi bình phẩm.

     2/ Ông đặt đoạn lời bình ở phía trước nên người đọc đã bị ông “đầu độc” trước khi đọc bài viết của tôi. Đó là thủ thuật hơi “ác” nhưng theo tôi, vẫn chấp nhận được, vì xét về lý, không phạm luật tranh biện.

     3/ Những điểm cần phê bình ông chỉ ra rất cụ thể, rõ ràng, và nhận định của ông thẳng thắn, dứt khoát.

     4/ Lời lẽ, giọng điệu của lời bình rất lịch sự, hòa nhã.

Lời bình của ông có thể tóm tắt thành 3 điểm chính:

     1/ “Dù trong dù đục” chỉ là ẩn dụ, không phải trong đục cụ thể ở nước để … tắm.

     2/Con hổ giam nhốt chỉ là vật hình tượng nói về Tự Do, Không Phải Con Hổ Chúa Sơn Lâm Ngoài Đời.

     3/ Thiết nghĩ “cảnh báo” của nhà phê bình Phạm Đức Nhì trở nên thừa, thậm chí lạc ra ngoài biên của tư tưởng của thi sĩ trứ danh Thế Lữ khi ông gởi gắm nỗi niềm trong bài thơ Nhớ Rừng.

Và bây giờ tôi xin trao đổi với ông Lê Xuân Quang từng điểm một:

     1/ “Dù trong dù đục” chỉ là ẩn dụ, không phải trong đục cụ thể ở nước để … tắm.

Nói nôm na cho dễ hiểu thì ẩn dụ - ở đây là ẩn dụ toàn bài - là “nói cái này mà ngụ ý cái kia”.

     Thí dụ 1:

                    Bầu ơi thương lấy bí cùng

                    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Cái được nói đến (cái này): bầu và bí chung một giàn, nương nhau mà sống.

Cái được ngụ ý (cái kia): người trong một cộng đồng, một nước phải nương nhau, yêu thương nhau để cùng chung sống trong hòa bình,

Phép ẩn dụ ở đây kín kẽ vì:

  • Hiểu theo nghĩa đen (cái này: bầu bí chung một giàn, nương nhau mà sống) cũng đúng, cũng hợp lý.

  • Hiểu theo nghĩa bóng (cái kia: người trong một cộng đồng, một nước phải nương nhau, yêu thương nhau để cùng chung sống trong hòa bình, đùm bọc) cũng hợp tình, hợp lý.

  • Cái này hoàn toàn ăn khớp, tương xứng với cái kia

     Thí dụ 2:

                    Thân em như quả mít trên cây

                    Da nó xù xì múi nó dầy

                    Quân tử có thương thì đóng cọc

                    Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

                    (Quả Mít, Hồ Xuân Hương)

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương kiêm diễn viên xiếc trổ tài đi dây; một sợi dây bên Quả Mít và sợi dây bên kia là cái chuyện “ấy” của trai gái mà bà muốn bóng gió nói đến. Ngoài câu mở đầu có tính chất giới thiệu, 3 câu còn lại đều diễn tả những bộ phận và hành động rất tương xứng của hai bên. Quả mít thì da xù xì, múi dầy; bộ phận quý giá nhất của phụ nữ cũng thế. Với quả mít “quân tử có thương thì đóng cọc”; chuyện “ấy” của trai gái cũng y chang. Quả mít khuyên “xin đừng mân mó nhựa ra tay” thì khi trai gái yêu nhau “nếu mân mó ắt hẳn nhựa cũng sẽ ra tay”, nghĩa là rất tương hợp. Bà Hồ Xuân Hương đã thành công mỹ mãn trong màn xiếc đi dây của mình. Phép ẩn dụ của bài thơ rất tuyệt.

30 Jun.2015
  

HAI CÁI BẪY NGUY HIỂM trong


bài “NHỚ RỪNG”của Thế Lữ

  


PHẠM ĐỨC NHÌ

  

(Nhân đọc mấy bài bình Nhớ Rừng trên vài trang web tiếng Việt)

  

  

LXQ: Cách suy nghĩ phân tích Thơ của ông Phạm Đức Nhì trong cảm thụ Thi ca có những’’phát kiến…mới’’ thiên về thực dụng chỉ nên dành cho nhà khoa học, sinh học, văn sĩ , nhà báo… Theo đó, con Hổ vốn dĩ là kẻ ác, cứ để nó chết trong cũi, cho nó ra là sẽ tiếp tục ăn thịt  kẻ khác và thành’’kẻ độc tài… (toàn trị)’’, gây tai họa cho người …

  

Ca dao, Thơ vốn dĩ kiệm lời lại đòi hỏi người thưởng thức phải cảm thụ bằng sự rung động của nhịp tim để kích thích trí tưởng tượng phong phú trong mỗi bộ não. ’’Dù trong dù đục’’ chỉ là ẩn dụ không phải trong đục cụ thể ở nước để…tắm. Con hổ bị giam nhốt chi là vật hình tượng nói về TỰ DO, KHÔNG PHẢI CON HỔ CHÚA SƠN LÂM NGOÀI ĐỜI… Thiết nghĩ’’cảnh báo’’ của nhà phê bình Phạm Đức Nhì trở nên thừa, thậm chí lạc ra ngoài biên của tư tưởng của Thi sĩ trứ danh Thế Lữ khi ông gửi gắm nỗi niềm trong bài thơ NHỚ RỪNG !

  

***

  

Muốn khuyên người dân xài hàng nội hoá một cô khá đẹp, giữ chức vụ cao trong chính phủ, khi trả lời phỏng vấn đã viện dẫn hai câu ca dao:

  

      “Ta về ta tắm ao ta

  

        Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”

  

Cô này liền bị một đấng mày râu chơi xỏ: “Xin nghiêng mình kính phục cái tinh thần tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ của cô. Chỉ tiếc rằng một người đẹp như cô lại chấp nhận… ở dơ.” (Dù trong dù đục ao nhà vẫn … tắm) Phép ẩn dụ của câu ca dao trên không kín kẽ, không che chắn được hết mọi bề nên nàng yểu điệu thục nữ kia đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt.

24 Jun.2015

" NGỌN  CỎ " của Nguyễn Thị

Hoàng Bắc- một sự  " đổi ngôi",

bật lên những tiếng cười

" NGỌN  CỎ " của Nguyễn Thị Hoàng Bắc - một sự  " đổi ngôi " , bật lên những tiếng cười...

* Phạm Đức Nhì
lnt.com 24.6.15

Trong Thơ Đến Từ Đâu của Nguyễn Đức Tùng, do tên ở vần B, Nguyễn Thị Hoàng Bắc được xuất hiện ngay ở phần đầu cuốn sách. Khi được hỏi “cái gì là quan trọng nhất trong thơ?” Câu trả lời của chị dứt khoát và gây ấn tượng:

“ Sự tự khai….. Lúc nào tôi nói thật, nói thẳng được, nổi điên lên mà nói, nói mặc kệ thiên hạ sự, nói cóc sợ ai, không ‘quan trên ngó xuống người ta trông vào’ thì tôi viết được mấy lời kha khá.”
24 Jun.2015

SO SÁNH CHẤT LƯỢNG HAI BÀI

THƠ - CHẠM (Đậu Thị Thương),

NGỌN CỎ (Nguyễn Thị Hoàng Bắc)


CHẠM

Vùi vào tóc anh
Chạm
rong rêu đại dương , ẩm mục rừng già
ngai ngái phù sa cánh đồng rơm rạ
Chạm sợi đa đoan
nhuộm màu dâu bể
Chạm sợi muộn phiền
ẩn mình lặng lẽ

23 Jun.2015


Chế Lan Viên với ba bài thơ

phê phán sâu sắc

                                                                   PHẠM NGỌC THÁI

           Trong lời giới thiệu tập sách " Chế Lan Viên - Thơ chọn lọc", Nxb Văn  học 2014 - Dương Phong, người tuyển chọn... khi nói về ba bài thơ này đã viết:
-    Ba thi phẩm nổi tiếng công bố muộn mằn của Chế Lan Viên - in trong Di  cảo Chế Lan Viên - chính là:  "Ai ? Tôi!"  -  "Bánh vẽ"  -  "Trừ đi"...  là những sự trở trăn, lật trái lại mặt sau của cuộc đời.
     Thực ra, nếu nói  "Đó là... những sự trở trăn, lật trái lại mặt sau của cuộc đời", là Dương Phong đã lựa lời nói cho nhỏ nhẹ đi, tránh khâu kiểm duyệt, sợ  không cho xuất bản. Theo tôi, xác đáng hơn thì phải nói: Ba thi phẩm đó đã... lật trái lại mặt sau của xã hội và chính trị  - Người đã tự phê phán. Thậm chí tự lên án mình! Cả ba bài thơ đều nằm  trong Di cảo. Khi còn sống Người đã không cho xuất bản, không dám công  bố. Tôi xin phân tích từng bài

      Trong bài "Ai? Tôi!" - Bài thơ viết vào những ngày sau khi nước nhà đã hoàn toàn giải phóng.  Có lẽ một thực trạng xã hội đã tác động vào tâm can, tư tưởng, dầy vò  làm ông đau đớn. Ông chạnh nghĩ về những hy sinh của những người lính  trong cuộc chiến tranh xưa. Những bi thương mà dân tộc đã phải trả giá.  Bắt đầu vào thơ... bằng sự phê phán chính mình, ông chỉ ra:
23 Jun.2015
  

THẾ LỮ : Than ôi – Thời oanh


liệt nay còn đâu ?

  

(Bình luận về bài thơ Nhớ Rừng, nhân đọc bài phê bình của Hoàng Tuấn Công)

  

LÊ XUÂN QUANG

  

Bút Kí Văn Chương

  

(Kỉ niệm 26 năm ngày mất của Thi sĩ Thế Lữ (3.6.1989 – 3.6.2015), 108 năm ngày sinh (6.10.1907 – 6.10.2015)


  

***

  

Trong phong trào Thơ Mới ở những năm 30 của thế kỉ 20 nhằm cách tân nền thi ca Việt Nam, Thi sĩ Thế Lữ là một trong số những người có công lớn. Ông tên thật – Nguyễn Thứ Lễ sinh tại Ấp Thái Hà, Hà Nội. Khi viết văn, ông lấy bút danh Thế Lữ (đọc lái, đảo của hai từ Thứ Lễ – Thế Lữ) mà thành.

  

Trong các truyện Trinh thám, bút danh Lê Ta của ông cũng ghép bởi hai chữ Lê + Ta. Chữ Hán – Ta nghĩa là Ngã (bản Ngã). Lê Ngã = Lễ!

23 Jun.2015

4 NỮ THẠC SĨ VĂN HỌC VÀ

NHỮNG BÀI VĂN MẪU-Kỳ 2

4 nữ Thạc sĩ văn học
và những bài văn mẫu đầy sạn - Kỳ 2

Hoàng Tuấn Công

Trong phần I của bài viết chúng tôi đã chỉ ra những  sai sót nghiêm trọng của Nhóm soạn giả khi biên soạn bài thuyết minh về con trâu và cây lúa. Có bạn đọc sẽ nghĩ rằng: sinh học không phải là địa hạt của các Thạc sĩ văn học, bởi vậy, nhóm soạn giả khó tránh khỏi sai sót, chúng ta nên thông cảm. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Khả năng cảm nhận, phân tích, hành văn của Nhóm soạn giả cũng có nhiều điều đáng nói. Ví dụ bài thơ "Nhớ rừng", đoạn con hổ hồi tưởng về những tháng ngày tự do:

"Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật
-Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!"

Nhóm soạn giả đã phân tích như sau:

“Đó là những ngày mưa dữ dội như "chuyển bốn phương ngàn" làm núi rừng thay da đổi thịt mà con hổ lặng ngắm sự đổi thay của muôn vật trong niềm hân hoan phấn khởi. Đó là những ngày đầy nguy nan khi sống trong rừng bị con người truy sát, con hổ run sợ nép vào nơi bí mật đợi chết với cảm giác mặt trời chói gắt trên cao, thiêu đốt gan ruột mình. Tất cả những cảnh tượng ấy, mỗi cảnh tượng mang một vẻ riêng, có lúc thật rực rỡ huy hoàng, có khi êm đềm lãng mạn, có khi mạnh mẽ, dữ dội và có lúc đầy kinh hãi lo lắng nhưng đã làm nên cái quá khứ tự do huy hoàng oanh liệt của con hổ, là thủa con hổ được tung hoành làm chủ núi rừng trong sự vùng vẫy vô cùng khoáng đạt thênh thang.” (Đề 58-Bài “Nhớ rừng” tr.81-tập II).
Phân trang 9/64 Trang đầu Trang trước 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 Trang sau Trang cuối