Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
27 Sep.2015

Thư giãn cuối tuần:

LỒN VÀ BUỒI TRONG CA DAO,

TỤC NGỮ VIỆT NAM

 

Linh tinh tình ....Phộc! Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Tìm hiểu sự hoạt động của các yếu tố chỉ sinh thực khí trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao và câu đố của người Việt

Đỗ Anh Vũ
(Viện Ngôn ngữ học)
Lời dẫn của Tễu Blog:  Bài viết dưới đây của nhà nghiên cứu trẻ Đỗ Anh Vũ là nội dung trình bày trong buổi thuyết trình “Tìm hiểu sự hoạt động của các yếu tố chỉ sinh thực khí trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao và câu đố của người Việt” đã diễn ra vào chiều thứ bảy 05/09//2015, tại Cà phê Thứ Bảy, 3A, Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

"Những từ chỉ sinh thực khí của tiếng Việt xuất hiện khá nhiều trong lời ăn tiếng nói dân gian, điển hình qua vùng ngữ liệu của thành ngữ tục ngữ và ca dao. Từ trước đến nay trong giới Việt ngữ học, chúng được xếp vào bộ phận những từ ngữ mang sắc thái tục, ít được chú ý nghiên cứu và cũng thường bị người ta ngần ngại khi phải đề cập tới.

Bài thuyết trình, đi vào tìm hiểu sự hoạt động của những yếu tố chỉ sinh thực khí trong nguồn ngữ liệu dân gian là thành ngữ, tục ngữ, ca dao và câu đố của người Việt. Qua gần 10 năm khảo sát, diễn giả đã thống kê được con số 158 đơn vị thành ngữ tục ngữ ca dao và 17 đơn vị câu đố có sự xuất hiện của những yếu tố chỉ sinh thực khí từ các cuốn từ điển, các tài liệu văn hoá và tư liệu điền dã cá nhân. Tác giả cũng chỉ ra các hình thức định danh, những cách sử dụng mang tính biểu trưng, ẩn dụ; và đặc sắc hơn cả là những ẩn tầng văn hoá ẩn chứa qua từng con chữ. Qua khối ngữ liệu này, ta không chỉ bắt gặp những tín ngưỡng / mê tín dân gian, kiến thức dân gian mà còn thấy những tương đồng và khác biệt thú vị khi so sánh với đời sống văn hoá và ngôn ngữ của người phương Tây".
25 Sep.2015

Cần đào thải những giáo sư,

tiến sỹ “nằm vùng”

Posted by adminbasam on 24/09/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

24-9-2015

H1Bài viết dưới đây của Gs Nguyễn Đức Dân (mà ông chỉ gọi là “Nhà giáo”) có thể đụng chạm đến rất nhiều người. Ông kêu gọi phải “đào thải” những người mà ông gọi là “giáo sư, tiến sĩ nằm vùng”, tức là những người có chức danh “giáo sư” do HĐCDNN phong mà không giảng dạy và không làm nghiên cứu. Như hôm trước tôi có đưa con số thống kê là từ 1976 đến nay, VN đã phong chức danh GS/PGS cho khoảng 11000 người; nhưng hiện nay số người giảng dạy và nghiên cứu trong các đại học và viện nghiên cứu chỉ 4100. Như vậy đa số của phần còn lại là “giáo sư nằm vùng”.

Cái khổ là các “giáo sư nằm vùng” chẳng những nhiều mà còn rất có quyền thế. Người có quyền cao nhất và lớn nhất là bác Trọng, và bác ấy là … giáo sư. Bác Thiện Nhân cũng là giáo sư. Bác gì bên quốc phòng là phó giáo sư. Còn hàng trăm, có thể hàng ngàn, quan chức như thế đang là GS/PGS trong các bộ, kể cả Bộ GDĐT. Làm gì với họ bây giờ, nếu theo lời khuyên của Gs Nguyễn Đức Dân? Tôi nghĩ chẳng làm gì cả, họ vẫn là GS/PGS, và không cần phải tái xét duyệt theo chuẩn mới. Chúng ta chỉ cần kiến tạo một cách làm mới và tiêu chuẩn mới cho tốt hơn thôi; những gì của quá khứ thì không sửa được. Những ai từng biết và trải nghiệm hệ thống và cách bổ nhiệm giáo sư ở các nước tiên tiến rất dễ đồng cảm với Gs Nguyễn Đức Dân.

21 Sep.2015

Một Việt Nam khác? Vương

quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17, 18

Hai-Van-Pass

Nguồn:  Li Tana, “An Alternative Vietnam? The Nguyen Kingdom in the 17th and 18th Century”, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 29, No. 1 (Mar., 1998), pp. 111-121.

Biên dịch: Lê Quỳnh

Lời giới thiệu của người dịch: Li Tana sinh năm 1953, tốt nghiệp cao học về lịch sử Việt Nam ở Đại học Bắc Kinh (1983), trình luận án tiến sĩ về lịch sử Đàng Trong thế kỷ 17 và 18 tại Đại học Quốc gia Úc năm 1992. Hiện bà Li Tana công tác ở Trường Nghiên cứu Châu Á và Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Úc. Quyển sách của bà, “Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”, đã được dịch sang tiếng Việt và do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1999.

Bài dưới đây viết về vương quốc của họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18, được biết đến với tên gọi Đàng Trong, hay người Phương Tây gọi là Cochinchina. Chỉ trong vòng 200 năm, nó đã kiểm soát phần diện tích bằng ba phần năm lãnh thổ nước Việt Nam ngày nay. Những trải nghiệm của việc mở rộng biên giới về phía nam này có vẻ như đặt vấn đề về hình ảnh của một Việt Nam rất khác so với vùng lãnh thổ phía bắc khi đó, mở ra cánh cửa đến một thế giới khác, thế giới mà trong đó sự đa dạng được chấp nhận và tận dụng cho sự phát triển của chính Việt Nam.

————-

16 Sep.2015

ĐỌC BÀI THƠ PHƯƠNG XA Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Phê bình, tiểu luận   

Đọc bài thơ''Phương xa'' bằng đôi

mắt bình phẩm nghiêm túc

Tính tính tính tình tang tang tang

Cuộc đời mình như chiếc thuyền nan


Trôi nó trôi bềnh bồng

Ði tới Tô-Ky-Ô
Mình xách tay chiếc dù

14 Sep.2015

Thạch Lam trong mắt Khái Hưng

VƯƠNG TRÍ NHÀN 
vtn blog 6.7.15
 
 Lời dẫn
Trong nhóm Tự Lực, Khái Hưng lớn tuổi nhất (sinh 1896) mà Thạch Lam ít tuổi nhất (sinh 1910). Nhưng hai người gần nhau ở chất nghệ sĩ, cái điều hơi thiếu ở Nhất Linh và Hoàng Đạo (hai người anh của Thạch Lam có vẻ nghiêng về dạng nhà hoạt động xã hội nhiều hơn).

Một vài nhà nghiên cứu gần đây đặc biệt ưu ái Phong Hóa, có lẽ là vì ở đó có chất sắc nhọn của báo chí chính luận nói chung.
Tôi lại thích Ngày nay hơn, đó là tuần báo nghiêng về nghệ thuật văn chương.
Việc làm tờ Ngày nay này có sự  động não hết mình của Thế Lữ; có sự đóng góp của một người sau này sẽ mang tài làm báo cúc cung tận tụy phục vụ nền văn nghệ công nông của ông Tố Hữu – đó là Xuân Diệu.
Nhưng hai nhân vật chèo lái chính ở Ngày nay chính là Khái Hưng và Thạch Lam.
 Từ góc độ của một người làm văn làm báo sau 1945, trong thâm tâm  tôi thường nghĩ tới các bậc đàn anh thời tiền chiến – mà tiêu  biểu là các thành viên Tự Lực - với nhiều sự ngưỡng mộ.
Ngưỡng mộ về văn tài của họ, trước hết cố nhiên là cái đó rồi, ở đây chỉ nói thêm là trong tài năng của họ có hiểu biết sâu sắc về nghề nghiệp là những điều mà các nhà văn sau 1945 đặc biệt khiếm khuyết. Chúng ta thường chỉ là những cây dại trong khi họ là những giống cây bắt rễ sâu vào quá khứ văn hóa; tuy là những nhà văn theo quan niệm của phương Tây nhưng cốt cách văn hóa khiến họ rất gần với những Nguyễn Du Nguyễn Gia Thiều Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát trong  văn học cổ.  
12 Sep.2015

Đời sống ra sao thì văn chương

như vậy


VƯƠNG TRÍ NHÀN
FB Vương Trí Nhàn
Gần mười năm trước, bạn Yên Ba lúc đó đang làm báo, từng có một cuộc trao đổi  với tôi về một số  vấn đề văn học và đời sống. Bài  viết sau đó không được sử dụng, và với tư cách tác giả tôi còn lưu lại trong máy. Nay xem lại thấy một số vấn đề còn hợp thời, vậy xin giới thiệu lại với bạn đọc.  Chỉ có một điều tiếc không làm được là lúc này  tôi không có điều kiện tìm thêm các chi tiết  minh họa có ý nghĩa cập nhật.

HỖN LOẠN BÊN NGOÀI, TẺ NHẠT BÊN TRONG
Yên Ba: Có lần ở đâu đó, anh đã nói về sự tẻ nhạt trong đời sống văn học. Vậy theo anh, cho đến bây giờ, cái sự tẻ nhạt ấy có còn không và tại sao?
Vương Trí Nhàn: Theo tôi, chúng ta đang sống trong cái-thời-văn-học mà có khi  hàng năm trôi qua cũng không thấy có gì thay đổi lắm, không có sự kiện gì đáng kể.
Thỉnh thoảng tôi vẫn  mang một số bài cũ của mình in lại, bởi tin rằng nhận xét của mình về tình hình chung vẫn  đúng.
Cái cảm giác về sự tẻ nhạt vẫn còn, nó là cái có thực và chưa biết bao giờ mới gạt bỏ được.Tôi nghĩ rằng cái đáng lo của đời sống sáng tác nói chung và phê bình nói riêng, là nó cứ đều đều, làng nhàng; giở một tờ báo ra, đọc vài dòng thấy chán, lại bỏ xuống. Lâu lâu, có ai bảo báo đó có một hai bài đọc được, lại mới  đi tìm. Lại chán , lại bỏ, vòng quay tiếp tục.  
Đọc lại báo chí cũ, khoảng 50 năm đầu của thế kỷ trước, thấy người đương thời làm được nhiều lắm.  Cũng giống như tôi nghe nói, trước 75 Sài Gòn đã  hơn Thái Lan, còn bây giờ thì chưa biết bao giờ ta có thể đuổi kịp cái đất nước láng giềng gần gũi ấy.
10 Sep.2015

 MỘT BÀI THƠ ĐẶC SẮC VỀ

ĐÀN BÀ CỦA PHẠM NGỌC THÁI

Nguyễn Thị Xuân
 NGƯỜI ĐÀN BÀ CHỨA LINH HỒN THÁNH LINH

Người đàn bà anh mãi mãi không quên
Nàng đã lẫn vào trong cát bụi...
Sống nổi trôi hay đang những ngày cảm khoái
Có bồi hồi nhớ lại quãng tình qua?

Anh đã yêu từ ánh mắt như sao sa
Cả vòm ngực tiên trắng mềm, nóng hổi
Em mở rộng động trinh,
                để anh vào tận sâu trong hứng khởi
Lúc sướng vui em đã uốn mình.

Ôi, tạo hoá sinh ra cái của em
                     để gieo hoa cho thế thái nhân tình
Vĩ đại và vô biên...
Anh trải thơ lên đời viết về tình yêu - cuộc sống
Trái tim em chứa linh hồn thánh linh.

31 Aug.2015

Từ lưu manh trong đời sống tới

lưu manh trong cai trị

VƯƠNG TRÍ NHÀN
FB vương trí nhàn

Phần thứ nhất trong bài viết dưới đây vốn  đưa trên blog này ngày 1-1-2012 và đưa lại trên FB của tôi ngày 18-7-2015. Riêng phần thứ hai mới được bổ sung.Sự phổ biến của hiện tượng lưu manh, tâm lý lưu manh, cách sống lưu manh                                

Trong bài Đường đi và người đi -- Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết :
“ Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.

Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ lưu manh.
Chữ manh ở đây không phải người mù.
Trong chữ Hán cũng có một chữ manh viết bằng cách kết hợp chữ vong với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là mắt không có con ngươi, tối tăm.
Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ vong như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ manh nói về sau này thời cổ là chỉ chung là dân. Trong Bình Ngô đại cáo có câu:
Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập
Đào Duy Anh dịch là - Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp
Là dùng chữ manh ấy.
26 Aug.2015

NHÃ THUYÊN – Quần thoa tiền

phong thay cho đám mày râu

rúc rích thơ

      

Nguyễn Hoàng Đức

1

Không có kẻ tiền phong không thể có miền đất mới. Khi có miền đất mới như châu Mỹ chẳng hạn, mọi giá trị của châu Âu mới được xới tung gieo hạt làm tinh khôi và tươi tắn tràn trề trong sinh khí mới. Vừa qua, nước ao tù buồn ngủ của văn học mậu dịch Việt Nam vẫn cũ như tem phiếu khi để ruồi đậu mép xếp hàng mua vài cân cá ôi, thịt thối đã sôi sùng sục và dư chấn ào ào như đám chợ búa vỉa hè. Vỉa hè ở đây không mang nghĩa dè bỉu mà là một hiện thực sống động nhảy nhót bươn chải tươi tắn của cuộc mưu sinh hơn hẳn cái thứ văn học cán bộ văn phòng lờ đờ xếp ghế và khoe con dấu. Cơn dư chấn đó dậy sóng phía sau của một chiếc xuồng vẫn còn phấp phới  váy quần thoa, có cái tên đệm chữ “Thị”, mà là hai chữ “Thị” cơ chứ. Mở đầu là Đỗ Thị Thoan với luận văn 

25 Aug.2015

Một vài cảm nhận  khi đọc ''Chăn


Trâu Đốt Lửa'' của Đồng Đức Bốn

Phận Đức Nhì

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

Đồng Đức Bốn

***

             Bài thơ ngắn nhưng tứ thơ rất hay: mê thả diều để củ khoai nướng, có thể là bữa ăn đạm bạc của trẻ chăn trâu, cháy thành tro. Ngụ ý của tác giả là: nhiều khi chạy theo những cái viển vông, bay cao tít trên trời mà quên đi những thứ thiết thực, gắn bó với cuộc sống, ngay trên mặt đất. Nhưng cũng chẳng có gì nuối tiếc vì những thứ viển vông, cao tít đó chính là thức ăn cho tinh thần, cho phần hồn của con người; đó chính là niềm vui, hạnh phúc mà vật chất không thể tạo ra được. Tứ thơ đã hay mà phếp ẩn dụ cũng rất dễ cảm, dễ thương, chứng tỏ tác giả có cái nhìn về cuộc sống rất phóng khoáng nhưng không kém phần sâu sắc. Tôi thích bài thơ một phần vì tác giả đã chọn được tứ thơ bình dị mà lại độc đáo, phần khác là vì có dính dáng đến chút riêng tư. Số là cũng như thi sĩ Đồng Đức Bốn, tôi rất thích và cũng võ vẽ làm thơ – cái thú tiêu khiển mà vợ tôi cho là “trò chơi vô bổ.” Bà ấy còn mạnh miệng nói: “Nhà thơ như ông lúc nào hồn cũng vơ vẩn trên mây; thỉnh thoảng cũng nên hạ chân xuống mặt đất để phụ giúp tôi kiếm thêm đồng tiền, bát gạo cho gia đình chứ.” Tôi nhìn quanh thì quả thật đại đa số thi sĩ Việt Nam làm thơ là vì cái “nghiệp,” cái thú, cái đam mê của họ chứ ít ai có thể dựa vào mấy câu thơ để tự nuôi sống mình chứ đừng nói gì đến nuôi vợ nuôi con (ngoại trừ một số “nhà thơ cung đình” làm thơ phục vụ chế độ, và dĩ nhiên, một vài thi sĩ thiên tài.) Nhưng cái thú, cái nỗi đam mê ấy cứ đẩy tôi vào vòng tay của nàng thơ. Mỗi tuần, mỗi ngày, sau thời gian trả nợ quỷ thần cho miếng cơm manh áo, hồn tôi lại theo tiếng gọi của thơ bay lên chín tầng mây. Mặc kệ cuộc đời. Mặc kệ mụ vợ sống thực tế, chân lúc nào cũng chạm đất. Tôi bay lên cao ôm lấy nàng thơ, ôm lấy hạnh phúc đích thực của mình. Nếu thi sĩ Đồng Đức Bốn còn sống, hy vọng ông sẽ không phản đối những lời bình này.

Sau đây là một chút khuyết điểm của bài thơ.

Phân trang 8/64 Trang đầu Trang trước 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trang sau Trang cuối