Tác giả/Tác phẩm
Tìm kiếm
Quick Login
Lịch
Thống kê
31 Aug.2016

 MỘT CÁCH NHÌN KHÁC  VỀ VAI TRÒ

CỦA VẦN TRONG THƠ 

Lan Man Về Cái Tôi
Để có thể hội nhập và thích ứng với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng mỗi con người đương đại phải tuân thủ rất nhiều nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong xã hội. Xã hội càng văn minh số lượng nguyên tắc càng nhiều. Sau khi vào đời một thời gian (dài ngắn tùy hoàn cảnh riêng) trong mỗi thân xác con người có 2 cái tôi cùng chung sống nhưng luôn đấu đá lẫn nhau để đòi quyền làm chủ thân xác đó: cái tôi đích thực và cái tôi hội nhập với cuộc đời – tôi tạm gọi là “cái tôi văn hóa”. Tuổi đời càng cao cái tôi văn hóa càng mạnh, càng rõ nét và cái tôi đích thực càng yếu kém, mờ nhạt. Đến một lúc nào đó cái tôi văn hóa sẽ “đè bẹp” cái tôi đích thực để độc quyền chiếm hữu cái thân xác kia. Lúc ấy, nói như Jean Paul Sartre (1) thì con người là một “kẻ vong thân” (đánh mất chính mình). Còn nói như Albert Camus (1) thì con người đích thực đã bất lực - để một “kẻ xa lạ” đến chiếm hữu thân xác mình.
Hai Trường Hợp “Đánh Mất Cái Tôi”
     1/ Tại các nước dân chủ tự do: Con người dạy bảo nhau tạo phong cách lịch thiệp trong giao tiếp, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh để hội nhập vào dòng phát triển của nhân loại. Lâu dần cái tôi văn hóa sẽ che khuất cái tôi đích thực. Con người chỉ còn là một “cỗ máy” do lý trí điều khiển. Mọi suy nghĩ, hành động đều là phản ứng (có điều kiện) của “cỗ máy” trước hoàn cảnh xã hội. Đây là nỗi băn khoăn, lo ngại của các triết gia phương tây về thân phận con người.
     2/ Tại các nước độc tài chuyên chế: Cái tôi đích thực bị một cổ 2 tròng, vừa bị “cái tôi văn hóa” chèn ép, vừa bị nỗi sợ cường quyền ám ảnh nên nhiều lúc phải hóa trang thành một cái tôi khác mà tôi xin phép gọi là “cái tôi teo chim”. (Tôi hoàn toàn không có ý “xách mé” gì những người làm công tác văn học ở trong nước mà chỉ muốn nhắc tới một thực tế không được vui về hoàn cảnh của nhà văn, nhà thơ Việt Nam trong đó có nhiều người tôi rất kính trọng và quý mến).
Giữa cái tôi văn hóa và cái tôi teo chim thì cái tôi teo chim mạnh hơn, có uy thế hơn nhiều. Nghĩ đến chết chóc, tù đày, gia đình bị tước đoạt mọi phương tiện, nguồn sống, ngòi bút của thi sĩ đôi lúc phải cong lại hoặc vừa viết lại vừa phải “lách”. Trong các tác phẩm của Nguyễn Khải cái tôi teo chim đã che khuất cái tôi văn hóa nên ông nhà văn của chúng ta vào cuối đời đã phải la toáng lên “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất” và phải chờ đến đúng ngày sau khi xác thân mình đã nằm dưới huyệt vợ con mới được chuyển cái thông điệp thương tâm ấy đến mọi người. Thông điệp trong Bánh Vẽ của Chế Lan Viên mạnh hơn, triệt để hơn, nên thời gian chờ đợi lâu hơn - chết rồi cũng chưa yên tâm - phải sau mấy lần “giỗ” mới được xì ra ngoài. Nói như nhà thơ Nguyễn Khôi là “kiểu để hạ cánh an toàn một cách chắc chắn đã”.
31 Aug.2016

THI NHÂN VIỆT Ở ĐỨC NHƯ TÔI

BIẾT (Phần1)

Sự cố Câu lạc bộ Thơ Berlin và thi tập Thơ Người Việt Ở Đức với những mâu thuẫn tưởng chừng con người cũng như thi ca đi vào tận cùng của bế tắc. Thì thật may mắn thay, dòng thơ non trẻ ấy chợt vuột về leipzig, rồi rót thẳng về chiếc rốn miền Trung Chemnitz. Với sự tích tụ, trầm lắng đó, để rồi nó tự phình và tách ra như những nhánh sông tìm về chốn cũ. Nếu Berlin là nơi khởi nguồn, Leipzig điểm dừng chân, thì Chemnitz là nơi hun dưỡng hồn thơ Việt. Dù có lúc sôi động, hay trầm lắng, nhưng có thể thấy, nó mới chỉ dừng lại phần lớn những hồn thơ là những cựu du học sinh, lao động và một số tị nạn cũng như đoàn tụ, sống, làm việc ở miền Đông nước Đức.

Tuy là nơi khởi nguồn, và được cho là nơi tập chung nhiều tài tử văn nhân, nhưng có lẽ, do tài năng, nhân cách cũng như bị áp lực bởi những cái bóng vô hình nên Berlin đang (rất) thiếu vắng những cây viết đích thực. Chính những nguyên nhân này, đã đưa đến những thăng trầm, mâu thuẫn chưa thể đi đến hồi kết, không chỉ trong lãnh vực thơ văn, như thời gian qua…

16 Aug.2016
SO SÁNH BA BÀI THƠ PHẢN KHÁNG

PHẠM ĐỨC NHÌ
(Bài viết này có nhắc lại một vài ý trong ba bài bình thơ)
Blog Phạm Đức Nhì

KHÚC NHẠC DẠO ĐẦU

Đởm Lược Của Thi Sĩ  
     1/ Đỗ Trung Quân:

Nhiều người yêu thơ tỏ vẻ tiếc và có ý trách ĐTQ “quá cẩn thận”, đã nhét Tạ Lỗi Trường Sơn  vào “hộc tủ” quá lâu nên khi xuất hiện không còn nóng hổi tính thời sự. Tôi hoàn toàn không đồng ý với kiểu trách móc đó. Năm 1983 tôi đã ở chung trại (cải tạo) với một thầy giáo trở thành tù chính trị - bị kết án 18 năm tù vì đã sáng tác một bài thơ chỉ hơi “đụng chạm” đến chế độ. Trong không khí chính trị như thế nếu ĐTQ phổ biến bài thơ thì hậu quả sẽ khó lường. Với tôi, ĐTQ là dân miền nam (Sài Gòn) mà dám viết bài thơ với nội dung “vượt lằn ranh” và với giọng điệu “chửi thẳng mặt” “những người nhân danh Hà Nội” thì đã là có chút máu liều. Thế rồi lại dám phổ biến bài thơ đó ở Việt Nam năm 2009 – lúc mình còn đang sống nhăn – thì trong người anh chắc chắn máu cũng phải có thêm ít nhiều “chất” dũng cảm. So với Chế Lan Viên thì lá gan của anh chắc phải nặng hơn vài chục gram.
31 Jul.2016
PHÊ BÌNH SINH THÁI TINH THẦN

TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

HIỆN NAY
Trần Đình Sử

Phê bình văn học sinh thái ra đời từ gợi ý của sinh thái học, khoa  nghiên cứu mối quan hệ tương sinh, tương tác  giữa các sinh thể cùng mối  quan hệ của chúng với môi trường vật chất xung quanh.  Song phê bình  sinh thái thịnh hành ở nhiều nước phương Tây hiện nay tập trung vào vấn  đề dùng tư tưởng sinh thái để đánh giá văn học trong việc biểu hiện vấn  đề sinh thái, khẳng định vài trò của tự nhiên, xét lại quan điểm con  người là trung tâm từ thời Khai sáng. Trong bài này chúng tôi vận dụng  tư tưởng sinh thái để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trường văn  hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, không tập trung vào quan  hệ con người và tự nhiên, mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như là  môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường văn hóa tinh  thần với sáng tạo văn nghệ. Trong các công trình nghiên cứu văn học  trước đây chúng ta tập trung nghiên cứu mối quan hệ văn học với hiện  thực, với các chức năng xã hội của văn học như nhận thức, giáo dục,  tuyên truyền, thẩm mĩ trong ý thức văn học phục vụ chính trị chủ yếu là  xét theo nguyên tắc ý chí, nhân tạo, chưa xét theo sinh thái của sản  xuất tinh thần. Mối quan hệ sinh thái tự nhiên giữa văn hóa tinh thần  với văn nghệ ở đây chưa được đặt ra.
29 Jul.2016
Phê bình sinh thái - khuynh

hướng nghiên cứu văn học

mang tính cách tân
10:22 | 26/11/2012

ĐỖ VĂN HIỂU

Tóm tắt
Trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 Phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên.

Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân                    


Với tư tưởng nòng cốt mới, nguyên tắc mỹ học riêng và đối tượng nghiên cứu riêng, Phê bình sinh thái thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới mẻ, thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng gắn văn chương với vấn đề nhức nhối của toàn cầu.

Dẫn luận

Manh nha vào những năm 70 của thế kỷ 20, đến giữa thập niên 90, Phê bình sinh thái đã thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mĩ và lan ra nhiều nước khác trên thế giới. Ở Việt Nam, một điều lạ lùng là sau đổi mới, giới nghiên cứu văn học khá cởi mở trong việc tiếp thu, giới thiệu các lí thuyết văn học phương Tây hiện đương đại, nhưng lại rất thận trọng đối với Phê bình sinh thái. Ngay cả các lí thuyết mới mẻ như Chủ nghĩa lịch sử mới, Chủ nghĩa duy vật văn hóa hay lí thuyết tương đối nhạy cảm như Diễn ngôn quyền lực của Foucault cũng đã được nhắc đến ở Việt Nam, nhưng riêng Phê bình sinh thái lại vắng bóng. Dẫn đến hiện tượng trên, có lẽ, một phần rất lớn bắt nguồn từ chính sự mới mẻ một cách đặc thù của khuynh hướng nghiên cứu này. Thông thường, cách tân rất dễ thu hút sự chú ý, nhưng sự cách tân của Phê bình sinh thái lại có những đặc điểm riêng khiến cho sự phát triển, mở rộng nó gặp không ít trở ngại.

18 Jul.2016

Con người Thạch Lam Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Phê bình, tiểu luận   
Con người Thạch Lam

VƯƠNG TRÍ NHÀN

vtn blog 16.7.16
Bài này lúc đầu ở dạng tài liệu và lẽ ra phải  có tiêu đề Một ít tài liệu  về Thạch Lam (2) tiếp theo phần (1) đã đưa ngày 6-7-2016.
Nhưng trong quá trình làm việc,  tôi thấy như thế không đủ; phải thêm vào các tài liệu “mộc” một ít suy nghĩ của mình. Những bài tôi viết về trước là nghiêng về tác phẩm nhà văn(xem Phụ lục). Nay muốn đưa ra cách  hình dung ra con người Thạch Lam, tạm ghép lại như sau.  
TỪ LỜI KỂ CỦA NGUYỄN ĐÌNH NGHI
Những  nét vẽ phác đầu tiên về Thạch Lam, với tôi, đến từ đạo diễn sân khấu, con trai Thế Lữ:
-
Thạch Lam lạ lắm, người to, khoẻ, khoẻ như Tây đen. Hồi ấy có cuộc thi đấu xảo (hội chợ triển lãm), ông Thạch Lam bóp còn hơn Tây cơ mà.
Nhưng đây là người rất là tinh tế và có một đời sống nội tâm sâu sắc.
Hàng ngày, ông đến làm việc ở toà soạn, thường là đi bộ hay xe tay. Mặc dù anh em có người như Hoàng Đạo nhà rất giàu -- Hoàng Đạo lấy vợ con quan, Thạch Lam vẫn chẳng chịu đến nhờ vả xin xỏ.
Sức kiềm chế của Thạch Lam có lẽ là thật lớn. Ông uống rượu khoẻ, càng uống, mặt càng nhợt đi, và khi say rồi, thì nằm gục xuống, chứ không nói nhảm.
Trong đời sống hàng ngày, Thạch Lam rất... coi thường phụ nữ. Hình như ông thấy họ không ra sao. Chỉ có thương hại, chứ không phải quí.
Chỉ có một người phụ nữ làm thay đổi ý nghĩ đó của Thạch Lam, đó là bà Lê Đình Quỳ.
Không rõ đầu đuôi thế nào, nhưng Thạch Lam lấy một người vợ là cô đầu. Ông cũng hút thuốc phiện nữa. Và bị lao nên chết sớm.
Trong trí nhớ của một người như Thế Lữ, Thạch Lam là một nhà văn rất chịu đọc. Ông thường viết những bài nhỏ ở báo, ký tên T.L, đôi khi chỉ là lối Qua báo chí nước ngoài mà sau này người ta sẽ tiếp tục.
Bố tôi (Thế Lữ) quý Thạch Lam lắm. Có lần lâu ngày mới gặp nhau, bố tôi đưa tay ra ôm, rồi vuốt má Thạch Lam cơ mà.


NHỮNG MÂU THUẪN  GIỮA NỘI TÂM VÀ BỀ NGOÀI Ở THẠCH LAM
QUA BÀI VIẾT CỦA ĐỖ ĐỨC THU
Đỗ Đức Thu  từng có tác phẩm đầu tay  được giải thưởng khuyến khích của Tự Lực văn đoàn. Có tài liệu còn nói về sau ông gia nhập văn đoàn này viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo Ngày Nay.
Mối quan hệ Thạch Lam với chung quanh do Đỗ Đức Thu phác họa (http://www.vannghesi.net/Articles/Mat%20Trai/Nha%20Van%20Thach%20Lam.html) gồm hai mặt.  Bề ngoài tác giả Gió đầu mùa như có cái vẻ thu mình lại, ngay trong giới làm văn làm báo của mình ông cũng đơn độc và  Đỗ Đức Thu đã dùng tới một chữ mà ngày nay ít dùng – quả giao; thành ngữ Hán Việt có câu cô độc cô quả là với nghĩa này.

17 Jul.2016

TÂM TÌNH HOÀI CỔ Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Phê bình, tiểu luận   

TÂM TÌNH HOÀI CỔ: THƠ - LỜI BÌNH


VÀ TRANH LUẬN

Bài 1: ĐỌC THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ NGHĨ ĐẾN VỊ TRÍ CỦA

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.

            (Bà Huyện Thanh Quan)

Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, “Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long và chọn Huế làm kinh đô. Thăng Long mất địa vị đầu não của đất nước về chính trị và văn hóa. Bài thơ được viết sau thời kỳ này. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Tác giả tả cảnh mà ngụ tình. Cảnh thì tang thương, tình thì hoài cổ.”

Giáo sư Phạm Thế Ngũ cho rằng “Bài thơ nói lên nỗi đoạn trường của tác giả trước cảnh hoang tàn của cố đô đất Bắc.”

Về giá trị nghệ thuật, ông nhận định: “Nhìn chung, thơ Bà Huyện Thanh Quan đều có vô số những cái hay: chữ dùng khéo, chọn lọc, thích đáng, đối rất chỉnh, rất thần tình, ý hàm súc, lời trau chuốt, gọn, đẹp. Riêng bài thơ Thăng Long Thành Hoài Cổ cổ kính mà thanh thoát nhẹ nhàng, ước lệ mà có hồn, có cảm. Sự phối hợp của ý tưởng với thanh âm đã gây nên một thi điệu tự nhiên, uyển chuyển, hấp dẫn, khác xa những dòng chữ chắp nối công phu mà vẫn lủng củng, không hồn của đa số các bài thơ tiền Nguyễn.” (Wikipedia Tiếng Việt)

11 Jul.2016
HAI TRƯỜNG HỢP ''NÂNG BI'' CỦA


 NHÀ VĂN

 

Nâng Bi Vì … Sợ

 

Trong hôm ra mắt ban chấp hành mới, bế mạc đại hội (HNV lần thứ 3, 1983) (1), trước màn ảnh nhỏ, khán giả cả nước được nghe Nguyễn Đình Thi tuyên bố: “Chúng ta là những nhà văn, nhưng là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”.

Câu nói của ông Thi đã được bà con ta ghi nhớ. Nhiều nhà văn phẫn nộ. Họ cảm thấy nhục nhã vì người đứng đầu tổ chức của họ đã công khai hạ thấp nhân phẩm của “Những Kỹ Sư Tâm Hồn Việt Nam”…

 

Một anh bạn tôi (theo lời kể của Bùi Minh Quốc) bên ngành giáo dục, gần chợ Bắc Qua kể với tôi rằng, có một cô gái buôn gà ghé sang nhà anh xem nhờ TiVi (buổi) tường thuật lễ bế mạc Đại Hội Nhà Văn. Khi xem xong đoạn ông Nguyễn Đình Thi hùng hồn tuyên bố câu ấy cô gái hồn nhiên bật ra một lời bình phẩm:

  • Gớm, cậu đéo lào (nào) mà lịnh (nịnh) thế?

Nguyễn Đình Thi và một số nhà văn Việt Nam sống trong môi trường “lấp lánh ánh sáng của Đảng” đã thường hành sự như thế đó. (2)

 

Nâng Bi Vì … Thích Nâng Bi

 

Trong bài Tôi Đọc “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” Của Du Tử Lê, Và… (3) ở phần lời phi lộ ông Tàn Chiến Cuộc viết: Viết tặng Nhà Thơ Du Tử Lê. Chỉ mình ông đọc, tôi cũng đủ thấy vui rồi.

 

Nếu đây là thư riêng của ông TCC gởi cho DTL thì dù có “nâng”, có “bốc” đến đâu đi nữa cũng là chuyện của hai người với nhau, chẳng ai muốn – mà muốn cũng không có quyền - xía vào. Đàng này nó lại là lời phi lộ - xuất hiện một cách trang trọng dưới cái tựa của một bài bình thơ – nên tôi mới ngứa mắt, ngứa tay viết mấy lời bình phẩm.

10 Jul.2016
HUY CẬN –

LỬA VẪN CÒN THIÊNG


CÙ Huy Cận lửa thiêng đâu
HUY hoàng xưa mộng lá sầu tử tôn
HÀ hơi thế sự vô hồn
VŨ đài ngất ngất biển cồn tang thương

Từ độ Nguyễn Du lục bát hóa đời Kiều để ngự trên ngôi báu thi ca, chừng như long mạch thơ nước Việt đã mấy lần rót về Hà Tĩnh, khơi nguồn cho những dòng thơ lớn khác xuất hiện: Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu và Huy Cận. Sau tám năm từ độ ra đời, Thơ Mới (1932-1945) đang cuồn cuộn chảy như một dòng sông lắm ghềnh nhiều thác, lúc ẩn, lúc hiện, chợt bùng lên rồi lắng lại sững sờ, như ngẩn ngơ, như luyến tiếc cội nguồn?

Kể cũng lạ, khi dòng Thơ Mới cuộn chảy, gầm reo tới cao trào với Xuân Diệu thì cũng là lúc nó chợt phình ra giống một cái hồ cho mưa nguồn chớp bể trong hồn sông nước được nghỉ ngơi, trầm lắng, ưu tư mà hoài cổ. Khúc sông giống hồ nước của dòng Thơ Mới ấy chính là Huy Cận với tập “Lửa Thiêng ” gồm 50 bài thơ ra mắt năm 1940.

Nếu không có khúc sông hóa hồ nước Huy Cận giúp Thơ Mới có cơ hội lắng xuống, thảnh thơi và điềm tĩnh, chùng chình và mênh mông lại, biết đâu nó đã chẳng chảy tuột vào bề thẳm Tây phương?
29 Jun.2016

LỜI BÌNH NGẮN TẬP 3 - Không rõ

Tác giả: Admin   Phân loại:Phê bình, tiểu luận   

LỜI  BÌNH NGẮN TẬP 3 -

Phạm Đức Nhì 
          
                      Tác giả Phạm Đức  Nhì


LỜI BÌNH NGẮN TẬP 3  

Lời  Nói Đầu
1/  Hồn Thơ Và Cảm Xúc
2/  Bài Thơ Tuyên Ngôn Độc Lập 
3/  Câu Chuyện Thưởng Thức Thơ Của Bác Nguyễn Bàng
4/  Chọn Thể Thơ
5/ Về  Cái Tựa Niềm Tin 
6/  Tiến Trình Nâng Cấp Trình Độ Thưởng Thức Thơ
7/ Và  Bởi Vì Âm Hộ Nàng Trong Suốt
8/  Đoạn Kết Bài Thơ Niềm Tin
9/ Về  Cái Tựa Bài Học Đầu Cho Con
10/  Chân Thật Trong Thơ

Lời  Nói Đầu

Đây  là những Lời Bình Ngắn, đứng riêng rẽ, nhắm vào một câu, một đoạn, một ý  thơ riêng biệt. Đôi khi cũng bàn đến một điểm nhỏ (rất nhỏ) liên quan đến Thơ  nói chung. Lời Bình Ngắn cũng có khi được trích từ một bài bình thơ hoặc một bài  tiểu luận bàn về Lý Thuyết Thơ. Mục đích của việc “cắt nhỏ” như vậy là để “vừa  miếng” cho những người mới làm quen với thơ, đang bước đầu tìm hiểu cách thưởng  thức một bài thơ, đang tìm cách trả lời câu hỏi “Thế nào là một câu, một đoạn,  một bài thơ hay?” Và “Thế nào là một câu, một đoạn, một bài thơ dở?” Một đôi khi  cũng có Lời Bình Ngắn hơi “dài”. Lý do: người viết muốn bàn sâu về một điểm đặc  biệt nào đó của lý thuyết thơ hay một tiêu chí quan trọng để thẩm định giá trị  nghệ thuật của bài thơ.
Phân trang 3/64 Trang đầu Trang trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang sau Trang cuối